BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 31/12/2007 ĐẾN 05/01/2008
 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT GIÁC ĐẲNG

 

Thứ Hai: TT Giác Đẳng .:  "KINH ĐIỀM LÀNH (Mangala Sutta)"(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền
"KINH CHÂU BÁU (Rattana Sutta) " . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư: :
"KINH BẢO TÀNG (Nidhikanda Sutta)". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu  "
KINH TÂM TỪ (Mettà Sutta)"(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ Pháp Đăng:
"CỔ XE THÙ THẮNG" (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ Pháp Tân ...
"
THẦY VÀ ĐỆ TỬ " (Toát Yếu: Như Quang)

 

Bài học Thứ Hai 31 tháng 12, 2007


KINH ĐIỀM LÀNH (Mangala Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: Blessings, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
 
Như vầy tôi nghe:
 
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đă gần măn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
 
Thiên tử:
 
    1. Nhiều Thiên tử và người,
    Suy nghĩ đến điềm lành,
    Mong ước và đợi chờ,
    Một nếp sống an toàn,
    Xin Ngài hăy nói lên,
    Về điềm lành tối thượng.
 
(Đức Phật giảng:)
 
    2. Không thân cận kẻ ngu,
    Nhưng gần gũi bậc Trí,
    Đảnh lễ người đáng lễ,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    3. Ở trú xứ thích hợp,
    Công đức trước đă làm,
    Chân chánh hướng tự tâm,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
    Khéo huấn luyện học tập,
    Nói những lời khéo nói,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
    Nuôi nấng vợ và con.
    Làm nghề không rắc rối,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    6. Bố thí, hành, đúng pháp,
    Săn sóc các bà con,
    Làm nghiệp không lỗi lầm,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
    Chế ngự đam mê rượu,
    Trong Pháp, không phóng dật,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    8. Kính lễ và hạ ḿnh,
    Biết đủ và biết ơn,
    Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    9. Nhẫn nhục, lời ḥa nhă,
    Yết kiến các Sa-môn,
    Đúng thời, đàm luận Pháp,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
    Thấy được lư Thánh đế.
    Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
    Là điềm lành tối thượng.
 
    11. Khi xúc chạm việc đời
    Tâm không động, không sầu,
    Không uế nhiễm, an ổn,
    Là điềm lành tối thượng.
 
    12. Làm sự việc như vầy,
    Không chỗ nào thất bại,
    Khắp nơi được an toàn,
    Là điềm lành tối thượng.
------------

Bài học Thứ Ba 01 tháng 01, 2008


KINH CHÂU BÁU (Rattana Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: The Gem, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
 
Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
 
    1. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Mong rằng mọi sanh linh,
    Được đẹp ư vui ḷng,
    Vậy, hăy nên cẩn thận,
    Lắng nghe lời dạy này.
 
    2. Do vậy các sanh linh,
    Tất cả hăy chú tâm,
    Khởi lên ḷng từ mẫn,
    Đối với thảy mọi loài,
    Ban ngày và ban đêm,
    Họ đem vật cúng dường,
    Do vậy không phóng dật,
    Hăy giúp hộ tŕ họ.
 
