BÀI GIẢNG TUẦN LỄ
TỪ 31/12/2007 ĐẾN 05/01/2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:
TT GIÁC ĐẲNG
Thứ Hai:
TT Giác Đẳng .:
"KINH ĐIỀM LÀNH (Mangala Sutta)"(Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"KINH CHÂU BÁU (Rattana Sutta) " .
(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư:
:
"KINH BẢO TÀNG (Nidhikanda Sutta)". (Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Năm:TT
Tuệ Siêu " KINH TÂM TỪ (Mettà Sutta)"(Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ
Pháp Đăng:
"CỔ
XE THÙ THẮNG" (Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ
Pháp Tân
...
"THẦY VÀ ĐỆ TỬ
" (Toát
Yếu: Như Quang)
Bài học Thứ Hai 31 tháng 12, 2007
KINH ĐIỀM LÀNH (Mangala Sutta)
(Bản Anh ngữ: Blessings, trích từ “Some Sayings of the
Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi một Thiên tử, khi đêm đă gần măn, với dung sắc thù thắng chói
sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng
một bên. Đứng một bên, vị Thiên tử ấy bạch Thế Tôn với bài kệ:
Thiên tử:
1. Nhiều Thiên tử và người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hăy nói lên,
Về điềm lành tối thượng.
(Đức Phật giảng:)
2. Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc Trí,
Đảnh lễ người đáng lễ,
Là điềm lành tối thượng.
3. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đă làm,
Chân chánh hướng tự tâm,
Là điềm lành tối thượng.
4. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói,
Là điềm lành tối thượng.
5. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi nấng vợ và con.
Làm nghề không rắc rối,
Là điềm lành tối thượng.
6. Bố thí, hành, đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm,
Là điềm lành tối thượng.
7. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong Pháp, không phóng dật,
Là điềm lành tối thượng.
8. Kính lễ và hạ ḿnh,
Biết đủ và biết ơn,
Đúng thời, nghe Chánh Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
9. Nhẫn nhục, lời ḥa nhă,
Yết kiến các Sa-môn,
Đúng thời, đàm luận Pháp,
Là điềm lành tối thượng.
10. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lư Thánh đế.
Giác ngộ quả: "Niết Bàn"
Là điềm lành tối thượng.
11. Khi xúc chạm việc đời
Tâm không động, không sầu,
Không uế nhiễm, an ổn,
Là điềm lành tối thượng.
12. Làm sự việc như vầy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
------------
Bài học Thứ Ba 01 tháng 01, 2008
KINH CHÂU BÁU (Rattana Sutta)
(Bản Anh ngữ: The Gem, trích từ “Some Sayings of the
Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
Kinh Châu Báu (Ratana Sutta)
1. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Mong rằng mọi sanh linh,
Được đẹp ư vui ḷng,
Vậy, hăy nên cẩn thận,
Lắng nghe lời dạy này.
2. Do vậy các sanh linh,
Tất cả hăy chú tâm,
Khởi lên ḷng từ mẫn,
Đối với thảy mọi loài,
Ban ngày và ban đêm,
Họ đem vật cúng dường,
Do vậy không phóng dật,
Hăy giúp hộ tŕ họ.
3. Phàm có tài sản ǵ,
Đời này hay đời sau,
Hay ở tại thiên giới,
Có châu báu thù thắng,
Không ǵ sánh bằng được,
Với Như Lai Thiện Thệ,
Như vậy, nơi Đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
4. Đoạn diệt và ly tham,
Bất tử và thù diệu.
Phật Thích-ca Mâu-ni,
Chứng Pháp ấy trong thiền,
Không ǵ sánh bằng được,
Với Pháp thù diệu ấy.
Như vậy, nơi Chánh Pháp,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
5. Phật, Thế Tôn thù thắng,
Nói lên lời tán thán,
Pháp thù diệu trong sạch,
Liên tục không gián đoạn,
Không ǵ sánh bằng được,
Pháp thiền vi diệu ấy.
Như vậy, nơi Chánh Pháp,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
6. Tám vị bốn đôi này,
Được bậc thiện tán thán.
Chúng đệ tử Thiện Thệ,
Xứng đáng được cúng dường.
Bố thí các vị ấy,
Được kết quả to lớn.
Như vậy, nơi tăng chúng,
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
7. Các vị ḷng ít dục,
Với ư thật kiên tŕ,
Khéo liên hệ mật thiết,
Lời dạy Gô-ta-ma!
