Bài giảng tuần lễ từ 30 tháng 06 đến 05 tháng 07, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Tuệ Siêu//TT Giác Đẳng/ Ni Sư Liễu Pháp.
Thứ Hai:
ĐĐ :
"NHƯ LAI (2)"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ Pháp Tân.
"TIỂU KINH MÀLUNKYÀ(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: Ni Sư Liễu Pháp - "NHƯ
LAI CHỈ LÀ NGƯỜI CHỈ ĐƯỜNG" (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu "ĐẤNG
NHƯ LAI (3)"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "SAU
KHI CHẾT"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
..ĐĐ Tuệ Quyền
"BỐN
PHÁP VÔ SỞ ÚY CỦA ĐẤNG NHƯ LAI"
"
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
---------------------
Thứ Hai 30 tháng 06, 2008.
NHƯ LAI (2)
(Bản Anh Ngữ: Tathàgata (2), trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. iii. 86) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22e.htm)
Tương Ưng Uẩn, Phẩm Trưởng Lăo, tiểu phẩm IV. Anuràdha (Tạp 5, Đại 2,32c) (S.iii,116)
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha ở một cái cḥi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi nhiều ngoại đạo du sĩ đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên và đưa ra những thắc mắc về vấn đề tồn tại hay không tồn tại sau khi chết của Như Lai. Được nghe như vậy, Tôn giả Anuràdha nói với các ngoại đạo du sĩ rằng bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đă đạt được Tối thắng quả, bậc Như Lai ấy được xem là đă tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: "Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
Các ngoại đạo du sĩ cho rằng Tôn giả Anuràdha là vị Tỷ-kheo mới tu học, xuất gia không bao lâu hoặc vị này là vị Trưởng lăo, nhưng ngu dốt không có học tập.
Sau khi các ngoại đạo du sĩ ấy ra đi không bao lâu, Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và bạch với thế Tôn sự việc đă xảy ra.
Thế Tôn hỏi Tôn giả Anuràdha các câu hỏi về sắc, thọ, tưởng, hành thức là thường hay vô thường và sắc, thọ, tưởng, hành, thức có là Như Lai hay không. Được nghe các câu trả lời thích hợp của tôn giả, Đức Thế Tôn dạy:
-- Và ở đây, này Anuràdha, ngay trong hiện tại không t́m được một Như Lai thường c̣n, thường trú, thời có hợp lư chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, đă đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đă tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ "?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Lành thay, lành thay, này Anuràdha! Trước kia và nay, này Anuràdha, Ta chỉ tuyên bố khổ và đoạn diệt khổ.
Thứ Ba ngày 01 tháng 07, 2008
TIỂU KINH MÀLUNKYÀ
(Bản Anh Ngữ: Theories and Facts, trích từ Some Sayings of the Buddha, (M.N. i. Chap 63) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung63.htm)
Trung Bộ Kinh, 63. Tiểu kinh Màlunkyà
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Rồi Tôn giả Malunkyaputta, trong khi độc trú tịnh cư, khởi lên sự suy tư như sau: Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: "Thế giới là thường c̣n, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy. V́ Thế Tôn không trả lời cho ta những vấn đề ấy, nên ta không được hài ḷng, không được thỏa măn. Vậy ta hăy đi đến Thế Tôn, và sẽ hỏi ư nghĩa này. Nếu Thế Tôn không trả lời thời ta sẽ bỏ học pháp và hoàn tục.
Rồi Tôn giả Malunkyaputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn những câu hỏi của ḿnh.
Thế Tôn đặt ra một số câu hỏi cho tôn giả và tôn giả Malunkyaputta xác nhận ḿnh không hứa sẽ sống theo Phạm hạnh nếu được Như Lai trả lời các câu hỏi về thế giới, về sự tồn tại của Như Lai như trên.
Đức Thế Tôn kết luận:
-- Này Malunkyaputta, nếu có ai nói như sau: Ta sẽ sống Phạm hạnh theo Thế Tôn khi nào Thế Tôn sẽ trả lời cho ta: "Thế giới là thường c̣n" hay "Thế giới là vô thường... (như trên)... Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết", thời này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được Như Lai trả lời. Ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc, được bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy chỉ đồng ư cho vị y sĩ chăm sóc khi nào người ấy biết rơ những chi tiết về người bắn ra mủi tên và về chính mủi tên. Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết ǵ.
Và này Malunkyaputta, v́ sao điều ấy Ta không trả lời? Này Malunkyaputta, v́ điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.
Và này Malunkyaputta, điều ǵ Ta trả lời? "Đây là khổ", này Malunkyaputta là điều Ta trả lời". "Đây là khổ tập" là điều Ta trả lời. "Đây là khổ diệt" là điều Ta trả lời. "Đây là con đường đưa đến khổ diệt" là điều Ta trả lời.
Và này Malunkyaputta,v́ sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, v́ điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, v́ vậy điều ấy Ta trả lời. Do vậy, này Malunkyaputta, hăy thọ tŕ là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hăy thọ tŕ là trả lời những điều Ta có trả lời.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Malunkyaputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Thứ Tư ngày 02 tháng 07, 2008
NHƯ LAI CHỈ LÀ NGƯỜI CHỈ ĐƯỜNG
(Bản Anh Ngữ: The Tathàgata Just Shows the Way, trích từ Some Sayings of the Buddha, ((M.N. iii. Chap. 107) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung107.htm)
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Đông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, bạch Thế Tôn:
-- Ví như tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công tŕnh tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công tŕnh tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công tŕnh tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công tŕnh tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, v́ rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: "Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần". Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể tŕnh bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công tŕnh, một tuần tự đạo lộ như vậy?
