Bài giảng tuần lễ từ 14 tháng 07 đến 19 tháng 07, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Tuệ Siêu//TT Giác Đẳng/ Ni Sư Liễu Pháp.
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân:
"HAI
VỊ SỨ GIẢ"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ
Tuệ Quyền
.
"NHỮNG CÂU HỎI VỀ BỐN ĐẠI"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: Ni Sư Liễu Pháp - "PHÁP
VÔ VI " (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu "HAI
CON ĐƯỜNG"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "NIẾT
BÀN"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
..ĐĐ
Pháp Tân"NIẾT
BÀN LÀ CỨU CÁNH"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
Thứ Hai ngày 14 tháng 07, 2008
HAI VỊ SỨ GIẢ
(Bản Anh Ngữ: The Message of Nibbanà, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iv. 194) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: )
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35g.htm)
Kinh Tương Ưng Sáu xứ, Phẩm Rắn Độc, tiểu phẩm 204. VIII. Phải Gọi Là Ǵ (Kimsukà) (S.iv,191) câu 8-9
8- Ví như, này Tỷ-kheo, có ngôi thành của vua ở biên giới được xây dựng với pháo đài kiên cố, với tường và tháp canh kiên cố và có đến sáu cửa thành. Tại đấy có người giữ cửa thành, là bậc thông minh, có kinh nghiệm và có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Từ phương Đông, hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn, vị chủ thành tŕ này ở đâu?" Người giữa cửa thành ấy nói: "Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngă tư đường". Hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục đi theo con đường họ đến. Từ phương Tây, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến... từ phương Bắc, lại hai người sứ giả cấp tốc đi đến, và nói với người giữ cửa thành: "Này Bạn, vị chủ thành tŕ này ở đâu?" Người giữ cửa thành ấy nói: "Thưa các Tôn giả, vị ấy đang ngồi giữa ngă tư đường". Rồi hai người sứ giả ấy cấp tốc tuyên bố lời như thật ngữ cho vị chủ ngôi thành, rồi tiếp tục theo con đường họ đến.
9- Này Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ để giải thích ư nghĩa, và đây là ư nghĩa: Ngôi thành, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân do bốn đại chủng tạo thành này, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tiêu ṃn, tiêu hao, hủy hoại, hủy diệt. Sáu cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Người giữ cửa, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với niệm. Hai vị sứ giả cấp tốc, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với chỉ và quán. Người chủ ngôi thành là đồng nghĩa với thức. Ở giữa tại ngă tư đường là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới. Lời như thật ngữ, này Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn. Theo con đường họ đến là đồng nghĩa với con đường Thánh đạo Tám ngành. Như chánh tri kiến... chánh định.
Thứ Ba ngày 15 tháng 07, 2008
NHỮNG CÂU HỎI VỀ BỐN ĐẠI
(Bản Anh Ngữ: The Unmanifested, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. i.222) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong11.htm)
Trường Bộ Kinh chương 11. Kinh Kevaddha (Kiên Cố) câu số 85
"Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền". Cũng vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đă t́m cho đến Phạm thiên giới mà không gặp được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta. Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?". Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:
"Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?" và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:
"Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.
Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế, thô, tịnh và bất tịnh.
Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn.
Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận".
Thứ Tư ngày 16 tháng 07, 2008
PHÁP VÔ VI
(Bản Anh Ngữ: The Uncompounded, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iv. 359) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: )
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-43.htm)
Tương Ưng Bộ Kinh, Kinh Tương Ưng Vô Vi, I. Thân (S.iv. 359)
1) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng về pháp vô vi và con đường đưa đến vô vi (asankhata). Hăy lắng nghe.
2) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vô vi? Này các Tỷ-kheo, sự đoạn tận tham, sự đoạn tận sân, sự đoạn tận si. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô vi.
3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường đưa đến vô vi? Thân niệm (kàyagatà sati), này các Tỷ-kheo, đây gọi là con đường đưa đến vô vi.
4) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta thuyết về vô vi, Ta thuyết về con đường đưa đến vô vi.
5) Này các Tỷ-kheo, những ǵ một bậc Đạo sư cần phải làm cho những đệ tử, v́ hạnh phúc, v́ ḷng từ mẫn, v́ khởi lên ḷng từ mẫn đối với họ; tất cả, Ta đă làm đối với các Ông.
6) Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hăy tu tập Thiền định. Chớ có phóng dật. Chớ để hối hận về sau. Đây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Thứ Năm ngày 17 tháng 07, 2008
HAI CON ĐƯỜNG
(Bản Anh Ngữ: The Two Paths, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 106) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22e.htm)
Tương Ưng Bộ Kinh, Tương Ưng Uẩn, IV. Phẩm Trưởng Lăo, Tiểu phẩm II. Tissa (Tạp 10, Đại 2,71a) (S.iii,106)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, nói với một số đông Tỷ-kheo:
-- Này chư Hiền, thân ta như bị say v́ vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rơ các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không c̣n thoải mái, và ta nghi ngờ đối với các pháp.
Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn về điều ấy. Thế Tôn cho mời Tôn giả Tissa đến và hỏi:
-- Có thật chăng, Ông đă nói như sau cho một số đông Tỷ-kheo: "Này chư Hiền, thân ta như bị say v́ vị ngọt... và ta nghi ngờ đối với các pháp"?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Nghe như vậy Thế Tôn đặt cho tôn giả Tissa những câu hỏi về người chưa ly tham, dục, ái, khát, nhiệt t́nh, khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, năo không? Và người chưa ly tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... người chưa ly tham đối với các hành, thời khi các hành ấy biến hoại, đổi khác, có khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, năo không?
