Bài giảng tuần lễ từ 23 đến 28 tháng 06, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Tuệ Siêu//TT Giác Đẳng/ Ni Sư Liễu Pháp.
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân :
"TỰ M̀NH BIẾT RƠ"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"XÀ DỤ (VÍ DỤ CON RẮN)
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: Ni Sư Liễu Pháp - "NGƯỜI MÙ XEM VOI" (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu "BẬC CHÁNH ĐẲNG GIÁC (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "NHƯ LAI (1)
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
..ĐĐ Pháp Tân.
"THẾ PHÁP
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
Thứ Hai 23 tháng 06, 2008
TỰ M̀NH BIẾT RƠ
(Bản Anh Ngữ: Use Your Own Judgement, trích từ Some Sayings of the Buddha (Ang. Nik. 188), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-0507.htm)
Tăng Chi Bộ Kinh, Chương Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, câu 65.- Các Vị Ở Kesaputta
1.- Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến Kesaputta, thị trấn của các người Kàlàmà.
Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ ḍng họ Thích ca đă đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi về Sa-môn Gotama nên người Kàlàmà lấy làm hoan hỷ nếu được yết kiến một vị Ứng cúng như vậy".
2.- Sau khi đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn xong, có người bạch Thế Tôn:
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của ḿnh, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của ḿnh, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Đối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: "Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?"
3. Đức Thế Tôn dạy: Này các Kàlàmà, chớ có tin v́ nghe báo cáo, chớ có tin v́ nghe truyền thuyết; chớ có tin v́ theo truyền thống; chớ có tin v́ được kinh điển truyền tụng; chớ có tin v́ lư luận suy diễn; chớ có tin v́ diễn giải tương tự; chớ có tin v́ đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin v́ phù hợp với định kiến; chớ có tin v́ phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin v́ vị Sa-môn là bậc đạo sư của ḿnh.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự ḿnh biết rơ như sau: "Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hăy từ bỏ chúng!
Thứ Ba 24 tháng 06, 2008
XÀ DỤ (VÍ DỤ CON RẮN)
(Bản Anh Ngữ: Misunderstanding, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. i.132), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung22.htm)
(Tỷ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại ǵ". Trong bài kinh này dịch giả chỉ trích dẫn vài đoạn trong bài kinh ví dụ con rắn – chú thích: NQ)
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đă xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc, mà c̣n tự phá hoại ḿnh và gây nên nhiều tổn đức?
-- Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đă dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đă thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đă thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Thế Tôn đă thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.
-- Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đă dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đă thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đă thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Ta đă thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, năo nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc mà c̣n tự phá hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.
Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.
Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ư nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, v́ ư nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rơ ràng. Họ học các pháp chỉ v́ lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ v́ lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy v́ nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. V́ sao vậy? Này các Tỷ-kheo, v́ nắm giữ sai lạc các pháp.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, t́m cầu rắn nước, đi khắp chỗ để t́m rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. V́ sao vậy? Chư Tỷ-kheo, v́ nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp... Chư Tỷ-kheo, v́ sự chấp thủ các pháp sai lạc.
Thứ Tư 25 tháng 06, 2008
NGƯỜI MÙ XEM VOI
(Bản Anh Ngữ: The Blind Men and the Elephant, trích từ Some Sayings of the Buddha, (Udàna vi. 4) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt3.htm#chuong6)
Kinh Phật Tự Thuyết Udàna, Chương 6, Phẩm Sanh Ra Đă Mù (IV) (Ud 66)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ một số đông các ngoại đạo sai khác, các Sa-môn, Bà-la-môn, các du sĩ ngoại đạo đều vào Sàvatthi để khất thực. Họ có quan điểm khác nhau, có kham nhẫn khác nhau, có sở thích khác nhau, y cứ nương tựa vào quan điểm khác nhau, có nhiều luận thuyết khác nhau về thế giới, về sanh mạng và thân thể, về sự tồn tại hay không tồn tại của Như Lai và họ sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi: "Như thế này là pháp. Như thế này là pháp. Như thế này không phải pháp. Như thế này không phải pháp".