Như Lai trả lời:
-- Có thể tŕnh bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công tŕnh, có một tuần tự đạo lộ. Rồi ngài so sánh việc huấn luyện một người giống như huấn luyện ngựa thiện xảo, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy hăy giữ giới hạnh, hăy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ tŕ và học tập các học giới. Tiếp theo đó vị tỷ kheo được huấn luyện chế ngự ư căn, hộ tŕ các căn. Sau khi hộ tŕ các căn rồi Như Lai sẽ huấn luyện thêm hăy tiết độ trong việc ăn uống. Sau khi tiết độ trong việ ăn uống rồi, Như Lai sẽ huấn luyện vị ấy hăy chú tâm cảnh giác. Sau khi vị ấy chú tâm cảnh giác rồi Như Lai huấn luyện vị ấy hăy thành tựu chánh niệm tỉnh giác. Sau khi vị ấy chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai huấn luyện vị ấy hăy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, băi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo cử hối tiếc, từ bỏ nghi ngờ, sống với các thiện pháp.
Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, vị ấy chứng và trú Thiền thứ nhất. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư.
Khi được nghe qua phương pháp giảng dạy của đức Thế Tôn như vậy, Bà La Môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:
-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?
Đức Thế Tôn trả lời câu hỏi này bằng cách hỏi lại Bà La Môn Ganaka Moggallana có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá) hay không. Bà La Môn đáp có và Đức Thế Tôn hỏi thêm nếu có người hỏi đường đi đến Vương Xá và được chỉ đường cặn kẻ nhưng người ấy lấy sai đường nên không đến được Vương Xá. Rồi một người khác cũng được chỉ đường cặn kẻ, y theo lời chỉ dạy và đến được Vương Xá một cách an toàn. Do nhân ǵ, duyên ǵ một người không đến nơi và một người đến nơi? Bà La Môn Ganaka Moggallana trả lời ông không làm ǵ được v́ ông chỉ là người chỉ đường.
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm ǵ được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.
Thứ Năm ngày 03 tháng 07, 2008
ĐẤNG NHƯ LAI (3)
(Bản Anh Ngữ: Tathagàta (3), trích từ Some Sayings of the Buddha, (D.N. i. 45) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong01.htm
Này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai c̣n tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đă bị chấm dứt. Khi thân của vị này c̣n tồn tại thời chư Thiên và loài Người c̣n có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.
Này các Tỷ-kheo, như nhánh có một chùm xoài bị chặt đứt, tất cả trái xoài dính với nhánh ấy đều bị chung một số phận với nhánh kia. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai c̣n tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đă bị chặt đứt. Khi thân của vị này c̣n tồn tại thời chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được.
Thứ Sáu ngày 04 tháng 07, 2008
SAU KHI CHẾT
(Bản Anh Ngữ: Beyond Death, trích từ Some Sayings of the Buddha, (S.N. ii. 222-3) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-16.htm)
1) Một thời Tôn giả Mahà Kassapa và Tôn giả Sàriputta trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), ở Migadaya (Lộc Uyển).
2) Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Mahà Kassapa:
-- Này Hiền giả Kassapa, có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết không?
-- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai có tồn tại sau khi chết".
4) -- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết?
-- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại sau khi chết".
5) -- Như vậy, này Hiền giả, có phải Như Lai có tồn tại, và không tồn tại sau khi chết?
-- Này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết".
6) -- Vậy này Hiền giả, có phải Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?
-- Cũng vậy, này Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết".
7) Này Hiền giả, v́ sao Thế Tôn không có tuyên bố như vậy? V́ đây, này Hiền giả, không đưa đến lợi ích, không đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn không có tuyên bố như vậy.
8) Vậy này Hiền giả, Thế Tôn tuyên bố cái ǵ?
"Đây là khổ", này Hiền giả, Thế Tôn đă tuyên bố. "Đây là khổ tập", Thế Tôn đă tuyên bố. "Đây là khổ diệt", Thế Tôn đă tuyên bố. "Đây là con đường đưa đến khổ diệt", Thế Tôn đă tuyên bố.
9) V́ sao, này Hiền giả, Thế Tôn đă tuyên bố như vậy?
V́ đây, này Hiền giả, đưa đến lợi ích, đưa đến cứu cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đă tuyên bố như vậy.
Thứ Bảy ngày 05 tháng 07, 2008
BỐN PHÁP VÔ SỞ ÚY CỦA ĐẤNG NHƯ LAI
(Bản Anh Ngữ: The Four Confidences of the Tathàgata, trích từ Some Sayings of the Buddha, (M.N. i. 71) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung12.htm)
Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho ḿnh địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân. Thế nào là bốn?
Này Sariputta, Ta thấy không có lư do ǵ, một Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: "Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn, mà quư vị tự xưng đă chứng ngộ hoàn toàn". Này Sariputta, v́ Ta thấy không có lư do ǵ như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hăi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lư do ǵ... có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: "Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quư vị tự xưng đă đoạn trừ". Này Sariputta, v́ Ta không thấy... đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lư do ǵ... có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: "Những pháp này được gọi là các chướng ngại pháp khi được thực hành thời không có ǵ gọi là chướng ngại pháp cả". Này Sariputta, v́ Ta không thấy... đạt được vô úy.
Này Sariputta, Ta thấy không có lư do ǵ một Sa-môn Bà-la-môn, chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chỉ trích Ta đúng pháp rằng: "Pháp do quư vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành đến diệt tận khổ đau". Này Sariputta, v́ Ta thấy không có lư do ǵ như vậy, nên Ta sống đạt được an ổn, đạt được không sợ hăi, đạt được vô úy.
Này Sariputta, có bốn pháp vô sở úy, chính nhờ thành tựu bốn pháp này, Như Lai tự nhận cho ḿnh địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sử tử trong các hội chúng và chuyển Phạm luân.