Họ đạt được quả vị,
Họ thể nhập bất tử,
Họ chứng đắc dễ dàng,
Hưởng thọ sự tịch tịnh,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
8. Như cây trụ cột đá,
Khéo y tựa ḷng đất.
Dầu có gió bốn phương,
Cũng không thể dao động.
Ta nói bậc Chơn nhân,
Giống như thí dụ này,
Vị thể nhập với tuệ,
Thấy được những Thánh đế,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
9. Những vị khéo giải thích,
Những sự thật Thánh đế,
Những vị khéo thuyết giảng,
Với trí tuệ thâm sâu.
Dầu họ có hết sức,
Phóng dật không chế ngự,
Họ cũng không đến nỗi,
Sanh hữu lần thứ tám,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
10. Vị ấy nhờ đầy đủ,
Với chánh kiến sáng suốt,
Do vậy có ba pháp,
Được hoàn toàn từ bỏ,
Thân kiến và nghi hoặc,
Giới cấm thủ cũng không,
Đối với bốn đọa xứ,
Hoàn toàn được giải thoát.
Vị ấy không thể làm,
Sáu điều ác căn bản,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
11. Dầu vị ấy có làm,
Điều ǵ ác đi nữa,
Với thân hay với lời,
Kể cả với tâm ư,
Vị ấy không có thể,
Che đậy việc làm ấy,
Việc ấy được nói rằng,
Không thể thấy ác đạo.
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
12. Đẹp là những cây rừng,
Có bông hoa đầu ngọn,
Trong tháng hạ nóng bức,
Những ngày hạ đầu tiên,
Pháp thù thắng thuyết giảng,
Được ví dụ như vậy.
Pháp đưa đến Niết Bàn,
Pháp hạnh phúc tối thượng,
Như vậy, nơi Đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
13. Cao thượng biết cao thượng,
Cho đem lại cao thượng,
Bậc Vô thượng thuyết giảng,
Pháp cao thượng thù thắng,
Như vậy nơi đức Phật,
Là châu báu thù diệu,
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
14. Nghiệp cũ đă đoạn tận,
Nghiệp mới không tạo nên,
Với tâm tư từ bỏ,
Trong sanh hữu tương lai,
Các hột giống đoạn tận,
Ước muốn không tăng trưởng
Bậc trí chứng Niết Bàn,
Ví như ngọn đèn này,
Như vậy, nơi Tăng chúng,
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
15. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hăy đảnh lễ Đức Phật,
Đă như thực đến đây,
Được loài Trời, loài Người,
Đảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng, với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc.
16. Phàm ở tại nơi này,
Có sanh linh tụ hội,
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hăy đảnh lễ Chánh pháp,
Đă như thực đến đây,
Được loài Trời, loài Người,;
Đảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc.
17. Phàm ở tại đời này,
Có sanh linh tụ hội
Hoặc trên cơi đất này,
Hoặc chính giữa hư không,
Hăy đảnh lễ chúng Tăng,
Đảnh lễ và cúng dường,
Mong rằng với hạnh này,
Mọi loài được hạnh phúc
--------------
Bài học Thứ Tư 02 tháng 01, 2008
KINH BẢO TÀNG (Nidhikanda Sutta)
(Bản Anh ngữ: The Hidden Treasure, trích từ “Some Sayings
of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-8
1. Một người cất kho báu,
Ở tận dưới giếng sâu,
Nghĩ: "Nếu cần giúp đỡ,
Nó ích lợi cho ta".
2. Nếu bị vua kết án,
Hoặc trả các nợ nần,
Hoặc bị cướp giam cầm,
Và đ̣i tiền chuộc mạng,
Khi mất mùa, tai nạn,
Với mục đích như vầy,
Ở trên cơi đời này,
Sẽ đến giành kho báu.
3. Dẫu nó không bao giờ,
Được cất kỹ như vậy,
Ở tận dưới giếng sâu,
Vẫn không đủ hoàn toàn,
Giúp ích người mọi lúc.
4. Kho báu bị dời chỗ,
Hoặc người quên dấu vết,
Hoặc rắn thần lấy đi,
Hoặc thần linh tẩu tán,
5. Hoặc đám người thừa kế,
Kẻ ấy không chấp nhận,
Di chuyển kho báu đi,
Khi kẻ ấy không thấy.
Và khi phước đức tận,
Tất cả đều tiêu tan.
6. Những khi người nam, nữ,
Có bố thí, tŕ giới
Hoặc thiền định, trí tuệ,
Kho báu khéo để dành.
7. Trong chùa, tháp, Tăng đoàn,
Một cá nhân, lữ khách,
Hoặc người mẹ, người cha,
Hoặc là người anh nữa.
