BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 25/02 ĐẾN 01/03/2008

 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT TUỆ SIÊU// TT GIÁC ĐẲNG//NI SƯ LIỄU PHÁP

 

Thứ Hai: TT Giác Đẳng:  "ĐỐI ĐĂI VỚI BẠN ĐỒNG PHẠM HẠNH "(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền
"TẤM Y PHẤN TẢO CỦA ĐỨC THẾ TÔN" . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư: Ni Sư Liễu Pháp :
"TÁM TRỌNG PHÁP". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu  "
V̀ SAO DIỆU PHÁP KHÔNG TỒN TẠI SAU KHI THẾ TÔN TỊCH DIỆT"(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: :ĐĐ Pháp Đăng
"VÔ THƯỢNG Y SĨ " (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ Pháp Tân ...
"
CHĂM SÓC NGƯỜI  BỆNH " (Toát Yếu: Như Quang)

 

 

(Bài giảng Thứ Hai, 25/02/08 )

ĐỐI ĐĂI VỚI BẠN ĐỒNG PHẠM HẠNH

(Bản Anh Ngữ: How to Treat a Brother, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong29.htm)

 

18. Này Cunda, các Ngươi hăy hội họp với nhau trong tinh thần ḥa đồng và tương kính, không có tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng "Vị Đại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc", các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy:

 

"Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?" Nếu vị ấy trả lời: "Này Hiền giả, với nghĩa này, cách hành văn này thích hợp hơn cách hành văn kia. Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia", các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích cho vị ấy một cách cẩn thận cả nghĩa lẫn hành văn.

 

19. Lại nữa này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: "Vị Đại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng đắn", các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không thán thán, không bác bỏ, các ngươi nên nói với vị ấy: "Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?" Nếu vị ấy trả lời: "Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia", các Ngươi không nên bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích một cách cẩn thận ư nghĩa đúng đắn cho vị ấy.

 

20. Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi nghĩ rằng: "Vị Đại đức này nắm nghĩa đúng đắn, nhưng hành văn sai lạc", các Ngươi không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên nói với vị ấy: "Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?" Nếu vị ấy trả lời: "Giữa những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia", các Ngươi không nên bác bỏ vị ấy, không nên phỉ báng vị ấy. Không bác bỏ, không phỉ báng, các ngươi phải giải thích một cách cẩn thận cách hành văn cho vị ấy.

 

21. Này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng, nếu các Ngươi nghĩ rằng: "Vị Đại đức này nắm nghĩa đúng đắn và hành văn đúng đắn", các Ngươi nên tán đồng và tán thán vị ấy với câu: "Thật là tốt đẹp", các Ngươi phải nói với vị ấy" "Thật là tốt đẹp", các Ngươi phải nói với vị ấy: "Này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi, này Hiền giả thật là lợi ích cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi; này Hiền giả, thật là may mắn cho chúng tôi, khi chúng tôi thấy một vị đồng phạm hạnh như Hiền giả, tinh thông nghĩa lư như vậy, tinh thông hành văn như vậy".

 

 

 (Bài giảng Thứ Ba, 26/02/08 )

 

TẤM Y PHẤN TẢO CỦA ĐỨC THẾ TÔN 

 

(Bản Anh Ngữ: The Master’s Robes of Rags, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-16.htm)

 

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda:

- Này Hiền giả Ananda, lời nói của Tỷ-kheo-ni Thullatissà thật là đường đột, không đắn đo suy nghĩ! Này Hiền giả, v́ rằng ta là người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, ta không chấp nhận một Đạo Sư nào khác ngoài Thế Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác.

Rồi Tôn giả Mahà Kassapa nói với Tôn giả Ananda quá tŕnh tu tập của ḿnh từ khi c̣n là một gia chủ cho đến khi tự lấy vải cắt làm áo Tăng-già-lê, và theo thông lệ các vị Ứng Cúng ở đời, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh trở thành đệ tử của Đức Thế Tôn. Trong khi đang đi trên đường, tôn giả thấy Thế Tôn ngồi tại ngôi đền Bahaputta giữa Ràjagaha và Nàlandà. Tôn giả đảnh lể Đức Thế Tôn và được ngài dạy cho các bài học như sau:

- Một tâm quư thật sắc sảo sẽ phải được thiết lập giữa các vị Trưởng lăo, niên thiếu và trung niên.

- Phàm pháp ǵ tôi nghe, liên hệ đến thiện, sau khi đặc biệt chú ư, tác ư, tập trung tất cả tâm (lực), tất cả pháp ấy tôi đều lóng tai nghe.

- Phàm niệm ǵ thuộc về thân hành, câu hữu với hỷ, ta sẽ không bỏ niệm ấy.

Trong bảy ngày, ngài ăn món ăn của quốc độ, đến ngày thứ tám, chánh trí khởi lên.

