Bài giảng tuần lễ từ 16 đến 21 tháng 06, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Giác Đẳng
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân :
"KẺ BẮT CHƯỚC SẼ PHẢI TIÊU HOẠI"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"BẠI VONG
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: ĐĐ Pháp Tân. - "BỐN ĐẠI CĂN CỨ ĐỊA" (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu " CON GIĂ CAN (I)
(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "GIÁO
GIỚI TỲ KHƯU NI GOTAMI
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
..Ni Sư Liễu Pháp
"CON GIĂ CAN (II)Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
Thứ Hai 16 tháng 06, 2008
KẺ BẮT CHƯỚC SẼ PHẢI TIÊU HOẠI
(Bản Anh Ngữ: Fools Rush in, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya, ii. 7, 5), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm)
Tạng Luật Vinaya Pitaka, Tiểu phẩm Cullavagga, vii. Chương chia rẽ hội chúng, câu [396]
[396] Sau đó, đức Thế tôn đă bảo các tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, vào thời trước đây, có cái hồ lớn trong khu vực toàn là rừng. Các con long tượng sống nương tựa vào cái hồ đó. Chúng lặn xuống cái hồ ấy, dùng ṿi nhổ lên cọng và ngó sen, rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đă nhai (cọng và ngó sen) không c̣n bùn và nuốt xuống. Điều ấy đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. Không v́ lư do đó mà chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, nhưng trong số các con long tượng đă trưởng thành ấy có những con long tượng c̣n nhỏ, trẻ, non nớt, đang học hỏi. Những con này đă lặn xuống cái hồ ấy, dùng ṿi nhổ lên cọng và ngó sen, đă không rửa kỹ lưỡng cho sạch sẽ, rồi đă nhai (cọng và ngó sen) c̣n dính bùn và nuốt xuống. Điều ấy đă không đem lại cho chúng vóc dáng và sức mạnh. V́ lư do đó chúng phải chết đi hoặc khổ như là chết. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Devadatta là kẻ tội nghiệp lại bắt chước ta sẽ phải tiêu hoại.
Trong khi ăn cọng sen,
con long tượng khổng lồ
xem xét các gịng sông
và lay chuyển trái đất.
Tương tợ con voi con
chỉ ăn toàn đất bùn,
bắt chước cho giống ta,
kẻ tội nghiệp sẽ chết.
Thứ Ba 17 tháng 06, 2008
BẠI VONG
(Bản Anh Ngữ: The Doom, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya ii., 7,7) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-07.htm)
Tạng Luật Vinaya Pitaka, Tiểu phẩm Cullavagga, vii. Chương chia rẽ hội chúng, câu
[401]
[401] Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi tám điều không đúng Chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Tám điều ấy là ǵ?
Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi lợi lộc, là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Này các tỳ khưu, ... bởi không có lợi lộc …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi danh vọng …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi không có danh vọng …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi vinh hiển …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi không có vinh hiển …(như trên)… Này các tỳ khưu, ... bởi ước muốn xấu xa …(như trên)… Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi bạn bè xấu xa, là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm bị ngự trị bởi tám điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
- Này các tỳ khưu, Devadatta có tâm bị xâm chiếm, bị ngự trị bởi ba điều không đúng Chánh Pháp là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được. Ba điều ấy là ǵ? Ước muốn xấu xa, bạn hữu xấu xa, sự dừng lại ở giữa pháp thiền và pháp siêu thế. Này các tỷ kheo, Devadatta có tâm bị xâm chiếm, bị ngự trị bởi ba điều không đúng Chánh Pháp này là kẻ phải gánh chịu sự bất hạnh, gánh chịu cảnh địa ngục, bị đọa trọn kiếp, không thể khác được.
Thứ Tư 18 tháng 06, 2008
CON GIĂ CAN (I)
(Bản Anh Ngữ: The Jackal, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. ii. 182) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-20.htm)
Kinh Tương Ưng Tập II, Thiên Nhân Duyên XI. Tương Ưng Thí Dụ Con Chó Rừng (Giả-can) (Tạp 47.22. Đại 2, 346a) (S.ii. 271)
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm khi trời gần sáng, con giả-can đang tru lớn tiếng?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
3) -- Đó là con giả-can, này các Tỷ-kheo, bị mắc bệnh ghẻ lở. Chỗ nào nó muốn đi, chỗ nào nó muốn đứng, chỗ nào nó muốn ngồi, chỗ nào nó muốn nằm, gió lạnh buốt thổi lên trên nó.
4) Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu ở đây có người nào, tự cho là Thích tử, lại có thể cảm thọ được một trạng huống tự ngă như vậy.
5) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ không phóng dật".
6) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
Thứ Năm 19 tháng 06, 2008
CON GIĂ CAN (II)
(Bản Anh Ngữ: The Jackal II, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. ii. 182) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-20.htm)
Kinh Tương Ưng Tập II, Thiên Nhân Duyên XI. Tương Ưng Thí Dụ Con Chó Rừng
(S.ii. 272)
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) -- Các Ông có nghe chăng, này các Tỷ-kheo, trong ban đêm lúc gần sáng, có con giả-can già tru lớn tiếng?.
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
3) -- Rất có thể, này các Tỷ-kheo, trong con giả-can già ấy, có nhiều biết ơn, có nhiều cảm tạ, hơn là ở đây trong một người tự xưng là Thích tử về biết ơn và về cảm tạ!
4) Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ biết ơn, cảm tạ. Dầu cho có chút ít ǵ làm giữa chúng tôi, chúng tôi cũng không để cho mất đi".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.
--------------
KIỂM NGHIỆM CHÁNH PHÁP
(Bản Anh Ngữ: The Test of True Doctrine, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Vinaya, ii. 10, and Ang. Nik. ii. 167) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-10.htm)
1.
Thứ Sáu 20 tháng 6, 2008
GIÁO GIỚI TỲ KHƯU NI GOTAMI
(Bản Anh Ngữ: The Test of True Doctrine, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Vinaya, ii. 10, and Ang. Nik. ii. 167) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-10.htm)
[523] Sau đó, bà Mahāpajāpati Gotamī đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đă đứng một bên, bà Mahāpajāpati Gotamī đă nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, lành thay xin đức Thế Tôn hăy thuyết giảng Pháp một cách vắn tắt để con sau khi nghe Pháp của đức Thế Tôn có thể sống một ḿnh, cách ly, không biếng nhác, tinh tấn, có sự quyết tâm.
Đức Thế Tôn dạy như sau:
- Này Gotamī, bà nên biết rằng các Pháp nào (có đặc tính như vầy): Các pháp này đưa đến ly tham ái mà không đưa đến tham ái, đưa đến sự thoát khỏi ràng buộc mà không đưa đến sự ràng buộc, đưa đến sự không tích lũy mà không đưa đến sự tích lũy, đưa đến sự ham muốn ít mà không đưa đến sự ham muốn nhiều, đưa đến sự hoan hỷ mà không đưa đến sự bực bội, đưa đến sự đơn độc mà không đưa đến sự tụ hội, đưa đến sự khởi công tinh tấn mà không đưa đến sự biếng nhác, đưa đến sự dễ nuôi dưỡng mà không đưa đến sự khó nuôi dưỡng; này Gotamī, bà nên xác định dứt khoát rằng: “Điều này là Pháp, điều này là Luật, điều này là lời giáo huấn của bậc Đạo Sư.”
2.
Thứ Bảy 21 tháng 06, 2008
BỐN ĐẠI CĂN CỨ ĐỊA
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi04-1318.htm
Tăng Chi Bộ Kinh, XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở, tiểu phẩm (X) (180) Căn Cứ Địa
Đức Thế Tôn giảng bài pháp này cho các tỷ kheo khi ngài trú ở Bhoganagara, tại điện Ananda.
1. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lănh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo sư””. Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đă thọ giáo tốt đẹp". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất các Thầy cần phải thọ tŕ.
2. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Đối diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lănh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đă thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ tŕ.
3. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lăo ở, những vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, tŕ Pháp, tŕ Luật, tŕ toát yếu. Đối diện với các trưởng lăo ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lăo ấy, tôi lănh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đă thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ tŕ.
4. Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lăo, vị này là bậc nghe nhiều, được trao truyền kinh điển, tŕ Pháp, tŕ Luật, tŕ toát yếu. Đối diện với vị trưởng lăo ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lăo ấy, tôi lănh thọ như vậy: "Đây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Đạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và các Trưởng lăo ấy đă thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ tŕ.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đại căn cứ địa này.
----------------------------------
TỰ M̀NH BIẾT RƠ
(Bản Anh Ngữ: Use Your Own Judgement, trích từ Some Sayings of the Buddha (Ang. Nik. 188), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0507.htm)
Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, câu 65.- Các Vị Ở Kesaputta
1.- Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến Kesaputta, thị trấn của các người Kàlàmà.
Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ ḍng họ Thích ca đă đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi về Sa-môn Gotama nên người Kàlàmà lấy làm hoan hỷ nếu được yết kiến một vị Ứng cúng như vậy".
