BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 28/4 ĐẾN 3/5, 2008

 

 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT TUỆ SIÊU//ĐĐ PHÁP ĐĂNG//NI SƯ LIỄU PHÁP

 

Thứ Hai: ĐĐ :  "SỰ CÓ MẶT CỦA NGĂ"(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền  
"CHỖ TẬN CÙNG THẾ GIỚI" . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư::Ni Sư Liễu Pháp
   
"SỰ HIỆN HỮU CỦA THỨC " (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu"
BIỂN"(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ Pháp Đăng  :
"TẤT CẢ". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Bảy:ĐĐ Pháp Tân ...
"
THÂU NHIẾP (I)" (Toát Yếu: Như Quang)

 

 

 

Sáu bài tiếp theo trong chương Đạo Lộ. 8. Sự có mặt của ngă. 9. Chỗ tận cùng thế giới. 10. Sự hiện hữu của thức (I) 11. Biển. 12. Tất cả. 13. Thâu nhiếp (I)

 

Thứ Hai 28 tháng 04, 2008

SỰ CÓ MẶT CỦA NGĂ

 

(Bản Anh ngữ: The Self, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv.400), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-44.htm)

Kinh Tương Ưng, Chương X Tương Ưng Không Thuyết, câu số X. Ananda (hay Sự có mặt của ngă, S.iv. 400)

 

Rồi du sĩ Vacchagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Thế Tôn:

 

-- Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngă không?

 

Khi được hỏi vậy, Thế Tôn im lặng.

 

-- Thưa Tôn giả Gotama, có tự ngă không?

 

Lần thứ hai, Tôn giả Gotama giữ im lặng.

 

Rồi du sĩ Vacchagotta từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

 

Rồi Tôn giả Ananda, sau khi du sĩ Vacchagotta ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:

 

-- Bạch Thế Tôn, v́ sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi của du sĩ Vacchagotta?

 

-- Này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngă không?", và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngă", như vậy, này Ananda, thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp thường kiến.

 

Và này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngă?"Và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngă", như vậy, này Ananda, là thuộc về phái các Sa-môn, Bà-la-môn chấp đoạn kiến.

 

Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có tự ngă không?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Có tự ngă", như vậy, câu trả lời của Ta có phù hợp với trí khởi lên rằng: "Tất cả các pháp là vô ngă"?

 

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

Lại nữa, này Ananda, nếu được hỏi: "Có phải không có tự ngă?" và Ta trả lời cho du sĩ Vacchagotta là: "Không có tự ngă", như vậy, này Ananda, lại làm cho du sĩ Vacchagotta càng ngơ ngác bối rối hơn nữa: "Trước đây ta có tự ngă, nay không có tự ngă nữa".

 

 

 Thứ Ba, 29 tháng 04, 2008

CHỖ TẬN CÙNG THẾ GIỚI

 

(Bản Anh ngữ: This Little Body Holdeth All, trích từ Some Sayings of the Buddha (Ang. Nik. ii. 46), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi04-0406.htm)

Chương IV - Bốn Pháp, V. Phẩm Rohitassa, (V) (45) Rohitassa (1)

 

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Rohitassa sau khi đêm gần măn, với dung sắc thù thắng chiếu sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:

 

- Tại chỗ nào, bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?

 

- Này Hiền giả, tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới.

