BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 17/12/07 ĐẾN 22/12/07
 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  ĐĐ Pháp Đăng/Ni Sư Liễu Pháp

 

Thứ Hai: ĐĐ HuyềnVân.:  "TAM QUY VÀ THẬP GIỚI "(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Pháp Tân: 
" KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG (Tirokudda Sutta)" . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư: TT Giác Đẳng:
"NAM TỬ HỎI ĐẠO". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu  "
NAM TỬ HỎI ĐẠO - DANH VÀ SẮC"(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ Pháp Đăng:
"NAM TỬ HỎI ĐẠO -BA THỦ UẨN " (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ ...
"
NAM TỬ HỎI ĐẠO - TỨ DIỆU ĐẾ" (Toát Yếu: Như Quang)

--------------

 Bài học Thứ Hai 17 tháng 12, 2007
 

TAM QUY VÀ THẬP GIỚI
 
(Bản Anh ngữ: The Faith and Precepts, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-2)
 
Tam Quy (Saranattaya)
 
    Đệ tử quy y Phật,
    Đệ tử quy y Pháp,
    Đệ tử quy y Tăng.
 
    Lần thứ hai đệ tử quy y Phật,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Pháp,
    Lần thứ hai đệ tử quy y Tăng.
 
    Lần thứ ba đệ tử quy y Phật
    Lần thứ ba đệ tử quy y Pháp.
    Lần thứ ba đệ tử quy y Tăng.
 
Thập Giới (Dasasikkhàpada)
 
    1. Đệ tử thực hành giới tránh sát sanh.
    2. Đệ tử thực hành giới tránh lấy của không cho.
    3. Đệ tử thực hành giới tránh tà hạnh trong các dục.
    4. Đệ tử thực hành giới tránh nói láo.
    5. Đệ tử thực hành giới tránh mọi cơ hội buông lung phóng dật do uống rượu hoặc các thứ men say.
    6. Đệ tử thực hành giới tránh ăn phi thời.
    7. Đệ tử thực hành giới tránh múa, hát, nhạc, kịch.
    8. Đệ tử thực hành giới tránh cơ hội đeo ṿng hoa và trang điểm với hương liệu, dầu xoa.
    9. Đệ tử thực hành giới tránh dùng giường cao và rộng.
    10. Đệ tử thực hành giới tránh nhận vàng bạc.
-------------

 Bài học Thứ Ba 18 tháng 12, 2007


    NAM TỬ HỎI ĐẠO (Kumàrapanha)


    (Bản Anh ngữ: The Novice’s Catechism, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch    giả Woodward, F.L. Nguồn:
    http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-4)
 
    Thế nào là một? - Mọi loài hữu t́nh đều tồn tại nhờ thức ăn.
    Thế nào là hai? - Danh và sắc.
    Thế nào là ba? - Ba loại cảm thọ.
    Thế nào là bốn? - Bốn Thánh đế.
    Thế nào là năm? - Năm thủ uẩn.
    Thế nào là sáu? - Sáu nội xứ.
    Thế nào là bảy? - Bảy giác chi.
    Thế nào là tám? - Thánh đạo tám ngành.
    Thế nào là chín? - Chín nơi cư trú của các loài hữu t́nh.
    Thế nào là mười? - Vị nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán.
---------------------

 Bài học Thứ Tư 19 tháng 12, 2007


KINH ĐIỀM LÀNH (Mangala Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: Blessings, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
 
Như vầy tôi nghe:
 
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đă gần măn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
 
Thiên tử:
 
    1. Nhiều Thiên tử và người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hăy nói lên,
    Về điềm lành tối thượng.
 
(Đức Phật giảng:)
 
    2. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc Trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    3. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đă làm,
    Chân chánh hướng tự tâm,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi nấng vợ và con.
    Làm nghề không rắc rối,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    6. Bố thí, hành, đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong Pháp, không phóng dật,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    8. Kính lễ và hạ ḿnh,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    9. Nhẫn nhục, lời ḥa nhă,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lư Thánh đế.
    Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
    Là điềm lành tối thượng.
 
