BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 14/01/2008 ĐẾN 19/01/2008

 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT GIÁC ĐẲNG

 

Thứ Hai: TT Giác Đẳng .:  "1. NÓI LỜI VÔ ÍCH"(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền
"2. CHÁNH NGỮ " . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư: ĐĐ Huyền Vân:
"3. THÁNH IM LẶNG I". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu  "
THÁNH IM LẶNG (II)"(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: Ni Sư Liễu Pháp :
"THÁNH IM LẶNG (III)" (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ Pháp Tân ...
"
THÁNH IM LẶNG (IV)" (Toát Yếu: Như Quang)

 

Sáu bài đầu của chương Thiệt căn: Nói lời vô ích. Chánh ngữ. Thánh im lặng (I), (II), (III) và (IV).

Bài học Thứ Hai 14 tháng 01, 2008

1. NÓI LỜI VÔ ÍCH

 

(Bản Anh Ngữ: Unprofitable Talk, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-05.htm

 

Vào lúc bấy giờ, sau khi thức dậy vào lúc hừng sáng của đêm các tỳ khưu nhóm Lục Sư mang các đôi guốc gỗ (kaṭṭhapādukā) đi kinh hành ở ngoài trời, trong khi nói chuyện to giọng, lớn tiếng, với âm thanh ồn ào về các chuyện nhảm nhí liên quan đến nhiều vấn đề như là: chuyện đức vua, chuyện kẻ trộm, chuyện quan đại thần, chuyện binh lính, chuyện ghê rợn, chuyện vũ khí, chuyện thức ăn, chuyện nước uống, chuyện vải vóc, chuyện giường nằm, chuyện ṿng hoa, chuyện hương thơm, chuyện thân quyến, chuyện xe cộ, chuyện làng xóm, chuyện thị trấn, chuyện thành thị, chuyện quốc gia, chuyện đàn bà, chuyện đàn ông, chuyện người hùng, chuyện đường xá, chuyện về chỗ có hũ (của cải chôn giấu), chuyện ma quỷ, chuyện linh tinh, chuyện tiên đoán về thế gian, chuyện tiên đoán về đại dương, chuyện sẽ xảy ra và sẽ không xảy ra như vầy hay là như vầy, các vị vừa dẫm đạp giết chết côn trùng vừa làm cho các tỳ khưu không tập trung được thiền định.

-------------

Bài học Thứ Ba 15 tháng 01, 2008

 

2. CHÁNH NGỮ

 

(Bản Anh Ngữ: The Ariyan Speech, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0507.htm)

 

Nói chuyện với hiềm thù

Thiên chấp và kiêu mạn

Nghịch lại đức bậc Thánh

Bới móc lỗi lầm nhau

Thích nghe nói xấu người

Người lầm, người bối rối

Người bị thua, bị hại

Bậc Thánh không làm vậy.

Nếu muốn cùng đàm luận

Bậc hiền biết thời gian

Câu chuyện của bậc Thánh

Liên hệ pháp, pháp nghĩa

Người có trí nói chuyện

Không hiềm thù kiêu mạn

Với tâm không chấp trước

Không hiềm hận độc đoán

Không để tâm lơ đăng

Nói lên với chánh trí

Hoan hỷ lời khéo nói

Không vui lời vụng về

Không học cách chỉ trích,

Không chụp sơ hở người

Không nhiếc mắng đánh đập

Không nói lời vu vơ

Lời nói của bậc Thánh

Vừa dạy vừa hoan hỷ

Như vầy bậc Thánh nói

Như vầy bậc Thánh luận đàm

Bậc trí biết rơ vậy

Nói lời thật khiêm tốn

----------

Bài học Thứ Tư 16 tháng 01, 2008

 

3. THÁNH IM LẶNG I

 

(Bản Anh Ngữ: Silence (I), trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong02.htm)

 

J́vaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, các kiệu voi đă sẵn sàng. Ngài hăy làm những ǵ Ngài xem là phải thời". Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, c̣n ḿnh th́ leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của J́vaka Komàrabhacca.

Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hăi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hăi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với J́vaka Komàrabhacca:

- Này khanh J́vaka, người phản ta chăng? Này khanh J́vaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh J́vaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một ngh́n hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?

- Tâu Đại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Đại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Đại Vương, hăy đi thẳng tới; tâu Đại vương hăy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tṛn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.

Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tṛn. Khi đến nơi liền nói với J́vaka Komàrabhacca:

- Này khanh J́vaka, Thế Tôn ở tại đâu?

- Tâu Đại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Đại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.

Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nh́n khắp chúng Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: "Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy".

--------------

 Bài học Thứ Năm 17 tháng 01, 2008

THÁNH IM LẶNG (II)

(Bản Anh Ngữ: Silence (II), trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi04-1921.htm)

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma trong lâu đài của mẹ Migàrà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày lễ trai giới, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo vây quanh. Sau khi nh́n quanh chúng Tỷ-kheo đang im lặng, im lặng, rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

- Không nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này; không nói lời vô ích, này các Tỷ-kheo, là hội chúng này, thanh tịnh, an lập trên căn bản. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo; hội chúng như vậy khó t́m được ở đời! Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng như vậy, đáng được tôn trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy dầu cho ít, được lợi nhiều, c̣n cho nhiều, lại được lợi nhiều hơn nữa. Chúng Tỷ-kheo này như vậy, này các Tỷ-kheo, hội chúng này như vậy, này các Tỷ-kheo! Hội chúng này như vậy, nếu phải đi một do tuần để được yết kiến cũng nên đi, dầu có phải mang theo trên vai túi đựng đồ ăn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là chúng Tỷ-kheo này.

 Bài học Thứ Sáu 18 tháng 01, 2008

THÁNH IM LẶNG (III)

(Bản Anh Ngữ: The Ariyan Silence (iii), trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-21.htm)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2) Tại đấy, Tôn giả Mahà Moggallàna (Đại Mục-kiền-liên) gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Hiền giả Tỷ-kheo.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahà Moggallàna.

3) Tôn giả Mahà Moggallàna nói:

-- Ở đây, này Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm tưởng tư duy như sau được khởi lên: "Thánh im lặng được gọi là Thánh im lặng. Thế nào là Thánh im lặng?"

4) Rồi này các Hiền giả, tôi suy nghĩ như sau: "Ở đây, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm". Như vậy gọi là Thánh im lặng.

5) Rồi này các Hiền giả, tôi diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Hiền giả, khi tôi an trú với sự an trú như vậy, các tưởng câu hữu với tầm, các tác ư hiện khởi và hiện hành.

6) Rồi này các Hiền giả, Thế Tôn bằng thần thông đến với tôi và nói: "Moggallàna, Moggallàna, chớ có phóng dật. Này Bà-la-môn, đối với Thánh im lặng, hăy an trú tâm vào Thánh im lặng, hăy chú nhất tâm vào Thánh im lặng, hăy chú định tâm vào Thánh im lặng".

 Bài học Thứ Bảy 19 tháng 01, 2008

THÁNH IM LẶNG (IV)

(Bản Anh Ngữ: The Ariyan Silence (IV), trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt1.htm)

Bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn v́ ḷng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka!

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang hội họp tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết cuộc thuyết pháp đă xong, liền đằng hắng và gơ vào thanh cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ đă soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, các Người nay hội họp bàn vấn đề ǵ? Và câu chuyện ǵ giữa các Người bị gián đoạn?

-- Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.

-- Này các Tỷ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, v́ ḷng tin xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỷ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.