Bài giảng tuần lễ từ 09 đến 14 tháng 06, 2008

 

 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT Giác Đẳng

 

Thứ Hai: ĐĐ :  "PHẠM HẠNH ĐĂ THÀNH"(Chánh văn Như Quang biên sọan)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền  
"BẬC A LA HÁN (Chánh văn Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:
Ni Sư Liễu Pháp - "LÀM THẾ NÀO ĐỂ NHẬN BIẾT MỘT VỊ A LA HÁN" (Chánh văn Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu "MỐI ÁC CẢM ĐẦU TIÊN CỦA DEVADATTA VỚI ĐỨC THẾ TÔN (Chánh văn Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu: .
ĐĐ Pháp Đăng "THAM VỌNG (Chánh văn Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy: .
ĐĐ Pháp Tân.. "LỢI DƯỠNG CỦA HOÀNG TỬ A-XÀ-THẾ(Chánh văn Như Quang biên sọan)

Chủ Nhật  Giải Đáp Thắc Mắc

 

 

Thứ Hai 09 tháng 06, 2008

PHẠM HẠNH ĐĂ THÀNH

 

(Bản Anh ngữ: Realization, trích từ Some Sayings of the Buddha (Ang. Nik. iii. 359), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi06-0405.htm)

Chương VI Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, câu (VII) (49) Khema

 

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatth́, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sumana trú ở Sàvavatth́, tại rừng Andha. Rồi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Khema bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đă đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đă thành, đă làm những việc phải làm, đă đặt gánh nặng xuống, đă đạt được mục đích, hữu kiết sử đă đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: "Có người tốt hơn ta" hay "Có người giống như ta" hay "Có người hạ liệt hơn ta".

 

Tôn giả Khema nói như vậy, Bậc Đạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Khema nghĩ rằng: "Thế Tôn đă chấp nhận ta". Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tôn giả Sumana, khi Tôn giả Khema ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đă đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đă thành, đă làm những việc phải làm, đă đặt gánh nặng xuống, đă đạt được mục đích, hữu kiết sử đă đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: "Có người tốt hơn ta", hay "Có người giống như ta", hay "Có người hạ liệt hơn ta".

 

Tôn giả Sumana nói như vậy, bậc Đạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Sumana nghĩ rằng: "Thế Tôn đă chấp nhận ta". Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

 

2. Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana ra đi không bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:

 

- Như vậy, này các Tỷ-kheo, các thiện nam tử nói lên chánh trí, có nói đến mục đích, nhưng không đề cập đến tự ngă. Tuy vậy, ở đây một số kẻ ngu nói lên chánh trí một cách ngạo mạn đắc chí. Họ về sau rơi vào nguy hại.

 

    Không thắng, không hạ liệt,

    Không ai đồng đẳng Ta,

    Những tư tưởng như vậy

    Không chi phối các vị.

    Sanh khởi đă chấm dứt,

    Phạm hạnh được viên thành,

    Họ ĺa bỏ kiết sử,

    Hoàn toàn được giải thoát.

 

 

Thứ Ba, 10 tháng 06, 2008

BẬC A LA HÁN

 

(Bản Anh ngữ: The Arahant, trích từ Some Sayings of the Buddha (D.N. iii. 133), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong29.htm)

Kinh Trường Bộ Chương 29, Kinh Thanh Tịnh, câu số 26, đoạn hai.

 

Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đă diệt trừ các lậu hoặc, phạm hạnh đă thành, các việc phải làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, mục tiêu đă đạt, hữu kiết sử đă diệt trừ, chánh trí giải thoát, không thể làm chín việc sau đây: Này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc, không thể cố ư tước đoạt sanh mạng của loài hữu t́nh; vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc không thể lấy của không cho, tức là ăn trộm; vị Tỷ kheo đă diệt trừ các lậu hoặc không thể hành dâm; vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc, không thể biết mà nói láo; vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc không thể cất chứa tiền của để hưởng thọ dục lạc, như khi c̣n tại gia; vị Tỷ-kheo đă diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành tham; vị Tỷ-kheo đă diệt tận các lậu hoặc không thể đi con đường hành sân; vị Tỷ-kheo đă diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành si; vị Tỷ-kheo đă diệt tận các lậu hoặc, không thể đi con đường hành theo sợ hăi.

 

 

Thứ Tư 11 tháng 06, 208

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NHẬN BIẾT MỘT VỊ A LA HÁN

 

(Bản Anh ngữ: How To Know an Arahant, trích từ Some Sayings of the Buddha (Upadàna, pp. 65-6), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt3.htm)

Kinh Phật Tự Thuyết, Chương 6, Phẩm Sanh Ra Đă  Mù (II) (Ud 64)

 

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lơa thể, bảy vị mặc một y, và bảy vị du sĩ ấy đă đi ngang qua không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?

