BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 10/03 ĐẾN 15/03/08
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT TUỆ SIÊU// TT GIÁC ĐẲNG//NI SƯ LIỄU PHÁP
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân:
"CHĂM
SÓC CHA MẸ GIÀ-"(Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"BỐ
THÍ" .
(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư:
Ni Sư Liễu Pháp
: "SO
SÁNH CÁC LOẠI BỐ THÍ ". (Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Năm:TT
Tuệ Siêu "NĂM
ĐẠI THÍ
"(Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: :ĐĐ
Pháp Đăng
"NHỮNG
TẶNG PHẨM ĐẦU TIÊN DÂNG ĐẾN TĂNG ĐOÀN" (Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ
Pháp Tân
...
"
LỜI KHUYÊN CHO GIA CHỦ SIGÀLA"
(Toát
Yếu: Như Quang)
Bài giảng đặc biệt Chăm Sóc Cha Mẹ không nằm trong giáo tŕnh và bốn bài trong giáo tŕnh chương Bố Thí: 1. Bố thí. 2. So sánh hai loại bố thí. 3. Năm đại thí. 4. Những tặng phẩm đầu tiên dâng đến Tăng đoàn, một bài trong chương Hạnh Phúc Ở Đời: 1. Giới.
- Này các Tỷ-kheo, người hiền phụng dưỡng cha mẹ là một phong tục tối cổ.
(Kinh Tiểu Bộ)
Chăm sóc cha mẹ già là mối quan tâm hàng đầu của những người con biết hiếu kỉnh với cha mẹ, nhất là với các Phật tử hải ngoại v́ cha mẹ già ở hải ngoại chịu nhiều khổ cảnh như sự khắc nghiệt của thời tiết, sự cô đơn v́ không được tṛ chuyện bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, sự thương nhớ quê hương láng giềng, sự bệnh tật, sự thiếu chăm sóc của con cháu, v.v…
Quan trọng hơn hết là sự thiếu vắng các ngôi tự viện và sự lảnh đạo tinh thần của chư Tăng. Nếu không được chăm sóc đúng pháp, các bậc cha mẹ già này có thể sẽ rơi vào những nẻo đường xấu một cách không cần thiết.
Bài giảng về Chăm Sóc Cha Mẹ Già bàn đến những điều căn bản một Phật tử có thể làm để giúp cha mẹ ḿnh được an vui trong những phút cuối đời, nhờ vậy mà người con có thể đáp đền được chút ơn sinh dưỡng của song thân.
Những pháp chăm sóc cha mẹ già dựa vào các lời giảng của Đức Thế Tôn trích từ kinh điển Pali như Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tiểu Bộ Kinh, Tương Ưng Kinh và Kinh Mi Tiên Vấn Đáp. Bài giảng này gồm có 6 phần:
I. TẠI SAO PHẢI HIẾU DƯỠNG CHA MẸ
Trong kinh Tăng Chi đức Phật dạy: Này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ. Này các Tỷ kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha.
Do đó Đức Phật đă dạy cho chúng ta phải hiếu kính với cha mẹ. Trong kinh Tăng Chi đức Phật đă giảng rơ chúng ta phải kính lễ cha mẹ v́ cha mẹ ngang hàng với Phạm thiên, là người đă có công nuôi dưỡng con cái, đưa chúng vào cuộc đời.
Trong Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Đức Phật cũng dạy có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ: "Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ ǵn giữ gia đ́nh và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời.”
II. CÁC GƯƠNG HIẾU DƯỠNG TRONG KINH TẠNG PALI
1. Chuyện hiếu tử Samà (Tiền thân Sàma - Tiền thân 540)
Câu chuyện này bậc Đạo Sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ- kheo phụng dưỡng mẹ.