8. Kho này khéo để dành,
Đi theo người, không mất,
Giữa mọi vật phải rời,
Người cùng đi với nó.
9. Không ai khác chia phần,
Không cướp nào lấy được.
Vậy những kẻ tinh cần,
Hăy làm việc phước đức,
Kho báu ấy theo người,
Sẽ không bao giờ mất.
10. Đây là một kho báu,
Có thể làm thỏa măn,
Mọi ước vọng thiên, nhân,
Dù họ mong muốn ǵ,
Đều đạt được tất cả,
Nhờ công đức phước nghiệp.
11. Vẻ đẹp của màu da,
Vẻ đẹp của âm thanh,
Vẻ đẹp của dáng h́nh,
Vẻ đẹp của toàn thân,
Địa vị thật cao sang,
Cùng với đoàn hầu cận,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
12. Ngôi đế vương một cơi,
Cực lạc Chuyển luân vương,
Và ngự trên Thiên đường,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
13. Vẻ tối thắng của người,
Mọi hoan lạc cơi trời,
Hay tịch diệt tối thắng,
Tất cả đều đạt được
Nhờ phước nghiệp công đức.
14. Đạt tối thắng bằng hữu,
Chuyên tu tập chánh chân,
Đạt minh trí giải thoát,
Tất cả đều đạt được.
Nhờ phước nghiệp công đức.
15. Tứ vô ngại giải đạo,
Tám cấp độ giải thoát,
Viên măn trí Thanh văn,
Cả hai cách giác ngộ:
Độc giác, Chánh Đẳng giác,
Tất cả đều đạt được,
Nhờ phước nghiệp công đức.
16. Phước báo thật lớn lao,
Do công đức thù thắng,
V́ thế kẻ tinh cần,
Và những người có trí,
Đă tạo nện kho tàng.
Công đức nhờ phước nghiệp.
------------
Bài học Thứ Năm 03 tháng 01, 2008
1. KINH TÂM TỪ (Mettà Sutta)
(Bản Anh ngữ: Goodwill, trích từ “Some Sayings of the
Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb11-tt.htm#v-5
1. Vị thiện xảo mục đích,
Cần phải làm như sau:
Sau khi hiểu thông suốt,
Con đường an tịnh ấy,
Có khả năng trực tánh,
Thật sự, khéo chân trực,
Dễ nói và nhu ḥa,
Không có ǵ cao mạn.
2. Sống cảm thấy vừa đủ,
Nuôi sống thật dễ dàng,
Ít có sự rộn ràng,
Sống đạm bạc, giản dị.
Các căn được tịnh lạc,
Khôn ngoan và thận trọng,
Không xông xáo gia đ́nh,
Không tham ái, tham vọng.
3. Các hành sở của ḿnh,
Không nhỏ nhen, vụn vặt,
Khiến người khác có trí,
Có thể sanh chỉ trích,
Mong mọi loài chúng sanh,
Được an lạc, an ổn,
Mong chúng chứng đạt được,
Hạnh phúc và an lạc.
4. Mong tất cả những ai,
Hữu t́nh có mạng sống,
Kẻ yếu hay kẻ mạnh,
Không bỏ sót một ai,
Kẻ dài hay kẻ lớn,
Trung thấp, loài lớn, nhỏ.
5. Loài được thấy, không thấy,
Loài sống xa, không xa,
Các loài hiện đang sống,
Các loài sẽ được sanh,
Mong mọi loài chúng sanh,
Sống hạnh phúc an lạc.
6. Mong rằng không có ai,
Lường gạt, lừa dối ai,
Không có ai khinh mạn,
Tại bất cứ chỗ nào,
Không v́ giận hờn nhau,,
Không v́ tưởng chống đối.
Lại có người mong muốn,
Làm đau khổ cho nhau.
7. Như tấm ḷng người mẹ,
Đối với con của ḿnh,
Trọn đời lo che chở,
Con độc nhất ḿnh sanh.
Cũng vậy, đối tất cả
Các hữu t́nh chúng sanh,
Hăy tu tập tâm ư,
Không hạn lượng, rộng lớn.
8. Hăy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hăy tu tập tâm ư,
Không hạn lượng, rộng lớn,
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.
9. Khi đứng hay khi ngồi,
Khi ngồi hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang c̣n tỉnh thức,
Hăy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy.
Được đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng.
10. Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Đối với các dục vọng,
Không c̣n phải tái sanh,
Đi đến thai tạng nữa.