 

- Thưa Đại vương, khi Đại vương c̣n là cư sĩ trong khi c̣n sống với gia đ́nh, thọ hưởng dục lạc, bị vợ con trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với ṿng hoa, hương thơm, dầu sáp, thọ hưởng vàng và bạc thời Đại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả. Thưa Đại vương, chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ư không phải không có tác ư; phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính phải có liên hệ mới biết được sự thanh liêm của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ư, không phải không có tác ư, phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính trong thời gian bất hạnh biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ư, không phải không tác ư; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. Thưa Đại vương, chính phải đàm luận biết được trí tuệ của một người, và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ư, không phải không tác ư, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

 

 

 

CHƯƠNG DEVADATTA

Thứ Năm 12 tháng 06, 2008

MỐI ÁC CẢM ĐẦU TIÊN CỦA DEVADATTA VỚI ĐỨC THẾ TÔN

 

(Bản Anh Ngữ: Disappointed Ambition, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya, ii, 7, 2) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm)

Tạng Luật Vinaya Pitaka, Tiểu phẩm Cullavagga, Chương Chia Rẻ Hội Chúng, câu [361]

 

[361] Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngồi giữa hội chúng đông đảo đang thuyết giảng Giáo Pháp đến đức vua và đoàn tùy tùng. Khi ấy, Devadatta đă từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đă nói với đức Thế Tôn điều này:

 

- Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đă tàn tạ, già cả, lớn tuổi, đă sống thọ, gần cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn hăy sống gắn bó vào sự lạc trú trong hiện tại, c̣n hội chúng tỳ khưu hăy bàn giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỳ khưu.

 

- Này Devadatta, đủ rồi. Ngươi chớ có mong để được cai quản hội chúng tỳ khưu.

 

Đến lần thứ nh́, Devadatta …(như trên)…

 

Đến lần thứ ba, Devadatta đă nói với đức Thế Tôn điều này:

 

- Bạch ngài, đức Thế Tôn nay đă tàn tạ, già cả, lớn tuổi, đă sống thọ, gần cuối cuộc đời. Bạch ngài, giờ đây xin đức Thế Tôn hăy sống gắn bó vào sự lạc trú trong hiện tại, c̣n hội chúng tỳ khưu hăy bàn giao cho tôi, tôi sẽ cai quản hội chúng tỳ khưu.

 

- Này Devadatta, ngay cả Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên) ta c̣n không thể bàn giao hội chúng tỳ khưu, làm sao (có thể bàn giao) cho kẻ tồi tệ đáng phỉ nhổ như ngươi được?

 

Khi ấy, Devadatta (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đă bôi nhọ ta bằng cách gọi là kẻ đáng phỉ nhổ trước hội chúng có cả nhà vua và c̣n ca tụng Sāriputta và Moggallāna nữa!” trở nên tức tối, không hài ḷng, rồi đă đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và ra đi. Như thế, đây là mối ác cảm thứ nhất của Devadatta đối với đức Thế Tôn.

 

 

Thứ Sáu 13 tháng 06, 2008

THAM VỌNG

 

(Bản Anh Ngữ: Ambition, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. ii 242), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-17.htm)

 

Tập II Thiên Nhân Duyên, Chương 17, Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, IV. Phẩm Thứ Tư, tiểu phẩm V. Bỏ Đi (S.ii, 241)

 

1) Một thời Thế Tôn ở Ràjàgaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại núi Gujjhakuuta (Linh Thứu), sau khi Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) bỏ đi không bao lâu.

 

2) Rồi Thế Tôn nhân v́ Devadatta, bảo các Tỷ-kheo:

 

3) -- Này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.

 

4) Ví như cây chuối, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.

 

5) Ví như cây tre, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.

 

6) Ví như cây lau, này các Tỷ-kheo, sanh quả đưa đến tự hại, sanh quả đưa đến diệt vong. Cũng như vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.

 

7) Ví như con lừa có thai đưa đến tự hại, có thai đưa đến diệt vong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến tự hại cho Devadatta. Lợi đắc, cung kính, danh vọng khởi lên, đưa đến diệt vong cho Devadatta.

 

8) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...

 

9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

 

10) Thế Tôn nói như vậy, Thiện Thệ nói vậy xong, bậc Đạo Sư nói như sau:

 

    Như cây chuối sanh quả,

    Sanh quả đem tự hại,

    Cũng vậy, quả cây tre,

    Cũng vậy, quả cây lau,

    Cũng vậy với kẻ ngu,

    Cung kính đem tự hại,

    Như con lừa mang thai,

    Mang thai đem tự hại.

 

 

 

 Thứ Bảy 14 tháng 06, 2008

LỢI DƯỠNG CỦA HOÀNG TỬ A-XÀ-THẾ

 

(Bản Anh Ngữ: The Favour of Princess, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. ii 242), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-17.htm)

Tập II Thiên Nhân Duyên, Chương 17, Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, IV. Phẩm Thứ Tư, tiểu phẩm VI. Xe (Tạp, Đại 2, 276b, Biệt Tạp, Đại 2, 347b, Tăng, Đại 2, 570b; 614a) (S.ii,242)

 

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.