Tôn giả Kassapa dâng cúng cho Thế Tôn tấm y Tăng Già Lê làm bằng vải cắt và nhận tấm y làm bằng vải gai thô đáng được quăng bỏ của Đức Thế Tôn. Ngài được xem là con ruột Thế Tôn, sanh ra từ miệng, do pháp sanh, do pháp hóa sanh, thừa tự Chánh pháp và đă nhận được tấm y phấn tảo, làm bằng vải gai thô, đáng được quăng bỏ.

 

Rồi Tôn giả chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ, sau đó do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại ngài tự ḿnh với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Ngài nói với Tôn giả Ananada:

- Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác ǵ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.

 

 

 (Bài giảng Thứ Tư, 27/02/08 )

 

TÁM TRỌNG PHÁP  

 

(Bản Anh Ngữ: The Admission of Women to the Order, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-10.htm)

Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự trong lănh thổ của ḍng Sākya (Thích Ca) ở thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), tu viện Nigrodha. Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī đă đi đến gặp đức Thế Tôn, đảnh lễ đức Thế Tôn và bạch với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố.

- Này Gotamī, thôi đi! Bà chớ có nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố nữa.

Bà Mahapajapati bạch đến lần thứ nh́, lần thứ ba, đức Thế Tôn vẫn từ chối.

 

Bà Mahāpajāpati Gotamī khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, vừa khóc lóc, vừa đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

 

Sau đó, đức Thế Tôn du hành đi về phía thành Vesālī và ngự tại Mahāvana (Đại Lâm), giảng đường Kūāgāra.

 

Khi ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī đă nhờ người cạo tóc, khoác y phục màu ca-sa cùng với nhiều người nữ ḍng Sākya đă ra đi về hướng thành Vesālī, tuần tự đă đi đến thành Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūāgāra. Bà Mahāpajāpati Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân h́nh phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cổng ra vào. Đại đức Ānanda sau khi nh́n thấy bà Mahāpajāpati Gotamī với hai bàn chân sưng vù, thân h́nh phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cổng ra vào liền hỏi nguyên do. Bà cho biết bởi v́ đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố nên bà mới khổ sở như thế. Ngài Ananda hứa sẽ cầu xin với Đức Thế Tôn.

Sau đó, đại đức Ānanda đă đi đến gặp đức Thế Tôn và nói với đức Thế Tôn điều này:

- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati Gotamī này với hai bàn chân sưng vù, thân h́nh phủ đầy bụi bặm, khổ sở, buồn rầu, mặt mày ủ dột, đang đứng khóc lóc ở bên ngoài cổng ra vào (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn không cho phép người nữ việc rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố.” Bạch ngài, tốt đẹp thay người nữ có thể đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố.

 

Đại đức Ananda bạch đến lần thứ nh́, lần thứ ba đức Thế Tôn vẫn bảo:

- Này Ānanda, thôi đi! Ngươi chớ có nghĩ đến việc nữ nhân rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố nữa.

 

Khi ấy, đại đức Ānanda nghĩ có lẽ ta nên cầu xin đức Thế Tôn việc người nữ rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố bằng một phương thức khác. Sau đó, đại đức Ānanda đă nói với đức Thế Tôn điều này:

 

- Bạch ngài, sau khi rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố, người nữ có khả năng chứng đạt quả vị Nhập Lưu, hoặc quả vị Nhất Lai, hoặc quả vị Bất Lai, hoặc quả vị A-la-hán hay không?

 

- Này Ānanda, sau khi rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố, nữ nhân có khả năng chứng đạt quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, luôn cả quả vị A-la-hán.

 

Qua lời xác nhận của Đức Thế Tôn, Đại Đức Ananda cầu xin Đức Thế Tôn cho bà Mahāpajāpati Gotamī xuất gia v́ bà có nhiều công đức đối với đức Thế Tôn, là d́ ruột, là người chăm sóc, là người nuôi dưỡng, là người cho sữa, bà đă cho đức Thế Tôn bú sữa khi người mẹ ruột qua đời.

- Này Ānanda, nếu bà Mahāpajāpati Gotamī thọ nhận tám Trọng Pháp, hăy xem chính điều ấy là sự tu lên bậc trên đối với bà.

Sau đó, đại đức Ānanda đă học tám Trọng Pháp từ đức Thế Tôn rồi đă đi đến gặp bà Mahāpajāpati Gotamī, lặp lại những lời Phật dạy và hỏi bà Gotami:

-Này bà Gotamī, nếu bà có thể thọ nhận tám Trọng Pháp này th́ chính điều ấy sẽ là sự tu lên bậc trên đối với bà.

Bà Mahāpajāpati Gotamī hoan hỷ thọ nhận tám Trọng Pháp. Đại Đức Ananda bạch với Đức Thế Tôn:

- Bạch ngài, bà Mahāpajāpati Gotamī đă thọ nhận tám Trọng Pháp. Người d́ của đức Thế Tôn đă được tu lên bậc trên.