Tôn giả Tissa trả lời:
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Thế Tôn tán than tôn giả Tissa, và đặt câu hỏiI về người đă ly tham, đă ly dục, đă ly ái, đă ly khát, đă ly khát ái, đă ly nhiệt t́nh, đă ly khát ái đối với sắc, thời khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, năo có khởi lên không? Đối với người đă ly tham đối với sắc. Đối với người đă ly tham, đă ly dục, đă ly ái, đă ly khát, đă ly khát ái, đă ly nhiệt t́nh, đă ly khát ái đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... Như người đă ly tham đối với các hành, người đă ly tham, đă ly dục, đă ly ái, đă ly khát, đă ly khát ái đối với thức, thời khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sầu, bi, khổ, ưu, năo có khởi lên không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
Thế Tôn lại hỏi tôn giả Tissa về sắc, thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn đưa ra ví dụ về hai người, một không giỏi về đường sá, một giỏi về đường sá. Người không giỏi về đường sá hỏi người giỏi về đường sá về con đường. Người ấy trả lời: "Hăy đi, này Bạn, đây là con đường. Hăy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy một thời gian, Bạn sẽ thấy con đường ấy chia làm hai. Ở đây, hăy bỏ con đường phía trái, và lấy con đường phía mặt. Rồi đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khu rừng rậm. Hăy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một đầm nước lớn. Hăy đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một vực nước sâu. Hăy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một khoảnh đất bằng khả ái!"
-- Đây là ví dụ của Ta dùng, này Tissa, để nêu rơ ư nghĩa. Và ư nghĩa như sau:
-- Người không giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá, này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
-- Con đường chia làm hai, này Tissa, là ví cho trạng thái nghi hoặc. Con đường tay trái, này Tissa, là ví cho con đường tà đạo tám ngành, tức là tà tri kiến... tà định. Con đường tay mặt, này Tissa, là ví cho con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định.
-- Khu rừng rậm, này Tissa, là ví cho vô minh. Các đầm nước thấp, này Tissa, là ví cho các dục. Vực nước sâu, này Tissa, là ví cho phẫn nộ, ưu năo. Khoảnh đất bằng phẳng khả ái, này Tissa, là ví cho Niết-bàn.
-- Hăy hoan hỷ, này Tissa! Hăy hoan hỷ, này Tissa! Ta giáo giới (cho Ông), Ta giúp đỡ (cho Ông), Ta giảng dạy (cho Ông).
Thứ Sáu ngày 18 tháng 07, 2008
NIẾT BÀN
(Bản Anh Ngữ: Nibbana, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 188) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-23.htm)
Tương Ưng Ràdha, Phẩm thứ II. Chúng Sanh (Tạp 6, Đại 2,40a) (S.iii,189)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Chúng sanh, chúng sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
4) -- Này Ràdha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh (sattà).
5-7) ... thọ... tưởng... các hành...
8) Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
9) Ví như, này Ràdha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất ấy, ḷng tham chưa thoát ly, ḷng dục chưa thoát ly, ḷng ái chưa thoát ly, ḷng khát chưa thoát ly, ḷng nhiệt t́nh chưa thoát ly, ḷng khát ái chưa thoát ly, thời chúng c̣n tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và đắm trước những nhà bằng đất ấy.
10) Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những nhà bằng đất kia, ḷng tham đă thoát ly, ḷng dục đă thoát ly, ḷng ái đă thoát ly, ḷng khát đă thoát ly, ḷng nhiệt t́nh đă thoát ly, ḷng khát ái đă thoát ly, thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
11) Cũng vậy, này Ràdha, Ông hăy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với sắc.
12-14) ... thọ... tưởng... các hành...
15) ... Ông hăy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
16) Đoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết-bàn.
Thứ Bảy ngày 19 tháng 07, 2008
NIẾT BÀN LÀ CỨU CÁNH
(Bản Anh Ngữ: Nibbana Is Release, trích từ Some Sayings of the Buddha, ( S.N. iii. 187) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-23.htm)
Tương Ưng Ràdha, Phẩm thứ nhất, I. Màra (Tạp 6, Đại 2,39b) (S.iii,188)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Màra, Màra", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
4) -- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hăy thấy sắc là sự chết, hăy thấy là sát giả, hăy thấy là bị chết, hăy thấy là bệnh, hăy thấy là ung nhọt, hăy thấy là mũi tên, hăy thấy là bất hạnh, hăy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
5-7) ... Thọ... tưởng... các hành...
8) Nếu có thức, này Ràdha, thời có chết, hay có sát giả, hay có bị chết. Do vậy, này Ràdha, Ông hăy thấy thức là sự chết, hăy thấy là sát giả, hăy thấy là bị chết, hăy thấy là bệnh hoạn, hăy thấy là ung nhọt, hăy thấy là mũi tên, hăy thấy là bất hạnh, hăy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức như vậy là thấy chơn chánh.
9) -- Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích ǵ?
-- Chánh quán, này Ràdha, với mục đích nhàm chán.
10) -- Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích ǵ?
-- Nhàm chán, này Ràdha, với mục đích ly tham.
11) -- Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích ǵ?
-- Ly tham, này Ràdha, với mục đích được giải thoát.
12) -- Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích ǵ?
-- Giải thoát, này Ràdha, với mục đích Niết-bàn.
13) -- Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích ǵ?
Này Ràdha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Ràdha, là sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng; Niết-bàn là cứu cánh.