Một vị tỳ kheo đi khất thực về nuôi cha mẹ bị các tỳ kheo khác bạch với Đức Thế Tôn. Chẳng những Đức Thế Tôn không khiển trách mà c̣n tán thán hạnh hiếu của vị này. Nhân đó Đức Thế Tôn kể về việc làm tương tợ của ngài trong kiếp quá khứ khi ngài c̣n là Bồ Tát Suvannasàma (Hoàng Kim)
Trong lúc ngài nuôi dưỡng cha mẹ mù của ḿnh th́ bị trúng tên độc do nhà vua đi săn bắn nhầm. Biết ḿnh đă bắn nhầm một người con hiếu hạnh, nhà vua hứa sẽ thay ngài phụng dưỡng cha mẹ của ngài. Bồ tát nói xong lời nhắn nhủ th́ bất tỉnh.
Trong lúc đó bà mẹ trong tiền kiếp của ngài là một chư thiên biết ngài đang bị nạn nên cùng với cha mẹ ngài cứu ngài. Nhờ vào lời nguyện chân lư của các vị mà Bồ Tát thoát chết. Để giảng nghĩa sự kỳ diệu này với đức vua, Bồ tát ngâm bài kệ:
Các thế nhân theo Pháp chánh chân,
Chăm nuôi cha mẹ lúc gian truân,
Chư thiên nh́n thấy ḷng con hiếu,
Và đến chữa lành các bệnh luôn.
Các thế nhân theo Pháp chánh chân,
Chăm nuôi cha mẹ lúc gian truân,
Chư thiên thế giới này ca tụng,
Đời kế cơi thiên hưởng phước phần.
Sau đó Bồ Tát dạy đức vua 10 thiện hạnh phải hành mà điều trước tiên là phải làm tṛn phận sự đối với song thân.
Sau khi thuyết giảng xong, bậc Đạo Sư bảo:
- Này các Tỷ-kheo, người hiền phụng dưỡng cha mẹ là một phong tục tối cổ.
2. Chuyện Hiền Mẫu Kaccàni (Tiền thân Kaccàni - Tiền thân 417)
Bậc Đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một người phụng dưỡng mẹ ḿnh.
Chuyện kể về một thiện gia nam tử ở Savatth́ (Xá-vệ). Khi cha mất, chàng chuyên tâm săn sóc mẹ, hầu hạ mẹ các công việc súc miệng đánh răng, tắm rửa v.v... và đem cháo cơm thức ăn cho mẹ.
Một ngày kia v́ vâng lời mẹ, chàng cưới vợ và sống với nàng v́ chàng không muốn trái ư mẹ. Lúc đầu nàng cũng chăm nom mẹ chồng chu đáo, sau đó th́ hành hạ, hắt hủi bà. Khi nàng bảo chồng phải chọn giữa nàng và mẹ th́ chàng quyết định chọn mẹ v́ mẹ chàng chỉ nương tựa vào chàng. Nghe vậy, người vợ đổi cách cư xử với mẹ chồng và gia đ́nh đầm ấm như xưa.
Khi vị cư sĩ này đến Kỳ Viên nghe Pháp, đảnh lễ bậc Đạo Sư xong, chàng kể lại việc nhà cho Bậc Đạo sư nghe th́ ngài nhắc lại chuyện tiền kiếp của vị cư sĩ này. Mọi chuyện xày ra giống như trên nhưng người chồng cho rằng mẹ ḿnh có lỗi và đuổi mẹ đi. Nhờ Bồ Tát lúc đó là thiên chủ Sakka cứu giúp nên con, dâu và cháu nội đón bà trở về sống chung với nhau.
III. NHỮNG ĐIỀU CON CÁI CÓ THỂ LÀM CHO CHA MẸ
Có 5 điều người con có thể làm cho cha mẹ và điều quan trọng nhất là phải an trú cha mẹ vào trong chánh pháp. Khi có được nơi nương tựa vững chải rồi tâm cha mẹ sẽ thấy an ổn, tịnh tín.
