Bài giảng tuần lễ từ 21 tháng 07 đến 26 tháng 07, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Tuệ Siêu//TT Giác Đẳng/ Ni Sư Liễu Pháp.
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân :
"NIẾT
BÀN LÀ SỰ ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ
Tuệ Quyền
.
"HẢI ĐẢO TỰ THÂN (I)(II)"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: Ni Sư Liễu Pháp - " KHUYẾT
ĐIỂM CỦA ANANDA (I)
(2) - ĐĂ
ĐẾN LÚC NHƯ LAI DIỆT ĐỘ"" (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu "NẮM
TAY CỦA BẬC ĐẠO SƯ "(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "SỰ
CÚNG DƯỜNG CỦA CUNDA
-
QUẢ DỊ THỤC CỦA CUNDA"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
..ĐĐ
Pháp Tân"(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
Thứ Hai ngày 21 tháng 0, 2008
NIẾT BÀN LÀ SỰ ĐOẠN TẬN KHỔ ĐAU
(Bản Anh Ngữ: Nibbana the End of Woe, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Udàna p.80, cap.v iii.)dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt3.htm)
Kinh Phật Tự Thuyết Udàna, Chương Tám, Phẩm Pàtaligàmiya, câu số 80-83
(I) (Ud 80) Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết giảng pháp thoại liên tưởng đến Niết-bàn cho các Tỷ-kheo, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Các Tỷ-kheo ấy chú tâm, tác ư, dồn tất cả tâm tư lắng nghe pháp.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ư nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:
- Này các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú, không có chuyện vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn tận khổ đau.
(II) (Ud 81)
Khó thấy là vô ngă,
Không dễ thấy, sự thật,
Với bậc có hiểu biết,
Khéo xâm nhập được ái,
Với vị ấy thấy rơ,
Đâu c̣n có vật ǵ.
(III) (Ud 82)
- Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, th́ ở đây không thể tŕnh bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. V́ rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có tŕnh bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.
(IV) (Ud 83)
-- Cái ǵ có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái ǵ không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động th́ có khinh an. Có khinh an th́ không có thiên về. Không có thiên về th́ không có đến và đi; không có đến và đi th́ không có diệt và sanh; không có diệt và sanh th́ không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau.
Thứ Ba ngày 22 tháng 07, 2008
HẢI ĐẢO TỰ THÂN (I)
(Bản Anh Ngữ: The Isle of Refuge, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Sn. V. 1091-4) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt5.htm)
Kinh Tập Sutta Nipata, Chương 5, (XI) Câu hỏi của thanh niên Kappa (Sn 211), câu số 1092-1095
Kappa:
1092. Tôn giả Káp-pa nói:
Những ai đứng giữa nước,
Trong ḍng nước mạnh chảy,
Giữa sợ hăi lớn lao,
Thưa Ngài hăy nói lên,
Ḥn đảo cho những kẻ,
Bị già chết chinh phục,
Ngài nói con ḥn đảo,
Để không có khổ khác,
Giống như đau khổ này.
Thế Tôn:
1093. Thế Tôn nói Kap-pa,
Những ai đứng giữa nước,
Trong ḍng nước mạnh chảy,
Giữa sợ hăi lớn lao,
Ta nói Ông ḥn đảo,
Cho những ai đang bị,
Già và chết chinh phục.
1094. Ḥn đảo vô song này,
Không sở hữu, chấp trước,
Ta nói Ông Niết-bàn,
Già chết được đoạn diệt,
1095. Biết vậy, giữ chánh niệm,
Hiện tại đạt mát lạnh,
Không rơi vào ma lực,
Không tùy tùng theo ma.
HẢI ĐẢO TỰ THÂN (II)
(Bản Anh Ngữ: The Isle of Refuge, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 101) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm
(Trong các bản dịch Anh ngữ chữ ngọn đèn trong đoạn kinh này là hải đảo nhưng trong bản dịch Việt của Hoà Thượng Thích Minh Châu là ngọn đèn – Chú thích: NQ)
26. Vậy nên, này Ananda, hăy tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, hăy tự ḿnh nương tựa chính ḿnh, chớ nương tựa một ǵ khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một ǵ khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hăy tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, tự ḿnh nương tựa chính ḿnh, không nương tựa một ǵ khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ǵ khác?
Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, tự ḿnh nương tựa chính ḿnh, không nương tựa một ǵ khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ǵ khác.
Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự ḿnh là ngọn đèn cho chính ḿnh, tự ḿnh nương tựa chính ḿnh, không nương tựa một ǵ khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp ǵ khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Thứ Tư ngày 23 tháng 07, 2008
KHUYẾT ĐIỂM CỦA ANANDA (I)
(Bản Anh Ngữ: Ananda’s Obtuseness, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 104-7) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm III, câu số 3-10
Đức Thế Tôn dạy Ananda những ai đă tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lăo luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp c̣n lại. Nay Như Lai đă tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lăo luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo; nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp c̣n lại.
Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ư của Thế Tôn nên không thỉnh cầu Thế Tôn hăy ở lại cho đến trọn kiếp v́ tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.