 

Lúc bấy giờ, hoàng tử Ajàtasattu (A-xà-thế) sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.

 

Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.

 

Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch với Thế Tôn:

 

Bạch Thế Tôn, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn.

 

Này các Tỷ-kheo, chớ có thèm lợi đắc, cung kính, danh vọng của Devadatta. Chừng nào, này các Tỷ-kheo, hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều c̣n đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe và đem đến cúng dường các món ăn trong năm trăm mâm bàn; thời này các Tỷ-kheo, đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.

 

Ví như, này các Tỷ-kheo, đem bóp nát lá gan trước lỗ mũi một con chó dữ. Như vậy, con chó ấy lại càng dữ tợn bội phần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chừng nào hoàng tử Ajàtasattu sáng chiều c̣n đi đến hầu Devadatta với năm trăm cỗ xe, và c̣n cúng dường các món đồ ăn trong năm trăm chiếc mâm bàn; thời này các Tỷ-kheo, đối với Devadatta, chỉ có chờ đợi sự tổn giảm trong thiện pháp, không có sự tăng trưởng.

 

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập: "Đối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng đă đến, chúng ta hăy từ bỏ chúng. Đối với các lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".

 

 

 

--------------------------------------------

 

 

 

KẺ BẮT CHƯỚC SẼ PHẢI TIÊU HOẠI

 

(Bản Anh Ngữ: Fools Rush in, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya, ii. 7, 5), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm)

Tạng Luật Vinaya Pitaka, Tiểu phẩm Cullavagga, vii. Chương chia rẽ hội chúng, câu [396]

[396] Sau đó, đức Thế tôn đă bảo các tỳ khưu rằng:

 

- Này các tỳ khưu, vào thời trước đây, có cái hồ lớn trong khu vực toàn là rừng. Các con long tượng sống nương tựa vào cái hồ đó. Chúng lặn xuống cái hồ ấy, dùng ṿi nhổ lên cọng và ngó sen, rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đă nhai (cọng và ngó sen) không c̣n bùn và nuốt xuống. Điều ấy đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. Không v́ lư do đó mà chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, nhưng trong số các con long tượng đă trưởng thành ấy có những con long tượng c̣n nhỏ, trẻ, non nớt, đang học hỏi. Những con này đă lặn xuống cái hồ ấy, dùng ṿi nhổ lên cọng và ngó sen, đă không rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đă nhai (cọng và ngó sen) c̣n dính bùn và nuốt xuống. Điều ấy đă không đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. V́ lư do đó chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Devadatta là kẻ tội nghiệp lại bắt chước ta sẽ phải tiêu hoại.

 

Trong khi ăn cọng sen,

con long tượng khổng lồ

xem xét các gịng sông

và lay chuyển trái đất.

Tương tợ con voi con

chỉ ăn toàn đất bùn,

bắt chước cho giống ta,

kẻ tội nghiệp sẽ chết.

 

BẠI VONG

 

(Bản Anh Ngữ: The Doom, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya ii., 7,7) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm)

Tạng Luật Vinaya Pitaka, Tiểu phẩm Cullavagga, vii. Chương chia rẽ hội chúng, câu

[401]

 

[401] Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi tám điều không đúng Chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Tám điều ấy là ǵ?

 

Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi lợi lộc, là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Này các tỳ khưu, ... bởi không có lợi lộc …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi danh vọng …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi không có danh vọng …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi vinh hiển …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi không có vinh hiển …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi ước muốn xấu xa …(như trên)… Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi bạn bè xấu xa, là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi tám điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.

 

- Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm, bị ngự trị bởi ba điều không đúng Chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Ba điều ấy là ǵ? Ước muốn xấu xa, bạn hữu xấu xa, sự dừng lại ở giữa pháp thiền và pháp siêu thế. Này các tỷ kheo, Devadatta có tâm bị xâm chiếm, bị ngự trị bởi ba điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.

 

CON GIĂ CAN (I)

 

(Bản Anh Ngữ: The Jackal, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. ii. 182) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-20.htm)

Kinh Tương Ưng Tập II, Thiên Nhân Duyên XI. Tương Ưng Thí Dụ Con Chó Rừng (Giả-can) (Tạp 47.22. Đại 2, 346a) (S.ii. 271)

 

1) ... Trú ở Sàvatthi.

 

2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?

 

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

 

3) -- Đó là con giả-can, này các Tỷ-kheo, bị mắc bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.

 

4) Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng huống tự ngă như vậy.

 

5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ không phóng dật".

 

6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

 

CON GIĂ CAN (II)

 

(Bản Anh Ngữ: The Jackal II, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. ii. 182) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-20.htm)

Kinh Tương Ưng Tập II, Thiên Nhân Duyên XI. Tương Ưng Thí Dụ Con Chó Rừng

(S.ii. 272)

 

1) ... Trú ở Sàvatthi.

 

2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can già tru lớn tiếng?.

 

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

3) -- Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm tạ!

 

4) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút ít ǵ làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi".

 

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.