Ngoài ra người con cũng nên duy tŕ ḷng thương yêu cha mẹ, đừng nên ghét bỏ cha mẹ ḿnh, giúp cha mẹ hộ tŕ các căn và tiết độ trong ăn uống, giúp cha mẹ tăng trưởng thiện tâm và chăm sóc cha mẹ chu đáo khi cha mẹ lâm bệnh.
1. An trú cha mẹ trong chánh pháp
Đức Phật lúc nào cũng t́m cách an trú cha mẹ ḿnh trong chánh Pháp. Khi thành đạo ngài đă thuyết pháp để độ phụ mẩu ḿnh cùng những người trong gia quyến.
Người cư sĩ cũng có thể an trú cha mẹ ḿnh vào trong chánh pháp tức là an trú cha mẹ vào ngôi nhà có mái che là chánh pháp của Đức Phật, có rào cản là giới, ngăn chặn được nắng, gió, ác thú là tham, sân, si … có thể làm hại đến mẹ cha.
2. Đừng ghét bỏ cha mẹ ḿnh.
Xă hội nào cũng có những đứa con bất hiếu chỉ nghĩ đến quyền lợi vật chất mà quên ơn dưỡng dục sanh thành như chuyện Angulimala suưt giết mẹ, chuyện ngài Mục Kiền Liên ngược đăi cha mẹ, và chuyện những người con trai của một vị Bà la Môn tại thành Xá Vệ cùng các bà vợ đă ghét bỏ và hắt hủi cha ḿnh qua tích truyện Pháp cú Con Voi Tên Tài Hộ.
3. Giúp cha mẹ hộ tŕ các căn và tiết độ trong ăn uống.
Con cái cần phải lưu ư giúp cha mẹ già hộ tŕ các căn như pḥng hộ thân căn, ngăn ngừa lạnh, nóng, pḥng hộ ư căn như giữ ǵn ư cho được trong sạch không để cho tham ái ưu bi khởi lên.
Về vấn đề ẩm thực, nên tránh những thức ăn có thể trở thành độc dược rút ngắn tuổi thọ hoặc gây ra bệnh tật, tứ đại bất ḥa cho cha mẹ. Người cư sĩ hiểu biết có thể giúp cha mẹ tăng tuổi thọ theo năm pháp Đức Phật dạy: Làm việc thích đáng, biết vừa phải trong việc thích đáng, ăn các đồ ăn tiêu hóa, du hành phải thời, và sống Phạm hạnh và hai pháp để khi thân hoại mạng chung được sanh về thiện thú là hộ tŕ các căn và tiết độ trong ăn uống.
4. Giúp cha mẹ tăng trưởng thiện tâm
Phương pháp tăng trưởng thiện tâm không ǵ bằng bố thí và cách bố thí hay nhất là làm các buổi lễ trai tăng để cha mẹ dâng cúng thực phẩm, tứ vật dụng đến tận tay chư tăng. Nếu tại địa phương không có chư tăng th́ có thể dâng tịnh tài đến các chùa nào đó thỉnh quư sư làm lễ trai tăng dùm.
5. Chăm sóc khi cha mẹ đau bệnh.
Để làm dịu bớt những khổ thọ và chế ngự tâm sân của người bệnh, người con có thể nhắc nhỡ cha mẹ về những thiện sự cha mẹ đă làm hay thù thắng nhất là giúp cha mẹ nghe chư tăng tụng Kinh Thất Giác Chi
hoặc bệnh nhân cùng đọc tụng với thiện tâm và trí tuệ và hiểu rơ ư nghĩa từng chữ, từng câu, phát âm rơ ràng th́ kinh Thất Giác Chi sẽ có một oai lực phi thường giúp bệnh nhân phát huy thiện tâm hoan hỷ làm cho tứ đại trong thân thể điều hoà trở lại, thân bệnh có thể nhờ vậy mà tiêu trừ.