 

2. - Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật là khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: "Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới". Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con là vị ẩn sĩ tên là Rohitassa, con của Bhoja, có thần thông, đi được trên hư không. Tốc độ của con là như thế này, bạch Thế Tôn; ví dụ như một người bắn cung kiên cường, có huấn luyện, khéo tay, thuần thục, với một mũi tên nhẹ có thể dễ dàng bắn xuyên qua bóng một cây ta-la. Bước chân của con là như vậy, như từ khoảng cách từ biển Đông qua biển Tây. Với con, bạch Thế Tôn, thành tựu được với tốc độ như vậy, với bước chân như vậy, con khởi lên ư muốn như sau: "Với bước chân đi, ta sẽ đạt đến chỗ tận cùng của thế giới". Bạch Thế Tôn, trừ khi ăn uống nhai nếm, trừ khi đi đại tiện, tiểu tiện, trừ khi ngủ để lấy lại sức, dầu thọ đến 100 tuổi, dầu đă sống một trăm tuổi, dầu đi đến 100 năm, cũng không có thể đạt được tận cùng của thế giới, nhưng giữa đường con đă chết. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn; thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn; thật là khéo nói, bạch Thế Tôn, lời nói này của Thế Tôn: "Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), Ta tuyên bố rằng không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới".

 

3. - Này Hiền giả, Ta tuyên bố rằng: "Tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới". Nhưng này Hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này, với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới, về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt.

 

4.

 

    Với đi, không bao giờ,

    Đạt tận cùng thế giới.

    Nếu không, không đạt được,

    Chỗ tận cùng thế giới,

    Thời không có giải thoát,

    Ra khỏi ngoài khổ đau.

    Do vậy, bậc có trí,

    Hiểu biết rơ thế giới,

    Đi tận cùng thế giới,

    Với Phạm hạnh thành tựu,

    Bậc đạt được an tịnh,

    Biết tận cùng thế giới,

    Không mong cầu đời này,

    Không mong cầu đời sau.

 

Thứ Tư 30 tháng 04, 2008

SỰ HIỆN HỮU CỦA THỨC (I)

 

(Bản Anh ngữ: Conciousness (1), trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv. 67), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35b.htm)

Tương Ưng Sáu Xứ (b) Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, 93. X. Cả Hai (S.iv. 67)

 

1) ….

2) -- Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

 

3) Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhăn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhăn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhăn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhăn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường c̣n được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, ḥa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhăn xúc. Nhăn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhăn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhăn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường c̣n được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

 

4) Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...

5) Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...

 

6) Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...

 

7) Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức...

 

8) Và do duyên ư và các pháp khởi lên ư thức. Ư là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ư thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái ǵ là nhân, cái ǵ là duyên cho ư thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ư thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường c̣n được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, ḥa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ư xúc. Ư xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân ǵ, duyên ǵ khiến ư xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ư xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường c̣n được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.

 

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.

 

 

Thứ Năm 01 tháng 05, 2008

BIỂN

 

(Bản Anh ngữ: Ocean, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv. 157), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35f.htm)

Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I, Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, III. Phẩm Biển, 187. I. Biển (1) (S.iv. 157)

 

2) -- "Biển, biển", này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy. Cái ấy, này các Tỷ-kheo, không phải là biển trong giới luật các bậc Thánh. Cái ấy (của kẻ phàm phu), này các Tỷ-kheo, là một khối nước lớn, là một ḍng nước lớn.

 

3-7) Con mắt là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các sắc. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các sắc ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đă vượt khỏi biển mắt, với những làn sóng (sàùmim), nước xoáy (sàvattasu), các loại cá mập (sagàham), các loại La-sát (Rakkhasam), đến bờ bên kia và đứng trên đất liền. Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

 

8) Ư, này các Tỷ-kheo, là biển của người, tốc độ của nó làm bằng các pháp. Ai điều phục được tốc độ làm bằng các pháp ấy, này các Tỷ-kheo, người ấy được gọi là Bà-la-môn đă vượt khỏi biển ư, với những làn sóng, nước xoáy, các loại cá mập, các loại La-sát, đến bờ bên kia, và đứng trên đất liền.

 

9) Bậc Đạo Sư nói như sau:

    Ai vượt qua biển này,

    Với cá mập, La-sát.

    Với sóng biển hăi hùng,

    Biển rất khó vượt qua,

    Bậc tối thắng trí tuệ,

    Đă thành tựu Phạm hạnh,

    Được gọi: "Đến bờ kia",

    Đă đạt thế giới biên.