    3. Phàm có tài sản ǵ,
    Đời này hay đời sau,
    Hay ở tại thiên giới,
    Có châu báu thù thắng,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Với Như Lai Thiện Thệ,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    4. Đoạn diệt và ly tham,
    Bất tử và thù diệu.
    Phật Thích-ca Mâu-ni,
    Chứng Pháp ấy trong thiền,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Với Pháp thù diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
    Nói lên lời tán thán,
    Pháp thù diệu trong sạch,
    Liên tục không gián đoạn,
    Không ǵ sánh bằng được,
    Pháp thiền vi diệu ấy.
    Như vậy, nơi Chánh Pháp,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    6. Tám vị bốn đôi này,
    Được bậc thiện tán thán.
    Chúng đệ tử Thiện Thệ,
    Xứng đáng được cúng dường.
    Bố thí các vị ấy,
    Được kết quả to lớn.
    Như vậy, nơi tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    7. Các vị ḷng ít dục,
    Với ư thật kiên tŕ,
    Khéo liên hệ mật thiết,
    Lời dạy Gô-ta-ma!
    Họ đạt được quả vị,
    Họ thể nhập bất tử,
    Họ chứng đắc dễ dàng,
    Hưởng thọ sự tịch tịnh,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    8. Như cây trụ cột đá,
    Khéo y tựa ḷng đất.
    Dầu có gió bốn phương,
    Cũng không thể dao động.
    Ta nói bậc Chơn nhân,
    Giống như thí dụ này,
    Vị thể nhập với tuệ,
    Thấy được những Thánh đế,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    9. Những vị khéo giải thích,
    Những sự thật Thánh đế,
    Những vị khéo thuyết giảng,
    Với trí tuệ thâm sâu.
    Dầu họ có hết sức,
    Phóng dật không chế ngự,
    Họ cũng không đến nỗi,
    Sanh hữu lần thứ tám,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
    Với chánh kiến sáng suốt,
    Do vậy có ba pháp,
    Được hoàn toàn từ bỏ,
    Thân kiến và nghi hoặc,
    Giới cấm thủ cũng không,
    Đối với bốn đọa xứ,
    Hoàn toàn được giải thoát.
    Vị ấy không thể làm,
    Sáu điều ác căn bản,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    11. Dầu vị ấy có làm,
    Điều ǵ ác đi nữa,
    Với thân hay với lời,
    Kể cả với tâm ư,
    Vị ấy không có thể,
    Che đậy việc làm ấy,
    Việc ấy được nói rằng,
    Không thể thấy ác đạo.
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    12. Đẹp là những cây rừng,
    Có bông hoa đầu ngọn,
    Trong tháng hạ nóng bức,
    Những ngày hạ đầu tiên,
    Pháp thù thắng thuyết giảng,
    Được ví dụ như vậy.
    Pháp đưa đến Niết Bàn,
    Pháp hạnh phúc tối thượng,
    Như vậy, nơi Đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    13. Cao thượng biết cao thượng,
    Cho đem lại cao thượng,
    Bậc Vô thượng thuyết giảng,
    Pháp cao thượng thù thắng,
    Như vậy nơi đức Phật,
    Là châu báu thù diệu,
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    14. Nghiệp cũ đă đoạn tận,
    Nghiệp mới không tạo nên,
    Với tâm tư từ bỏ,
    Trong sanh hữu tương lai,
    Các hột giống đoạn tận,
    Ước muốn không tăng trưởng
    Bậc trí chứng Niết Bàn,
    Ví như ngọn đèn này,
    Như vậy, nơi Tăng chúng,
    Là châu báu thù diệu.
    Mong với sự thật này,
    Được sống chơn hạnh phúc.
 
    15. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ Đức Phật,
    Đă như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng, với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.
 
    16. Phàm ở tại nơi này,
    Có sanh linh tụ hội,
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ Chánh pháp,
    Đă như thực đến đây,
    Được loài Trời, loài Người,;
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc.
 
    17. Phàm ở tại đời này,
    Có sanh linh tụ hội
    Hoặc trên cơi đất này,
    Hoặc chính giữa hư không,
    Hăy đảnh lễ chúng Tăng,
    Đảnh lễ và cúng dường,
    Mong rằng với hạnh này,
    Mọi loài được hạnh phúc

--------------

Bài học Thứ Tư 02 tháng 01, 2008


KINH BẢO TÀNG (Nidhikanda Sutta)
 
(Bản Anh ngữ: The Hidden Treasure, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-8
 
1. Một người cất kho báu,
Ở tận dưới giếng sâu,
Nghĩ: "Nếu cần giúp đỡ,
Nó ích lợi cho ta".
 
2. Nếu bị vua kết án,
Hoặc trả các nợ nần,
Hoặc bị cướp giam cầm,
Và đ̣i tiền chuộc mạng,
Khi mất mùa, tai nạn,
Với mục đích như vầy,
Ở trên cơi đời này,
Sẽ đến giành kho báu.
 
3. Dẫu nó không bao giờ,
Được cất kỹ như vậy,
Ở tận dưới giếng sâu,
Vẫn không đủ hoàn toàn,
Giúp ích người mọi lúc.
 
4. Kho báu bị dời chỗ,
Hoặc người quên dấu vết,
Hoặc rắn thần lấy đi,
Hoặc thần linh tẩu tán,
 
5. Hoặc đám người thừa kế,
Kẻ ấy không chấp nhận,
Di chuyển kho báu đi,
Khi kẻ ấy không thấy.
Và khi phước đức tận,
Tất cả đều tiêu tan.
 
