Bài giảng Tuần Lễ Đặc Biệt Mùa Vu Lan từ 13 đến 18 tháng 08, 2007
Thứ Hai: Ni Sư Liễu Pháp, Bài 1: Thâm ân sanh dưỡng
Thứ Ba: ĐĐ Pháp Tân: Bài 2:Hiếu Đạo
Thứ Tư: ĐĐ Tuệ Quyền, Bài 3:Tương quan tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái
Thứ Năm: TT Tuệ Siêu, Bài 4: Tác tạo phước lành
Thứ Sáu: ĐĐ Lá Bối, Bài 5: Hồi hướng phước báu
Thứ Bảy: ĐĐ Pháp Đăng, Bài 6:Các cảnh giới sanh tử
1
Thâm ân sanh dưỡng
"Này các Tỳ kheo, cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ các người đă uống, trong khi các ngươi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, chứ không phải là nước trong bốn biển" (Tương Ưng II, 208).
"Có hai hạng người, naỳ các Tỳ kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một bên vai cơng mẹ, này các Tỳ kheo, nếu một bên vai cơng cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến 100 tuổi. Như vậy, này các Tỳ kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dù tại đấy, mẹ cha có văi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha..." (Tăng Chi I, 75).
"V́ cớ sao? Ví rằng, này các Tỳ kheo, cha mẹ đă làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này" (Tăng Chi I, 75).
"Những gia đ́nh nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở nhà, những gia đ́nh ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm thiên. Những gia đ́nh nào, này các Tỳ kheo, trong ấy, các con cái kính lễ cha mẹ ở trong nhà, những gia đ́nh ấy được chấp nhận như các Đạo sư thời xưa. Những gia đ́nh nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đ́nh ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường".
"Phạm Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các Đạo sư ngày xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa vói mẹ cha, đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. V́ cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ kheo là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời" (Tăng Chi I, 147).
"Một bên vai cơng cha, một bên vai cơng mẹ, như vậy suốt 100 năm, cũng không đủ để đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của mẹ cha" (Tăng Chi I, 75).
2
Hiếu đạo
"Thờ mẹ cha đúng pháp,
Buôn bán đúng, thật thà,
Gia chủ không phóng dật,
Được sanh Tự Quang Thiên"
(Kinh Tập, Sutta Nipata).
"Ở đây, này Mahànàma, vị thiện nam tử, với những tài sản do nổ lực tinh tấn thu hoạch được, do sức mạnh của cánh tay gom góp lại, phải trả bằng những giọt mồ hôi đổ ra, làm một cách hợp pháp, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường cha mẹ..." (Tăng Chi II, 106).
"Này Dharanjàni, nhà người nghĩ thế nào? Một người v́ cha mẹ, làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, hay là một ngựi v́ cha mẹ, làm các điều đúng pháp, làm các điều chơn chánh, th́ ai tốt đẹp hơn?".
"Thưa Tôn giả Sàriputta, người v́ cha mẹ làm các điều phi pháp, làm các điều bất chánh, người ấy không tốt đẹp. Và thưa Tôn giả Sàriputta, người v́ cha mẹ làm các điều đúng pháp, làm các điều chân chánh, người ấy tốt đẹp hơn".
"Này, Dhananjàni, có những hành động khác, có nhận, đúng pháp, với những hành động này, có thể phụng dưỡng cha mẹ, không làm các điều ác, làm các điều ác, làm các điều lành. Những người làm các điều ác để nuôi dưỡng cha mẹ, cũng không thể tránh khỏi quả báo của những hành vi bất thiện của ḿnh. Và như vậy, không thể lấy lư do nuôi dưỡng cha mẹ để tự cứu ḿnh và bào chữa cho những hành vi bất chánh của ḿnh".
"Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường cha mẹ với cuả cải vật chất, tiền bạc thời không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ kheo, ai đối với cha mẹ không có ḷng tin, th́ khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào ḷng tin; đối với cha mẹ theo ác giới th́ khuyến khích, hướng dẫn an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, th́ khuyến khích, hướng dẫn an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, th́ khuyến khích, an trú vào trí tuệ, cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha".Tăng Chi bộ kinh, tập I, trang 75:
"Dựa trên thiện nam tử có ḷng tin, các người trong gia đ́nh được lớn lên về năm phương diện: thế nào là năm? Lớn lên về ḷng tin lớn lên về giới, lớn lên về học hỏi, lớn lên về bố thí, lớn lên về trí tuệ. Dựa trên thiện nam tử có ḷng tin, các người trong gia đ́nh được lớn lên v́ năm sự lớn lên này" (Tăng Chi II, 49)
3
Tương quan tốt đẹp giữa cha mẹ va con cái
Pañcahi kho
gahapatiputta ṭhānehi
puttena puratthimā disā mātāpitaro
paccupaṭṭhātabbā: bhato nesaṃ
bharissāmi, kiccaṃ nesaṃ
karissāmi,
kulavaṃsaṃ
ṭhapessāmi, dāyajjaṃ
paṭipajjāmi, atha vā pana petānaṃ
kālakatānaṃ dakkhiṇaṃ
anuppadassāmīti.
Imehi kho gahapatiputta pañcahi ṭhānehi
puttena puratthimā disā mātāpitaro
paccupaṭṭhitā pañcahi
ṭhānehi puttaṃ
anukampanti: pāpā nivārenti, kaḷyāṇe
nivesenti, sippaṃ sikkhāpenti,
patirūpena
dārena saṃyojenti, samaye dāyajjaṃ
niyyādenti. Imehi kho gahapatiputta
pañcahi ṭhānehi puttena puratthimā disā
mātāpitaro paccupaṭṭhitā imehi pañcahi
ṭhānehi puttaṃ
anukampanti. Evamassa
esā puratthimā disā paṭicchannā hoti
khemā appaṭibhayā.
Nầy gia chủ, đối với phương đông tức cha mẹ, người con nên làm năm việc:
Một là phụng dưỡng cha mẹ
Hai là làm công việc thay cha mẹ
Ba là ǵn giữ gia phong
Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế
Năm là tạo phước hồi hướng
Đáp lại, đối với con, cha mẹ nên làm năm việc:
Một là ngăn con không làm điều ác
Hai là dạy con làm việc lành
Ba là hướng dẫn nghề nghiệp
Bốn là tác thành gia thất
Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp
Đó là cách lễ bái phương đông tức đạo nghĩa cha mẹ con cái. Làm như vậy được an
lạc không ǵ lo lắng.
4
Tác tạo phước lành
Mười phước nghiệp sự, phúc hành tông (Puññakiriyavatthu), việc làm tạo phước báu:
1. Tạo bằng
bố thí (Dānamaya).
2. Tạo bằng tŕ giới (Sīlamaya).
3. Tạo bằng tu tiến (Bhāvanāmaya).
4. Tạo bằng cung kính (Apacāyanamaya).
5. Tạo bằng phục vụ (Veyyāvaccamaya).
6. Tạo bằng hồi hướng (Pattidānamaya).
7. Tạo bằng tùy hỷ (Pattānumodanāmaya) .
8. Tạo bằng thính pháp (Dhammassavanamaya).
9. Tạo bằng thuyết pháp (Dhammadesanāmaya).
10. Tạo bằng việc cải chánh tri kiến (Diṭṭhujukatamaya).
Phước (Puñña) có ba loại: phước vật, phước đức và phước trí.
Trong chánh tạng, Đức Phật thuyết phước nghiệp sự chỉ có 3 là bố thí (Dānamaya), tŕ giới (Sīlamaya), và tu tiến (Bhavanāmaya). Bố thí là nhân tạo phước vật chất, tŕ giới là nhân tạo phước âm đức, tu tiến là nhân tạo phước trí tuệ.
Trong sớ giải, đă thêm bảy điều nữa thành mười phước nghiệp sự. Nhóm pháp tạo phước vật gồm có bố thí, hồi hướng công đức và tùy hỷ công đức. Nhóm pháp tạo phước đức gồm có tŕ giới, cung kính và phục vụ. Nhóm pháp tạo phước trí là tu tiến, thính pháp, và thuyết pháp. Riêng về điều cải chánh tri kiến th́ gọi là pháp tạo cả ba loại phước, v́ có tri kiến chân chánh sẽ giúp cho bố thí, tŕ giới và tu tiến được thanh tịnh.
D.A.III.999; Comp.146.