 

Thứ Sáu 02 tháng 05, 2008

TẤT CẢ

 

(Bản Anh ngữ: The All, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv. 15), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35a.htm

Tương Ưng Sáu Xứ (a) Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất III. Phẩm Tất Cả 23.I. Tất Cả (S.iv.15)

 

1) Sàvatthi...

 

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hăy lắng nghe.

 

3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng ; mũi và các hương; lưỡi và các vị ; thân và các xúc; ư và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả.

 

4) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác", thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh ǵ. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. V́ sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!

 

Thứ Bảy 03 tháng 05, 2008

THÂU NHIẾP (I)

 

(Bản Anh ngữ: Control of Faculties, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv. 70-1), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35c.htm)

Tương Ưng Sáu Xứ (c) V. Phẩm Từ Bỏ 94. I. Thâu Nhiếp (S.iv. 70)

 

1) ...

 

2) -- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không pḥng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

 

3-5) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không pḥng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...

 

6-7) ... Lưỡi... Thân...

 

8) Ư xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không pḥng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

 

9) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không pḥng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

 

10) Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo pḥng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

 

11-13) Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo pḥng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai... Mũi...

 

14-15) ... Lưỡi... Thân...

 

16) Ư xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo pḥng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

 

17) Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo pḥng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

 

18) Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

 

    1) Hỡi các vị Tỷ-kheo,

    Chính sáu xúc xứ này,

    Chỗ nào không thâu nhiếp,

    Chỗ ấy có đau khổ.

    Những ai học biết được,

    Chế ngự, pḥng hộ chúng,

    Với ḷng tin làm bạn,

    Sống thoát ly dục vọng.

 

    2) Thấy sắc pháp khả ái,

    Thấy sắc không khả ái,

    Hăy nhiếp phục đường tham,

    Đối các sắc khả ái,

    Chớ khiến ư nhiễm ô:

    "Đối sắc, ta không thích".

 

    3) Sau khi nghe các tiếng,

    Khả ái, không khả ái,

    Chớ để tâm say mê,

    Với các tiếng khả ái.

    Hăy nhiếp phục ḷng sân,

    Với tiếng không khả ái,

    Chớ khiến ư nhiễm ô:

    "Đối tiếng, ta không thích".

 

    4) Sau khi ngửi các hương,

    Thơm dịu, thật khả ái,

    Sau khi ngửi các hương,

    Bất tịnh, thật đáng ghét;

    Hăy nhiếp phục ḷng sân,

    Đối các hương đáng ghét,

    C̣n đối hương khả ái,

    Chớ để dục chi phối.

 

    5) Nếm xong vị ngon ngọt,

    Và nếm vị không ngon,

    Chớ có sanh tham luyến,

    Khi hưởng nếm vị ngon,

    Chớ nói lời chống đối,

    Khi nếm vị không ngon.

 

    6) Khi cảm thọ lạc xúc,

    Chớ đắm say tham luyến,

    Khi cảm thọ khổ xúc,

    Chớ bị xúc động mạnh.

    Đối với cả hai xúc,

    Lạc, khổ đều niệm xả,

    Không thích, không chống đối,

    Bất cứ loại xúc nào.

 

    7) Đối với các người khác,

    Mê theo hư luận tưởng,

    Họ mê theo hư luận,

    Họ hành theo hư tưởng;

    Hăy đoạn trừ tất cả,

    Gia sự do ư tạo,

    Hăy nhiếp các hành động,

    Hướng đến hạnh viễn ly.

 

    8) Như vậy đối sáu xứ,

    Khi ư khéo tu tập,

    Nếu có cảm xúc ǵ,

    Tâm không bị dao động.

    Tỷ-kheo hăy nhiếp phục,

    Cả hai tham sân ấy,

    Hăy đến bờ bên kia,

    Vượt buộc ràng sanh tử.