6. Những khi người nam, nữ,
Có bố thí, tŕ giới
Hoặc thiền định, trí tuệ,
Kho báu khéo để dành.
 
7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
Một cá nhân, lữ khách,
Hoặc người mẹ, người cha,
Hoặc là người anh nữa.
 
8. Kho này khéo để dành,
Đi theo người, không mất,
Giữa mọi vật phải rời,
Người cùng đi với nó.
 
9. Không ai khác chia phần,
Không cướp nào lấy được.
Vậy những kẻ tinh cần,
Hăy làm việc phước đức,
Kho báu ấy theo người,
Sẽ không bao giờ mất.
 
10. Đây là một kho báu,
Có thể làm thỏa măn,
Mọi ước vọng thiên, nhân,
Dù họ mong muốn ǵ,
Đều đạt được tất cả,
Nhờ công đức phước nghiệp.
 
11. Vẻ đẹp của màu da,
Vẻ đẹp của âm thanh,
Vẻ đẹp của dáng h́nh,
Vẻ đẹp của toàn thân,
Địa vị thật cao sang,
Cùng với đoàn hầu cận,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
12. Ngôi đế vương một cơi,
Cực lạc Chuyển luân vương,
Và ngự trên Thiên đường,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
13. Vẻ tối thắng của người,
Mọi hoan lạc cơi trời,
Hay tịch diệt tối thắng,
Tất cả đều đạt được
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
14. Đạt tối thắng bằng hữu,
Chuyên tu tập chánh chân,
Đạt minh trí giải thoát,
Tất cả đều đạt được.
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
15. Tứ vô ngại giải đạo,
Tám cấp độ giải thoát,
Viên măn trí Thanh văn,
Cả hai cách giác ngộ:
Độc giác, Chánh Đẳng giác,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
 
16. Phước báo thật lớn lao,
Do công đức thù thắng,
V́ thế kẻ tinh cần,
Và những người có trí,
Đă tạo nện kho tàng.
Công đức nhờ phước nghiệp.

------------

Bài học Thứ Năm 03 tháng 01, 2008


1. KINH TÂM TỪ (Mettà Sutta)

(Bản Anh ngữ: Goodwill, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5

 
1. Vị thiện xảo mục đích,
Cần phải làm như sau:
Sau khi hiểu thông suốt,
Con đường an tịnh ấy,
Có khả năng trực tánh,
Thật sự, khéo chân trực,
Dễ nói và nhu ḥa,
Không có ǵ cao mạn.

 
2. Sống cảm thấy vừa đủ,
Nuôi sống thật dễ dàng,
Ít có sự rộn ràng,
Sống đạm bạc, giản dị.
Các căn được tịnh lạc,
Khôn ngoan và thận trọng,
Không xông xáo gia đ́nh,
Không tham ái, tham vọng.

 
3. Các hành sở của ḿnh,
Không nhỏ nhen, vụn vặt,
Khiến người khác có trí,
Có thể sanh chỉ trích,
Mong mọi loài chúng sanh,
Được an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.

 
4. Mong tất cả những ai,
Hữu t́nh có mạng sống,
Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
Không bỏ sót một ai,
Kẻ dài hay kẻ lớn,
Trung thấp, loài lớn, nhỏ.

 
5. Loài được thấy, không thấy,
Loài sống xa, không xa,
Các loài hiện đang sống,
Các loài sẽ được sanh,
Mong mọi loài chúng sanh,
Sống hạnh phúc an lạc.

 
6. Mong rằng không có ai,
Lường gạt, lừa dối ai,
Không có ai khinh mạn,
Tại bất cứ chỗ nào,
Không v́ giận hờn nhau,,
Không v́ tưởng chống đối.
Lại có người mong muốn,
Làm đau khổ cho nhau.

 
7. Như tấm ḷng người mẹ,
Đối với con của ḿnh,
Trọn đời lo che chở,
Con độc nhất ḿnh sanh.
Cũng vậy, đối tất cả
Các hữu t́nh chúng sanh,
Hăy tu tập tâm ư,
Không hạn lượng, rộng lớn.

 
8. Hăy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hăy tu tập tâm ư,
Không hạn lượng, rộng lớn,
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.

 
9. Khi đứng hay khi ngồi,
Khi ngồi hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang c̣n tỉnh thức,
Hăy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy.
Được đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng.