5
Hồi hướng phước báu
Kinh Hồi Hướng Vong Linh
[Duyên khởi]
Vua Bim
Bi Sa Ra
Nằm mộng thấy thân nhân
Bị khổ quả đói lạnh
Đến bạch hỏi Thế Tôn
Đức Điều Ngự bi mẫn
Chỉ dạy cách tạo phước
Hồi hướng các vong linh
Thoát ly mọi khổ ách
[Chánh kinh]
Tirokuḍḍesu tiṭṭhanti
Sandhisiṅghāṭakesu
ca
Dvārabāhāsu tiṭṭhanti
Àgantvāna sakaṃ gharaṃ
Pahūte annapānamhi
Khajjabhojje upaṭṭhite
Na tesaṃ koci sarati
Sattānaṃ kammapaccayā
Các thân nhân quá văng
Thường đến nhà quyến thuộc
Đứng ngoài vách tựa cửa
Ngă đường hay cổng thành
Trông chờ hưởng phước thí
Nhưng v́ kém phước duyên
Hương linh bị quên lảng
Evaṃ dadanti ñātīnaṃ
Ye honti anukampakā
Suciṃ paṇītaṃ
kālena
Kappiyaṃ pānabhojanaṃ
Idaṃ vo ñātīnaṃ
hotu
Sukhitā hontu ñātayo
Những ai với t́nh thương
Muốn thân nhân quá văng
Hưởng những đồ tế phẩm
Thanh tịnh và thượng vị
Nên phát nguyện bằng lời:
Mong quyến thuộc an vui
với phước lành sung măn
Te ca tattha samāgantvā
Ñātipetā samāgatā
Pahūte annapānamhi
Sakkaccaṃ anumodare
Ciraṃ jīvantu no ñātī
Yesaṃ hetu labhāmase
Amhākaṃ ca katā pūjā
Dāyakā ca anipphalā.
Na hi tattha kasī atthi
Gorakkhettha na vijjati
Vāṇijjā tādisī natthi
Hiraññena kayākayaṃ
Ito dinnena yāpenti
Petā kālakatā tahiṃ
Những thân nhân quá văng
Vân tập các đạo tràng
Nhận được phước hồi hướng
Thường thốt lời cảm kích
Mong ân nhân của ḿnh
Được trường thọ phúc lạc
Người đă tạo công đức
Chắc chắn được quả lành
Chúng sanh trong cảnh khổ
Hằng mong đợi phước báu
Do thân nhân hồi hướng
Bởi trong những cơi ấy
Không có các sinh kế
Trồng trọt hoặc chăn nuôi
Bán buôn hay trao đổi
Uṇṇate udakaṃ
vuṭṭhaṃ
Yathā ninnaṃ pavattati
Evameva ito dinnaṃ
Petānaṃ upakappati
Yathā vārivahā pūrā
Paripūrenti sāgaraṃ
Evameva ito dinnaṃ
Petānaṃ upakappati
Như nước trên g̣ cao
Chảy xuống vùng đất thấp
Phước lành đă hồi hướng
Có diệu năng cứu khổ
Như trăm sông tuôn chảy
Đều hướng về đại dương
Nguyện công đức đă tạo
Thấu đến chư hương linh
Adāsi me akāsi me
Ñātimittā sakhā ca me
Petānaṃ dakkhiṇaṃ
dajjā
Pubbe katamanussaraṃ
Na hi ruṇṇaṃ
vā soko vā
yā vaññā paridevanā
Na taṃ petānamatthāya
Evaṃ tiṭṭhanti
ñātayo
Khi người nhớ ân trước
Do t́nh nghĩa thân bằng
Do tương duyên quyến thuộc
Hăy cúng dường trai Tăng
Hồi hướng phước đă tạo
Sự khổ sầu thương cảm
Trước tử biệt sanh ly
Không có lợi ích ǵ
Cho thân nhân quá văng
Ayaṃ kho dakkhiṇā
dinnā
Saṅghamhi suppatiṭṭhitā
Dīgharattaṃ hitāyassa
ṭhānaso upakappati.
So ñātidhammo ca ayaṃ nidassito
Petānapūjā ca katā uḷārā
Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṃ
Tumhehi puññaṃ pasutaṃ
anappakaṃ
Cách trai Tăng hợp đạo
Gọi Đắc Khi Na Đa Ná(Dakkhinādāna)
Cúng dường vô phân biệt
Đến đại chúng Tăng Già
Bậc phạm hạnh giới đức
Bậc vô thượng phước điền
Được vô lượng công đức
Là thắng duyên tế độ
Hương linh trong cảnh khổ
Do thiện sự đă làm
Do hồi hướng đă nguyện
Do Tăng lực đă cầu
Xin tựu thành phúc quả.