Nếu tuổi thọ đă dứt th́ cha mẹ cũng được đi về nơi thiện thú. Cũng đừng quên nhắc nhỡ cha mẹ khi thân bị bệnh phải giữ cho tâm không bệnh v́ tâm bệnh theo thân th́ các chứng bệnh về thân sẽ khó mà phục hồi.
IV. NGUYÊN NHÂN CỦA CÁI CHẾT
Con người chết do 4 nguyên nhân:
1- Āyukkhayamaraṇa: Con người chết do hết tuổi thọ, dù nghiệp hỗ trợ sinh mạng vẫn c̣n.
2- Kammakkhayamaraṇa: Con người chết do hết nghiệp hỗ trợ sinh mạng trong kiếp hiện tại, dù tuổi thọ vẫn c̣n.
3- Ubhayakkhayamaraṇa: Con người chết do hết tuổi thọ và hết nghiệp hỗ trợ sinh mạng cùng một lúc.
4- Upacchedakamaraṇa: Con người chết do nghiệp quá khứ hoặc nghiệp hiện tại cắt đứt ḍng sinh mạng (của con người), dù tuổi thọ và nghiệp hỗ trợ sinh mạng vẫn c̣n.
Con người chết có thể ví như một chiếc đèn dầu phộng đang cháy sáng. Chiếc đèn bị tắt do 4 nguyên nhân:
1- Chiếc đèn tắt do
hết tim đèn, dù dầu phộng vẫn c̣n.
2- Chiếc đèn tắt do hết dầu phộng, dù tim đèn vẫn c̣n.
3- Chiếc đèn tắt do hết tim và dầu phộng cùng một lúc.
4- Chiếc đèn tắt do gió thổi, mặc dù
tim đèn và dầu phộng vẫn c̣n.
Cũng như vậy, con người chết do 4 nguyên nhân:
1- Con
người chết do hết tuổi thọ, cũng như chiếc đèn tắt do hết tim.
2- Con người chết do hết nghiệp hỗ trợ sinh
mạng, cũng như chiếc đèn tắt do hết dầu phộng.
3- Con người chết do hết tuổi thọ và nghiệp hỗ trợ
cùng một lúc, cũng như chiếc đèn tắt do hết tim và dầu phộng cùng
một lúc.
4- Con người chết do năng lực nghiệp quá khứ hoặc
nghiệp hiện tại cắt đứt ḍng sinh mạng của người
ấy, cũng như chiếc đèn tắt do gió thổi hoặc
bị đổ vỡ.
Trong Kinh Mi Tiên Vấn Đáp th́ cái chết được phân biệt là chết đúng thời và chết phi thời. Chết đúng thời, ví như trái xoài đúng tiết, đúng độ th́ xoài chín vàng mới rụng. Khi trái xoài c̣n đang non đă rụng, trái c̣n xanh đă rụng, trái mới hườm hườm đă rụng là chết phi thời. Con người sống cho đến già, có bệnh, bệnh nhẹ hoặc vô bệnh mà chết, ấy gọi là chết đúng thời. C̣n những người do hành tŕnh của nghiệp, tác động của nghiệp, do phản ứng đoạn ĺa của nghiệp - mà chết khi chưa hết tuổi thọ - đều gọi là chết phi thời.
Một số ví dụ về chết phi thời: chết do đói, chết do khát, chết do rắn cắn, chết bởi độc dược, chết cháy, chết nước, chết bởi khí giới v.v... Các cách chết phi thời đều có thể quy về một chữ nghiệp.
V. CHẾT CÓ ĐÁNG SỢ HAY KHÔNG?
Chúng sanh ai cũng sợ chết nhưng mong muốn khỏi già, khỏi chết là năm sự kiện không thể có được như Đức Phật đă dạy:
- Phải bị già, muốn khỏi già, là một sự kiện không thể có được bởi một Sa-môn hay Bà-la-môn, bởi Ma hay Phạm thiên, hay bởi một ai ở đời. Phải bị bệnh, muốn không bệnh... Phải bị chết, muốn không chết... Phải hoại diệt, muốn không hoại diệt... Phải bị tiêu diệt, muốn không tiêu diệt là một sự kiện không thể có dược bởi một Sa môn hay Bà la môn, bởi Ma hay Phạm Thiên, hay bởi một ai ở đời.