2.- Sau khi đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn xong, có người bạch Thế Tôn:
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của ḿnh, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của ḿnh, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Đối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: "Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?"
3. Đức Thế Tôn dạy: Này các Kàlàmà, chớ có tin v́ nghe báo cáo, chớ có tin v́ nghe truyền thuyết; chớ có tin v́ theo truyền thống; chớ có tin v́ được kinh điển truyền tụng; chớ có tin v́ lư luận suy diễn; chớ có tin v́ diễn giải tương tự; chớ có tin v́ đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin v́ phù hợp với định kiến; chớ có tin v́ phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin v́ vị Sa-môn là bậc đạo sư của ḿnh.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự ḿnh biết rơ như sau: "Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hăy từ bỏ chúng!
XÀ DỤ (VÍ DỤ CON RẮN)
(Bản Anh Ngữ: Misunderstanding, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. i.132), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung22.htm)
(Tỷ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại ǵ". Trong bài kinh này dịch giả chỉ trích dẫn vài đoạn trong bài kinh ví dụ con rắn – chú thích: NQ)
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đă xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc, mà c̣n tự phá hoại ḿnh và gây nên nhiều tổn đức?
-- Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đă dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đă thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đă thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Thế Tôn đă thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.
-- Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đă dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đă thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đă thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Ta đă thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc mà c̣n tự phá hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.
Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.
Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ư nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, v́ ư nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rơ ràng. Họ học các pháp chỉ v́ lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ v́ lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy v́ nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. V́ sao vậy? Này các Tỷ-kheo, v́ nắm giữ sai lạc các pháp.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, t́m cầu rắn nước, đi khắp chỗ để t́m rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. V́ sao vậy? Chư Tỷ-kheo, v́ nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp... Chư Tỷ-kheo, v́ sự chấp thủ các pháp sai lạc.
NGƯỜI MÙ XEM VOI
(Bản Anh Ngữ: The Blind Men and the Elephant, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Udàna vi. 4) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt3.htm#chuong6)
Kinh Phật Tự Thuyết Udàna, Chương 6, Phẩm Sanh Ra Đă Mù (IV) (Ud 66)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông các ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau, y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau, có nhiều luận thuyết khác nhau về thế giới, về sanh mạng và thân thể, về sự tồn tại hay không tồn tại của Như Lai và họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".
Sau khi khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, một số tỷ kheo bạch với Đức Thế Tôn về sự kiện này và được ngài dạy bài học về những người mù xem voi ở thành Savatthi. Những người sanh ra đă mù ở thành Savatthi được tập trung đến để xem một con voi. Sau khi xem voi xong, các người mù tả lại con voi theo như bộ phận voi mà ḿnh đă sờ được nên họ tranh cải con voi không phải như vậy. Con voi như thế này mới là con voi.
Rồi Đức Thế Tôn kết luận: Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt... như vậy là pháp.
CHƯƠNG CHƯ PHẬT CHỈ ĐƯỜNG
BẬC CHÁNH ĐẲNG GIÁC
(Bản Anh Ngữ: The Pioneer, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 66) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22c.htm)
Tương Ưng Uẩn, B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, Tiểu phẩm VI. Chánh Đẳng Giác. (S.iii. 54)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
4) Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
5-7) Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng... đoạn diệt các hành... đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ?
9) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn nói lên ư nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ!
-- Vậy này các Tỷ-kheo, hăy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
10) Thế Tôn nói như sau:
-- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. C̣n nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).
11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.
NHƯ LAI (1)
(Bản Anh Ngữ: The Tathàgata (1), trích từ Some Sayings of the Buddha, (Iti-Vuttaka 112) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv3.htm)
Kinh Phật Thuyết Như Vầy, Chương bốn pháp, Phẩm 1, (CXII) (Cat. 13) (It. 121)
Điều này đă được Thế Tôn nói đến, đă được bậc A-la-hán nói đến và tôi đă được nghe:
Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác. Như Lai không hệ lụy đối với đời. Này các Tỷ-kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh đẳng giác; thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; con đường đưa đến thế giới đoạn diệt Như Lai đă tu tập.
Cái ǵ này các Tỷ-kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Mạ giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ư tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Này các Tỷ-kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác đến đêm Ngài nhập Niết-bàn không có dư y trong thời gian ấy, điều ǵ Ngài nói, tuyên bố, nêu rơ lên tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy Ngài được gọi là Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy. V́ rằng nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy, nên Ngài được gọi Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại, do vậy Ngài được gọi là Như Lai.
Thế Tôn đă nói lên ư nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.