-----------
Bài học Thứ Sáu 04 tháng
01, 2008
2. CỔ XE THÙ THẮNG
(Bản Anh ngữ: The Car of the Norm, trích từ “Some Sayings
of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-45a.htm)
Ai được tín, trí tuệ,
Thường xuyên liên kết lại,
Lấy hổ thẹn làm cán,
Lấy ư làm ách xe.
Niệm là người đánh xe,
Biết hộ tŕ, pḥng hộ,
Cỗ xe lấy giới luật
Làm vật dụng cho xe.
Thiền là trục bánh xe,
Tinh tấn là bánh xe,
Xả là định thường hằng,
Vô dục là nệm xe.
Vô sân và vô hại,
Viễn ly là binh khí,
Nhẫn nhục là áo giáp,
An ổn khỏi khổ ách,
Làm mục đích đạt đến,
Cỗ xe được chuyển vận.
Pháp này tự ngă làm,
Trở thành thuộc tự ngă.
Là cỗ xe thù thắng,
Vô thượng, không sánh bằng.
Ngồi trên cỗ xe ấy,
Bậc Trí thoát ly đời,
Chắc chắn, không sai chạy,
Họ đạt được chiến thắng.
Bài học Thứ
Bảy 05 tháng
01, 2008
3. THẦY VÀ ĐỆ TỬ
(Bản Anh Ngữ: Teacher and Pupil, trích từ Some Sayings of
the Buddha, dịch giả Woodward, F.L.. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-01b.htm)
Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy dạy học. Này các tỳ
khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học tṛ tâm của người con và người học
tṛ sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng
nhau có nhiều kính trọng, có sự vâng lời, có sự tiếp xúc với nhau, họ sẽ đạt đến
sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này. Này các tỳ
khưu, ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương
nhờ.
DUYÊN SỰ:
Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ bỏ đi, hoàn
tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các tỳ khưu trở thành không có thầy dạy học, và
trong khi không được giáo huấn, không được chỉ dạy (nên đă) mặc y luộm thuộm,
trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Khi dân chúng
đang ăn, các vị đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức ăn loại mềm (của dân
chúng), ... ở phía trên thức ăn loại cứng, ... ở phía trên thức ăn có hương vị,
các vị đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự ḿnh yêu cầu xúp
và cơm rồi thọ thực, và các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn
ào ở trong nhà ăn. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y
luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và khi dân chúng
đang ăn, các vị lại đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức ăn loại mềm (của dân
chúng), ... ở phía trên thức ăn loại cứng, ... ở phía trên thức ăn có hương vị,
các vị lại đưa b́nh bát đă mở ra ở phía trên thức uống, các vị tự ḿnh yêu cầu
xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống (thường xuyên) gây nên sự náo nhiệt, sự ồn
ào ở trong nhà ăn giống như các bà-la-môn trong bữa ăn của các bà-la-môn vậy?
Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- V́ sao các vị tỳ khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm
thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách ...(như trên)... sự ồn ào ở trong nhà ăn
nữa?
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. ...(như trên)...
- Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu mặc y luộm thuộm,
trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách ...(như trên)... sự ồn ào ở
trong nhà ăn nữa, có đúng không vậy?
- Bạch Thế Tôn, đúng vậy.
Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: ...(như trên)...
Sau khi khiển trách, ngài đă thuyết Pháp thoại rồi dạy các
tỳ khưu như trên:
---------
4. AN CƯ MÙA MƯA
(Bản Anh Ngữ: Keeping the Rainy Season, trích từ Some
Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-03.htm)
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự
tại thành Rājagaha (Vương Xá), Veḷuvana
(Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, việc cư trú mùa mưa
chưa được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu. Trong trường hợp này, các vị tỳ
khưu ấy đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại sao các sa-môn Thích tử lại
đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Các vị đang
dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hăm hại mạng sống của loài chỉ có một giác
quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ nhoi. Ngay cả
các du sĩ ngoại đạo này có giáo lư được thuyết tồi tệ vẫn bám víu và sống cố
định trong mùa cư trú mưa, ngay cả những con chim này sau khi làm tổ trên các
ngọn cây cũng bám víu và sống cố định trong mùa cư trú mưa; c̣n các sa-môn Thích
tử này lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa.
Các vị đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hăm hại mạng sống của loài chỉ có
một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt nhiều chúng sanh nhỏ
nhoi.
Các tỳ khưu đă nghe được những
người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc
ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta cho phép
vào mùa (an cư) mưa (vassaṃ).