Với vị Thánh đệ tử có học, bị già đến; và già đến; khi già đến, vị ấy có suy tư: Không phải chỉ một ḿnh ta phải bị già và già đến mà các loài hữu t́nh đều như thế. Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.
Biết suy nghĩ như thế, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm ḿnh ưu năo. Ngoài phương pháp nhổ đi mủi tên sầu muộn, Đức Phật cũng dạy thêm về nơi cuối cùng mà mọi người phải đến đó là cái chết; chỉ có các việc phước đức là nơi nương nhờ của tất cả chúng sanh, trong ngày vị lai.
Để chuẩn bị cho cha mẹ có cái chết tỉnh giác, nhẹ nhàng, người con có thể nhắc nhỡ cha mẹ về những nguyên nhân đưa đến cái chết, về pháp vô thường, hoặc trong lúc lâm chung nhớ về những việc thiện mà cha mẹ đă làm cũng có thể thoát khỏi bốn cơi khổ.
Trong Kinh Trường Bộ, Đức Phật đă lên bài kệ về sự từ bỏ mạng sống của ngài như sau:
Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.
Đó là sự chuẩn bị của một bậc toàn giác. Con cái có thể chuẩn bị cho cái chết của cha mẹ ḿnh một cách cụ thể hơn để cái cận tử nghiệp sẽ là chiếc cầu đưa cha mẹ về cảnh giới an vui. Chiếc cầu này có thể là niềm hoan hỷ của một buổi lễ dâng y, một buổi trai tăng hay những h́nh ảnh thanh tịnh nào đó, thí dụ như các Phật tích.
Trong Kinh Trường Bộ Đức Phật có dạy ngài Ananda điều này:
- Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn? "Đây là chỗ Như Lai đản sanh". Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Giác", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: "Đây là chỗ Như Lai đản sanh", "Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác", "Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng", "Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn".
Này Ananda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cơi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.
VI. KẾT LUẬN:
Một người con hiểu đạo nên hiếu dưỡng cha mẹ theo những phương cách Đức Phật đă đề ra v́ những điều Phật dạy là những điều hữu ích mà Đức Phật muốn truyền bá đến mọi người, muốn chúng sanh được về miền cực lạc, không phải rơi vào đoạ xứ.
Đây là những pháp hành mà Đức Phật tận tâm chỉ giáo, không giữ lại ǵ cho riêng ḿnh như lời Phật đă nói: Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư c̣n nắm tay (c̣n giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy).
Nếu những người con biết phụng dưỡng cha mẹ dựa theo những điều chỉ giáo của Đức Phật th́ chắc chắn khi lâm chung, với tư lương đầy đủ, cha mẹ sẽ đến được nơi nhàn cảnh.
NHƯ QUANG
(Kính tặng Phật tử Minh Lạc)
-------------------
Thứ Ba 11 tháng 03, 2008
(Bản Anh Ngữ: Gifts, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv3.htm)
Này các Tỷ-kheo, có hai loại bố thí. Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai bố thí này, tức là bố thí Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại phân phát này, phân phát tài vật và phân phát Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai phân phát này, tức là phân phát Pháp.
Này các Tỷ-kheo, có hai nhiêu ích này, nhiêu ích tài vật và nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai nhiêu ích này, tức là nhiêu ích Pháp. Này các Tỷ-kheo, có hai loại tế tự này. Tế tự tài vật và tế tự Pháp. Này các Tỷ-kheo, đây là tối thượng trong hai tế tự này, tức là tế tự Pháp.
Là đại dương, đại hải,
Nước mênh mông rộng lớn,
Đầy rẫy những hăi hùng,
Chứa vô lượng trân châu,
Phục vụ trăm ngàn người,
Các con sông lớn, nhỏ,
Chúng tuôn chảy ồ ạt,
Chúng đổ về bể khơi.