    11. Khi xúc chạm việc đời
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    12. Làm sự việc như vầy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.
------------

 Bài học Thứ Năm 20 tháng 12, 2007


KINH CHÂU BÁU (Rattana Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: The Gem, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
 
Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
 
    1. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ư vui ḷng,
    Vậy, hăy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.
 
    2. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hăy chú tâm,
    Khởi lên ḷng từ mẫn,
    Đối với thảy mọi loài,
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hăy giúp hộ tŕ họ.
 
    3. Phàm có tài sản ǵ,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Với Như Lai Thiện Thệ,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    4. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu.
    Phật Thích-ca Mâu-ni,
    Chứng Pháp ấy trong thiền,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Với Pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thù diệu trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    6. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán.
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    7. Các vị ḷng ít dục,
    Với ư thật kiên tŕ,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gô-ta-ma!
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    8. Như cây trụ cột đá,
    Khéo y tựa ḷng đất.
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động.
    Ta nói bậc Chơn nhân,
    Giống như thí dụ này,
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    9. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu.
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không chế ngự,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ,
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không,
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát.
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    11. Dầu vị ấy có làm,
    Điều ǵ ác đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ư,
    Vị ấy không có thể,
    Che đậy việc làm ấy,
    Việc ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    12. Đẹp là những cây rừng,
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng hạ nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy.
    Pháp đưa đến Niết Bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    13. Cao thượng biết cao thượng,
    Cho đem lại cao thượng,
    Bậc Vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng,
    Như vậy nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    14. Nghiệp cũ đă đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai,
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng
    Bậc trí chứng Niết Bàn,
    Ví như ngọn đèn này,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    15. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ Đức Phật,
    Đă như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng, với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.
 
    16. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đă như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,;
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.
 
    17. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ chúng Tăng,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc
--------------------

 Bài học Thứ Sáu 21 tháng 12, 2007


KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG (Tirokudda Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: The Earth-Bound Ghost, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5)
 
    1. Ở bên ngoài bức tường,
    Bọn họ đứng chờ đợi,
    Giao lộ, ngă ba đường,
    Trở về mái nhà xưa,
    Đợi chờ bên cạnh cổng.
 
    2. Nhưng khi tiệc thịnh soạn,
    Được bày biện sẵn sàng,
    Đủ mọi thức uống ăn,
    Không một ai nhớ họ.
    Sự kiện này phát sinh
    Từ nghiệp xưa của họ.
 
    3. Vậy ai có từ tâm,
    Nhớ cho các thân nhân,
    Thức uống ăn thanh tịnh,
    Tốt đẹp và đúng thời.
 
    4. Món này cho bà con,
    Mong bà con an lạc,
    Đám ngạ quỷ thân bằng,
    Đă tề tựu chỗ đó.
 
    5. Sẽ mong muốn chúc lành,
    V́ thực phẩm đầy đủ,
    Mong quyến thuộc sống lâu,
    Nhờ người, ta hưởng lợi,.
 
    6. V́ đă kính lễ ta,
    Thí chủ không thiếu quả
    Tại đó không cấy cày,
    Cũng không nuôi súc vật.
 
    7. Cũng không có buôn bán,
    Không trao đổi tiền vàng,
    Các ngạ quỷ họ hàng,
    Chỉ sống nhờ bố thí.
 
    8. Như nước đổ xuống đồi,
    Chảy xuống tận vực sâu,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.
 
    9. Như ḷng sông tràn đầy,
    Đưa nước đổ xuống biển,
    Bố thí tại chỗ này,
    Cung cấp loài ngạ quỷ.
 
    10. Người ấy đă cho ta,
    Đă làm việc v́ ta,
    Người ấy là quyến thuộc,
    Người ấy chính thân bằng.
    Hăy bố thí ngạ quỷ,
    Nhớ việc xưa chúng làm.
 