Sau khi khất thực ở Sàvatthi xong sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, một số tỷ kheo bạch với Đức Thế Tôn về sự kiện này và được ngài dạy bài học về những người mù xem voi ở thành Savatthi. Những người sanh ra đă mù ở thành Savatthi được tập trung đến để xem một con voi. Sau khi xem voi xong, các người mù tả lại con voi theo như bộ phận voi mà ḿnh đă sờ được nên họ tranh cải con voi không phải như vậy. Con voi như thế này mới là con voi.
Rồi Đức Thế Tôn kết luận: Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo là những người mù, không có mắt... như vậy là pháp.
CHƯƠNG CHƯ PHẬT CHỈ ĐƯỜNG
Thứ Năm 26 tháng 06, 2008
BẬC CHÁNH ĐẲNG GIÁC
(Bản Anh Ngữ: The Pioneer, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 66) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22c.htm)
Tương Ưng Uẩn, B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, Tiểu phẩm VI. Chánh Đẳng Giác. (S.iii. 54)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
4) Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
5-7) Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng... đoạn diệt các hành... đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, Chánh Đẳng Giác. C̣n vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ?
9) -- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn nói lên ư nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ!
-- Vậy này các Tỷ-kheo, hăy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
10) Thế Tôn nói như sau:
-- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. C̣n nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).
11) Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.
Thứ Sáu 27 tháng 06, 2008
NHƯ LAI (1)
(Bản Anh Ngữ: The Tathàgata (1), trích từ Some Sayings of the Buddha, (Iti-Vuttaka 112) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv3.htm)
Kinh Phật Thuyết Như Vầy, Chương bốn pháp, Phẩm 1, (CXII) (Cat. 13) (It. 121)
Điều này đă được Thế Tôn nói đến, đă được bậc A-la-hán nói đến và tôi đă được nghe:
Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác. Như Lai không hệ lụy đối với đời. Này các Tỷ-kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh đẳng giác; thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; con đường đưa đến thế giới đoạn diệt Như Lai đă tu tập.
Cái ǵ này các Tỷ-kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Mạ giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ư tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Này các Tỷ-kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác đến đêm Ngài nhập Niết-bàn không có dư y trong thời gian ấy, điều ǵ Ngài nói, tuyên bố, nêu rơ lên tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy Ngài được gọi là Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy. V́ rằng nói ǵ làm vậy, làm ǵ nói vậy, nên Ngài được gọi Như Lai.
Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại, do vậy Ngài được gọi là Như Lai.
Thế Tôn đă nói lên ư nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến.
Thứ Bảy 28 tháng 06, 2008
THẾ PHÁP
(Bản Anh Ngữ: Doctrines, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii.139) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22f.htm)
Tương Ưng Uẩn, Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng) (Tạp 2, Đại 2,8b) (S iii.113) câu 19-27
19) Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
20) Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là ǵ, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ?
21) Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, th́ đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù ḷa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
22-24) Thọ... Tưởng... Các hành...
25) Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tŕnh bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, th́ đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù ḷa, không có mắt, không có biết, không có thấy.
26) Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt.
27) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm.
NHƯ LAI (2)
(Bản Anh Ngữ: Tathàgata (2), trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 86) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22e.htm)
Tương Ưng Uẩn, Phẩm Trưởng Lăo, tiểu phẩm IV. Anuràdha (Tạp 5, Đại 2,32c) (S.iii,116)
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái cḥi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên và đưa ra những thắc mắc về vấn đề tồn tại hay không tồn tại sau khi chết của Như Lai. Được nghe như vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ rằng bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đă đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đă tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: "Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
Các ngoại đạo du sĩ cho rằng Tôn giả Anuràdha là vị Tỷ-kheo mới tu học, xuất gia không bao lâu hoặc vị này là vị Trưởng lăo, nhưng ngu dốt không có học tập.
Sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và bạch với thế Tôn sự việc đă xảy ra.
Thế Tôn hỏi Tôn giả Anuràdha các câu hỏi về sắc, thọ, tưởng, hành thức là thường hay vô thường và sắc, thọ, tưởng, hành, thức có là Như Lai hay không. Được nghe các câu trả lời thích hợp của tôn giả, Đức Thế Tôn dạy:
-- Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không t́m được một Như Lai thường c̣n, thường trú, thời có hợp lư chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đă đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đă tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ "?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.