6
Các cảnh giới sanh tử
- 3) Tattha apăyabhùmi, kămasugatibhùmi, rùpàvacarabhùmi, arùpàvacarabhùmi ceti catasso bhùmiyo nàma.
4) Tàsu, nirayo, tiracchànayoni, pettivisayo, asurakàyo ceti apàyabhùmi catubbidhà hoti.
5) Manussà càtummahàràjikà, tàvatinsà, tusità, nimmànarati, paranimmitavasavatt́ ceti kàmasugatibhùmi sattavidhà hoti.
Sà panàyam, ekàdasavidhà pi kàmàvacarabhùmicceva sankhamgacchati.
- Apàyabhùni: Ác thú địa. Kàmasugatibhùmi: Dục giới thiện thú địa. Niraya: Địa ngục. Tiricchànayoni: Súc sanh. Pettivisaya: Ngạ quỷ. Asurakàya: A-tu-la. Càtummahàràjikà: 4 thiên vương. Tàvatimsà: Tam thập tam thiên. Yàmà: Dạ ma thiên. Tusità: Đâu suất đà thiên. Nimmànarati: Hóa lạc thiên. Paranimmitavasavatt́: Tha hóa tự tại thiên. Sattavidhà: Có 7 loại. Sankham gacchanti: Tổng hợp.
- 3) Ở đây 4 địa là Ác thú địa, Dục giới thiên địa, Sắc giới địa, Vô sắc giới địa.
4) Ở đây ác thú địa này có 4 = Địa ngục, súc sanh, ngă quỷ và A-tu-la.
5) Dục giới thiên có 7 = Loài người, Tứ thiên vương, Tam thập tam thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên.
Như vậy Dục giới địa tổng cộng có 11 cơi tất cả.
- 6) Brahamapàrisajjà, Brahmapurohità, Mahàbrahmà ceti pathamajjhànabhùmi, Parittàbhà, Appamànàbhà, Àbhassarà ceti dutiyajjhànabhùmi. Parittasubhà, Appamànasubhà, Subhakinhà ceti tatiyajjhànabhùmi. Vehapphalà, Asannasattà, Suddhàvàsà ceti catutthajjhànabhùḿ ti rùpàvacarabhùmi solasavidhà hoti. Avihà, Atappà, Sudassà, Sudasś, Akanitthà ceti suddhàvàsa-bhùmi pancavidhà hoti.
7) Àkàsànancàyatanabhùmi, Vinnànancàyatanabhùmi, Àkincànnàyatanabhùmi, Nevasannànàsannàyatanabhùmi ceti arùpabhùmi catubbidhà hoti.
- Brahmapàrisajjà: Phạm chúng thiên. Brahmapurohità: Phạm phụ thiên. Mahàbrahmà: Đại Phạm Thiên. Parittàbhà: Thiểu quang thiên. Appamànàbhà: Vô lượng quang thiện. Àbhassarà: Quang âm thiên. Parittasubhà: Thiểu tịnh thiên. Appamanàsubhà: Vô lượng tịnh thiên. Subhakinhà: Biến tịnh thiên. Vehapphalà: Quảng quả thiên. Asannasattà: Vô tưởng thiên. Suddhàvàsà: Phước sanh thiên. Solasavidhà: 16 loại. Avihà: Vô phiền thiên. Atappà: Vô nhiệt thiên. Sudassà: Thiện hiện thiên. Sudasś: Thiện kiến thiên. Akanitthà: Sắc cứu cánh thiên.
- 6) Đệ nhứt thiền thiên có ba: Phạm chúng thiên. Phạm phụ thiên. Đại Phạm thiên. Đệ nhị thiền thiên có ba: Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang âm thiên. Đệ tam thiền thiên có ba: Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên. Đệ tứ thiền thiên có ba: Quảng quả thiên, Vô tưởng thiên, Phước sanh thiên. Phước sanh thiên chi làm 5: Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện hiện thiên, Thiện kiến thiên và Sắc cứu kính thiên.
7) Vô sắc giới thiên có 4: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.