Lần thứ hai... lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ananda như thế, tôn giả Ananda vẫn không thể nhận hiểu sự gợi ư quá rơ ràng, sự hiện tướng quá rơ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hăy ở lại cho đến trọn kiếp, v́ lợi ích cho chúng sanh, v́ hạnh phúc cho chúng sanh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và loài Người chỉ v́ tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.
Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda hăy đi và làm những ǵ Ngươi nghĩ là phải thời.
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.
Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma yêu cầu Thế Tôn hăy diệt độ v́ đă đến thời Thế Tôn diệt độ.
Khi được nhắc nhở như vậy, Thế Tôn nói với Ác ma: "Này Ác ma hăy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".
Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy tŕ mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy tŕ mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ư nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:
Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.
KHUYẾT ĐIỂM CỦA ANANDA (2)
(Bản Anh Ngữ: Ananda’s Obtuseness, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 115) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm III, câu số 38-40
38. Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hăy ở lại cho đến trọn kiếp, v́ lợi ích cho chúng sanh, v́ hạnh phúc cho chúng sanh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
- Thôi đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai không c̣n kịp thời.
39. Lần thứ hai, tôn giả Ananda... Lần thứ ba, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hăy ở lại cho đến trọn kiếp, v́ lợi ích cho chúng sanh, v́ hạnh phúc cho chúng sanh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và loài Người.
- Này Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
- Bạch Thế Tôn, con có tin!
- Vậy, này Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
40. - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: "Này Ananda, những ai đă tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lăo luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp c̣n lại. Này Ananda, nay Như Lai đă tu bốn thần túc... Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp c̣n lại".
- Này Ananda, Ngươi có tin tưởng không?
- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!
- Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đă không nhận hiểu sự gợi ư quá rơ ràng, sự hiện tướng quá rơ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hăy ở lại cho đến trọn kiếp, v́ lợi ích cho chúng sanh, v́ hạnh phúc cho chúng sanh, v́ ḷng thương tưởng cho đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
ĐĂ ĐẾN LÚC NHƯ LAI DIỆT ĐỘ
(Bản Anh Ngữ: It Is Time for me to Go, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 120) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm III, câu số 51
51. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hăy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Đó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đă già, dư mạng chẳng c̣n bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một ḿnh.
Tự ḿnh làm sở y cho chính ḿnh,
Hăy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ư chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Thứ Năm ngày 24 tháng 07, 2008
NẮM TAY CỦA BẬC ĐẠO SƯ
(Bản Anh Ngữ: The Closed Fist of the Teacher, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 99) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm II, câu số 23-25
23. Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: "Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hăy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy tŕ mạng căn và tiếp tục sống". Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy tŕ mạng căn.
24. Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đă soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rơ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo c̣n mong mỏi ǵ nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đă giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), v́ này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư c̣n nắm tay (c̣n giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: "Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta" thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đă già, đă thành bậc trưởng thượng, đă đến tuổi lâm chung, đă đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đă già ṃn, sở dĩ c̣n chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy tŕ sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ư đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
Thứ Sáu ngày 25 tháng 07, 2008
SỰ CÚNG DƯỜNG CỦA CUNDA
(Bản Anh Ngữ: Cunda’s Offering, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 126) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm IV, câu số 14-25
Thợ sắt Cunda nghe Thế Tôn đă đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ông, ông liền đến đảnh lễ Ngài và đuợc Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Và thợ sắt Cunda thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỷ -kheo đến dùng cơm tại nhà ông. Thế Tôn im lặng nhận lời.
Thợ sắt Cunda liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddave (một loại mộc nhĩ). Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, ngồi trên chỗ đă soạn sẵn và nói với thợ sắt Cunda:
- Này Cunda, loại mộc nhĩ đă soạn sẵn, hăy dọn cho ta. C̣n các món ăn khác đă soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hăy dọn cho chúng Tỷ-kheo.
Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn dạy thợ sắt Cunda hăy đem chôn món mộc nhỉ c̣n lại v́ ngoài Thế Tôn ra không người nào có thể tiêu hoá được món ăn này.
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hăy đi đến Kusinàra.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Đạo Sư.
Điều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
"Ta đi đến thành Kusinàra".
Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hăy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ananda.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn ngồi trên chỗ đă soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hăy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ hai, Thế Tôn yêu cầu được uống nước, tôn giả Ananda cũng bạch như thế.
Lần thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Đến lần thứ ba, Thế Tôn yêu cầu được uống nước tôn giả Ananda mới vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
QUẢ DỊ THỤC CỦA CUNDA
(Bản Anh Ngữ: Cunda’s Meritorious Deeds, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. ii. 135-6) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm IV, câu số 42-43
42. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: "Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích ǵ cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, v́ Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt". Này Ananda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: "Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, v́ được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lănh thọ lời nói này của Thế Tôn: "Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không c̣n di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng cơi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền".
Này Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
43. Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ư nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:
Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngự,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.
Thứ Bảy ngày 26 tháng 07, 2008
BÊN GIƯỜNG BỆNH CỦA BẬC ĐẠO SƯ
(Bản Anh Ngữ: The Deathbed of the Master, trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. iii. 138) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong16.htm)
Trường Bộ Kinh chương 16, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng phẩm V, câu số 1
1. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, chúng ta hăy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của ḍng họ Màllà.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của ḍng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:
- Này Ananda, hăy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.