Nghe vậy, Đức Thế Tôn dạy:

-Này Ānanda, nếu nữ nhân không đạt được sự xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố, này Ānanda, Phạm hạnh có thể sẽ được tồn tại lâu dài, Thánh Pháp (saddhamma) có thể tồn tại một ngàn năm. Này Ānanda, bởi v́ nữ nhân đă xuất gia rời nhà sống không nhà trong Pháp và Luật đă được đức Như Lai công bố, này Ānanda, giờ đây Phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, này Ānanda, giờ đây Thánh Pháp sẽ tồn tại chỉ c̣n năm trăm năm.

 

 

(Bài giảng Thứ Năm, 28/02/08 )

 

V̀ SAO DIỆU PHÁP KHÔNG TỒN TẠI SAU KHI THẾ TÔN TỊCH DIỆT   

 

(Bản Anh Ngữ: Why the Good Norm Will not Endure, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-1926.htm)

 

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kimbila, tại Veluvana. Rồi Tôn giả Kimbila đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

 

2. - Do nhân ǵ, do duyên ǵ, bạch Thế Tôn, sau khi Như Lai nhập diệt, Chánh pháp không được an trú lâu ngày?

 

- Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn trọng, không vâng lời bậc Đạo sư; sống không tôn trọng, không vâng lời Pháp; sống không tôn trọng, không vâng lời chúng Tăng; sống không tôn trọng, không vâng lời học pháp; sống không tôn trọng, không vâng lời lẫn nhau. Do nhân này, do duyên này, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp không được an trú lâu ngày.

 

3. Do nhân ǵ, do duyên ǵ, bạch Thế Tôn, sau khi Như Lai nhập diệt, Chánh pháp được an trú lâu ngày?

 

- Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống tôn trọng và vâng lời bậc Đạo sư; sống tôn trọng và vâng lời Pháp; sống tôn trọng và vâng lời chúng Tăng; sống tôn trọng và vâng lời học pháp; sống tôn trọng và vâng lời lẫn nhau. Đây là nhân, đây là duyên, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp được tồn tại lâu dài.

 

(Bài giảng Thứ Sáu, 29/02/08 )

 

VÔ THƯỢNG Y SĨ   

 

(Bản Anh Ngữ: The Incomparable Physician, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv3.htm)

 

Điều này đă được Thế Tôn nói đến, đă được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đă được nghe:

 

Này các Tỷ-kheo, Ta là Bà-la-môn, người được đến yêu cầu, tay luôn luôn thanh tịnh, mang thân cuối cùng, vô thượng y sĩ chữa trị, y sĩ giải phẫu. Các Thầy thật là con của Ta từ miệng sanh, từ Pháp sanh, từ Pháp tạo thành, thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật.

 

 (Bài giảng Thứ Bảy, 01/03/08 )

 

CHĂM SÓC NGƯỜI  BỆNH 

 

(Bản Anh Ngữ: Tend the Sick, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-08.htm)

 

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy đă bị té vào đống phân và nước tiểu của chính ḿnh. Khi ấy, trong lúc đang đi dạo quanh các trú xá cùng với đại đức Ānanda là sa-môn hầu cận, đức Thế Tôn đă đi đến trú xá của vị tỳ khưu ấy. Đức Thế Tôn đă nh́n thấy vị tỳ khưu ấy té và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính ḿnh, sau khi nh́n thấy đă đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đă nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

- Này tỳ khưu, ngươi bị bệnh ǵ?

- Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.

- Này tỳ khưu, ngươi không có người phục vụ?

- Bạch Thế Tôn, không có.

- V́ sao các vị tỳ khưu lại không phục vụ ngươi?

- Bạch ngài, con là người không có làm ǵ cho các vị tỳ khưu, do đó các vị tỳ khưu không phục vụ con.

Khi ấy, đức Thế Tôn đă bảo đại đức Ānanda rằng:

- Này Ānanda, hăy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm cho vị tỳ khưu này.

- Bạch ngài, xin vâng.

Rồi đại đức Ānanda nghe theo đức Thế Tôn đă mang nước lại. Đức Thế Tôn đă xối nước và đại đức Ānanda đă rửa ráy toàn bộ. Rồi đức Thế Tôn đă đỡ phần đầu c̣n đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân và đặt ở trên giường. Sau đó, đức Thế Tôn đă triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi dạy:

- Này các tỳ khưu, các ngươi không có mẹ, không có cha là những người có thể phục vụ các ngươi. Này các tỳ khưu, nếu các ngươi không phục vụ lẫn nhau th́ khi ấy lấy ai sẽ phục vụ đây? Này các tỳ khưu, vị nào có thể phục vụ ta, vị ấy nên phục vụ những người bệnh. Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có đệ tử, người đệ tử nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có học tṛ, người học tṛ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên phục vụ đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục. Nếu không có thầy tế độ, hoặc thầy dạy học, hoặc người đệ tử, hoặc người học tṛ, hoặc vị đồng thầy tế độ, hoặc vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên phục vụ; nếu không phục vụ th́ phạm tội dukkaa (tác ác).