 
10. Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Đối với các dục vọng,
Không c̣n phải tái sanh,
Đi đến thai tạng nữa.

 -----------

Bài học Thứ Sáu 04 tháng 01, 2008

2. CỔ XE THÙ THẮNG

(Bản Anh ngữ: The Car of the Norm, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-45a.htm)


Ai được tín, trí tuệ,
Thường xuyên liên kết lại,
Lấy hổ thẹn làm cán,
Lấy ư làm ách xe.
Niệm là người đánh xe,
Biết hộ tŕ, pḥng hộ,
Cỗ xe lấy giới luật
Làm vật dụng cho xe.
Thiền là trục bánh xe,
Tinh tấn là bánh xe,
Xả là định thường hằng,
Vô dục là nệm xe.
Vô sân và vô hại,
Viễn ly là binh khí,
Nhẫn nhục là áo giáp,
An ổn khỏi khổ ách,
Làm mục đích đạt đến,
Cỗ xe được chuyển vận.
Pháp này tự ngă làm,
Trở thành thuộc tự ngă.
Là cỗ xe thù thắng,
Vô thượng, không sánh bằng.
Ngồi trên cỗ xe ấy,
Bậc Trí thoát ly đời,
Chắc chắn, không sai chạy,
Họ đạt được chiến thắng.

Bài học Thứ Bảy 05 tháng 01, 2008
 
3. THẦY VÀ ĐỆ TỬ
(Bản Anh Ngữ: Teacher and Pupil, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L.. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-01b.htm)

Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy dạy học. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học tṛ tâm của người con và người học tṛ sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có nhiều kính trọng, có sự vâng lời, có sự tiếp xúc với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này. Này các tỳ khưu, ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương nhờ.

DUYÊN SỰ:

Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ bỏ đi, hoàn tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các tỳ khưu trở thành không có thầy dạy học, và trong khi không được giáo huấn, không được chỉ dạy (nên đă) mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Khi dân chúng đang ăn, các vị đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức ăn loại mềm (của dân chúng), ... ở phía trên thức ăn loại cứng, ... ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, và các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức ăn loại mềm (của dân chúng), ... ở phía trên thức ăn loại cứng, ... ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các bà-la-môn trong bữa ăn của các bà-la-môn vậy?

Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- V́ sao các vị tỳ khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách ...(như trên)... sự ồn ào ở trong nhà ăn nữa?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ...(như trên)...

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách ...(như trên)...  sự ồn ào ở trong nhà ăn nữa, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: ...(như trên)...

Sau khi khiển trách, ngài đă thuyết Pháp thoại rồi dạy các tỳ khưu như trên:
---------



4. AN CƯ MÙA MƯA

(Bản Anh Ngữ: Keeping the Rainy Season, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-03.htm)

Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha (Vương Xá), Veuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, việc cư trú mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu. Trong trường hợp này, các vị tỳ khưu ấy đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- Tại sao các sa-môn Thích tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hăm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả các du sĩ ngoại đạo này có giáo lư được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa, ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa; c̣n các sa-môn Thích tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hăm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi.

Các tỳ khưu đă nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, ta cho phép vào mùa (an cư) mưa (vassa).


5. PHẬN SỰ CỦA TỲ KHƯU VĂNG LAI

(Bản Anh ngữ: Rules and Etiquette, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L., Nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-luat-tieupham/tp-08.htm)