    11. Không khóc than, sầu muộn,
    Không thương tiếc cách ǵ,
    Giúp ích loài ngạ quỷ,
    Quyến thuộc làm như vầy,
    Không lợi cho ngạ quỷ.
 
    12. Nhưng khi vật cúng dường,
    Khéo đặt vào chư Tăng
    Ích lợi chúng lâu dài,
    Bây giờ, về sau nữa.
 
    13 Chánh pháp được giảng bày,
    Như vậy cho quyến thuộc,
    Kính trọng biết chừng nào,
    Đối với người đă khuất,
    Chư Tăng được cúng dường,
    Cũng tăng thêm dơng mănh,
    Người tích tụ công đức,
    Thật to lớn biết bao.
-------------

Bài học Thứ Bảy 22 tháng 12, 2007


KINH BẢO TÀNG (Nidhikanda Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: The Hidden Treasure, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-8
 
1. Một người cất kho báu,
Ở tận dưới giếng sâu,
Nghĩ: "Nếu cần giúp đỡ,
Nó ích lợi cho ta".
 
2. Nếu bị vua kết án,
Hoặc trả các nợ nần,
Hoặc bị cướp giam cầm,
Và đ̣i tiền chuộc mạng,
Khi mất mùa, tai nạn,
Với mục đích như vầy,
Ở trên cơi đời này,
Sẽ đến giành kho báu.
 
3. Dẫu nó không bao giờ,
Được cất kỹ như vậy,
Ở tận dưới giếng sâu,
Vẫn không đủ hoàn toàn,
Giúp ích người mọi lúc.
 
4. Kho báu bị dời chỗ,
Hoặc người quên dấu vết,
Hoặc rắn thần lấy đi,
Hoặc thần linh tẩu tán,
 
5. Hoặc đám người thừa kế,
Kẻ ấy không chấp nhận,
Di chuyển kho báu đi,
Khi kẻ ấy không thấy.
Và khi phước đức tận,
Tất cả đều tiêu tan.
 
6. Những khi người nam, nữ,
Có bố thí, tŕ giới
Hoặc thiền định, trí tuệ,
Kho báu khéo để dành.
 
7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
Một cá nhân, lữ khách,
Hoặc người mẹ, người cha,
Hoặc là người anh nữa.
 
8. Kho này khéo để dành,
Đi theo người, không mất,
Giữa mọi vật phải rời,
Người cùng đi với nó.
 
9. Không ai khác chia phần,
Không cướp nào lấy được.
Vậy những kẻ tinh cần,
Hăy làm việc phước đức,
Kho báu ấy theo người,
Sẽ không bao giờ mất.
 
10. Đây là một kho báu,
Có thể làm thỏa măn,
Mọi ước vọng thiên, nhân,
Dù họ mong muốn ǵ,
Đều đạt được tất cả,
Nhờ công đức phước nghiệp.
 
11. Vẻ đẹp của màu da,
Vẻ đẹp của âm thanh,
Vẻ đẹp của dáng h́nh,
Vẻ đẹp của toàn thân,
Địa vị thật cao sang,
Cùng với đoàn hầu cận,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
12. Ngôi đế vương một cơi,
Cực lạc Chuyển luân vương,
Và ngự trên Thiên đường,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
13. Vẻ tối thắng của người,
Mọi hoan lạc cơi trời,
Hay tịch diệt tối thắng,
Tất cả đều đạt được
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
14. Đạt tối thắng bằng hữu,
Chuyên tu tập chánh chân,
Đạt minh trí giải thoát,
Tất cả đều đạt được.
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
15. Tứ vô ngại giải đạo,
Tám cấp độ giải thoát,
Viên măn trí Thanh văn,
Cả hai cách giác ngộ:
Độc giác, Chánh Đẳng giác,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
16. Phước báo thật lớn lao,
Do công đức thù thắng,
V́ thế kẻ tinh cần,
Và những người có trí,
Đă tạo nện kho tàng.
Công đức nhờ phước nghiệp.