Này các tỳ khưu, (nghĩ rằng): “Bây giờ ta sẽ đi vào tu viện,” vị tỳ khưu văng lai nên tháo dép ra, để dưới thấp, rũ sạch, rồi cầm lấy, hạ dù xuống, cởi đầu trần, lấy y ở đầu để xuống ở vai, rồi đi vào tu viện một cách nghiêm trang không vội vă. Khi đi vào tu viện, nên quan sát xem: “Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở đâu?” Các tỳ khưu thường trú tụ hội ở nơi nào: trong pḥng hội họp, ở mái hiên, hay ở gốc cây, sau khi đi đến nơi ấy, nên để b́nh bát xuống một bên, nên để y xuống một bên, nên chọn chỗ ngồi thích hợp, rồi ngồi xuống. Nên hỏi nước uống, nên hỏi nước rửa: “Nước nào là nước uống? Nước nào là nước rửa?” Nếu có sự cần dùng với nước uống, sau khi lấy nước uống rồi nên uống. Nếu có sự cần dùng với nước rửa, sau khi lấy nước rửa rồi nên rửa hai bàn chân. Khi rửa hai bàn chân, nên dùng một tay xối nước, một tay kỳ cọ bản chân. Bàn tay nào dùng để xối nước không nên dùng chính bàn tay đó để kỳ cọ bàn chân. Nên hỏi miếng giẻ lau dép rồi lau đôi dép. Khi lau đôi dép, trước tiên nên lau với miếng giẻ khô sau đó với miếng giẻ ướt. Sau khi giặt miếng giẻ lau dép, nên vắt ráo, rồi nên phơi ở một góc. Nếu vị tỳ khưu thường trú thâm niên hơn th́ nên đảnh lễ. Nếu là vị mới tu th́ nên để vị ấy đảnh lễ. Nên hỏi chỗ trú ngụ: “Chỗ trú ngụ nào dành cho tôi?” Nên hỏi (chỗ trú ngụ ấy) có người ở hay không có. Nên hỏi về khu vực đi khất thực, khu vực không thể đi khất thực. Nên hỏi về các gia đ́nh được xác định là Thánh Hữu Học. Nên hỏi về chỗ tiêu, nên hỏi về chỗ tiểu, nên hỏi về (chỗ lấy) nước uống, nên hỏi về (chỗ lấy) nước rửa, nên hỏi về gậy để chống, nên hỏi về qui định của hội chúng: “Giờ nào có thể đi vào? Giờ nào có thể đi ra?”

Nếu trú xá không có người, nên gơ cửa lớn, chờ trong chốc lát, rồi tháo chốt gài, mở cửa lớn ra, khi đứng bên ngoài nên nh́n vào bên trong.

DUYÊN SỰ:

Lúc bấy giờ, đức Phật Thế tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu văng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, và cũng không hỏi chỗ trú ngụ. Có vị tỳ khưu văng lai nọ đă mở chốt gài, đẩy cánh cửa, rồi vội vă đi vào trú xá không có người ở. Con rắn ở trên đà ngang đă rơi xuống trên vai của vị ấy. Vị ấy hoảng sợ đă kêu thét lên. Các tỳ khưu đă chạy lại và đă nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

- Này đại đức, tại sao đại đức kêu thét lên vậy?

Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đă kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

- V́ sao các tỳ khưu văng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, và cũng không hỏi chỗ trú ngụ?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…

- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu văng lai đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, và cũng không hỏi chỗ trú ngụ, có đúng không vậy?

- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng:

- Này các tỳ khưu, v́ sao các tỳ khưu văng lai lại đi vào tu viện vẫn mang dép, đi vào tu viện vẫn căng dù, đi vào tu viện vẫn trùm đầu, vẫn đội y ở đầu rồi đi vào tu viện, rửa các bàn chân với nước dùng để uống, không đảnh lễ các tỳ khưu thường trú thâm niên hơn, và cũng không hỏi chỗ trú ngụ? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)…

Sau khi khiển trách, ngài đă thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

- Này các tỳ khưu, chính v́ điều ấy ta sẽ quy định phận sự cho các tỳ khưu văng lai, các tỳ khưu văng lai nên thực hành đúng đắn theo như thế. Và Ngài quy định phận sự của Tỳ khưu văng lai như trên.


6. DU SĨ SABHIYA

(Bản Anh ngữ: Conversation, Ordination, Attainment, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt3.htm)

Rồi du sĩ Sabhiya lấy đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:


- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!... Con xin quy y Thế Tôn, Pháp và chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

- Này Sabhiya, ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này cần phải sống biệt trú trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ở đây, Ta biết sự sai biệt giữa các chúng sanh.

- Bạch Thế Tôn, nếu những ai trước kia thuộc ngoại đạo, nay xin xuất gia, xin thọ đại giới trong Pháp Luật này, sống biệt trú bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu tâm các Tỷ-kheo thỏa thuận, có thể cho vị ấy xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo, con sẽ sống biệt trú bốn năm. Sau bốn năm, nếu tâm con thỏa thuận hăy cho xuất gia, cho con thọ đại giới để trở thành Tỷ-kheo.

Du sĩ Sabhiya được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới... rồi Tôn giả Sabhiya trở thành một vị A-la-hán.