Cũng vậy là những người,
Thí đồ ăn, uống, vải,
Bố thí giường, chỗ ngồi,
Mền, nệm, các đồ nằm,
Vô lượng nguồn phước đức,
Từ kẻ trí tuôn chảy,
Như sông hồ đầy nước,
Chảy tuôn ra bể cả.
(Kinh Tương Ưng v.400)
(Bản Anh Ngữ: Gifts Compared, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt3.htm
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong05.htm)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên núi Gijjhakàta. Rồi thanh niên Màgha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:
- Thưa Tôn giả Gotama, con là người bố thí, là thí chủ, rộng răi, mong muốn được yêu cầu. Con tầm cầu tài sản đúng pháp, sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, con cho một nguời, con cho hai người, con cho ba người, con cho bốn người, con cho năm người, con cho sáu người, con cho bảy người, con cho tám người, con cho chín người, con cho mười người, con cho hai mươi người, con cho ba mươi người, con cho bốn mươi người, con cho năm mươi người, con cho một trăm người, con cho nhiều hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, con cho như vậy, con bố thí như vậy, con có được nhiều phưóc đức không?
- Này thanh niên, Con cho như vậy, Con bố thí như vậy Con được nhiều phước đức. Này thanh niên, ai là người bố thí, là người thí chủ rộng răi, mong muốn được yêu cầu, ai tầm cầu tài sản đúng pháp sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, ngựi ấy cho một người... cho một trăm người, cho nhiều hơn nữa, người ấy được nhiều công đức.
(Một Bà la môn hỏi Đức Phật về lễ tế đàn)
- Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.
- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là ǵ, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này?
- Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, này Bà-la-môn, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, đàn thí thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.
- Tôn giả Gotama, có tế đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này?
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.
- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy là ǵ, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật ấy, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y ấy?
- Này Bà-la-môn, một ai với tâm thành thọ tŕ những giới luật không sát sanh, không thâu đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.
- Này Bà-la-môn tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.
Thứ Năm 13 tháng 03, 2008
NĂM ĐẠI THÍ
(Bản Anh Ngữ: The Five Great Gifts, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi08-0406.htm)
Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí này, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày, được biết là truyền thống cổ xưa, trước không tạp loạn, hiện tại không tạp loạn, tương lai không tạp loạn, không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Thế nào là năm?
1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh, đem cho không sợ hăi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hăi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hăi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày ... không bị những Sa-môn, những Bà-la-môn có trí khinh thường. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ tư, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ư, hạnh phúc, an lạc.
2. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho ... Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ hai, là đại bố thí, ... Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ năm, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ư, hạnh phúc, an lạc.
3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục ... Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ ba, là đại bố thí, ... Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ sáu, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ư, hạnh phúc, an lạc.
4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo ... Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ tư, là đại bố thí, ... Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn nước công đức thứ bảy, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ư, hạnh phúc, an lạc.
5. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, vị Thánh Đệ Tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, đem cho không sợ hăi cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh, không sợ hăi, không hận thù, không hại, vị ấy được san sẻ vô lượng không sợ hăi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ năm, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày.
(Bản Anh Ngữ: Early Gifts to the Order, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-06.htm)
Vào lúc bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika có người vợ là em gái của nhà đại phú ở thành Rājagaha. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika đă đi đến thành Rājagaha v́ công việc cần làm. Khi thấy nhà đại phú thành Rājagaha không tiếp đón ḿnh chu đáo như những lần trước mà bận rộn sai bảo đám tôi tớ và các người làm công phải thức dậy thật sớm, nấu cháo, nấu thức ăn, chuẩn bị các món canh, chuẩn bị các món ăn ngon để đón tiếp Đức Phật. Khi nghe đến danh từ Đức Phật, gia chủ Anàthapindika muốn đến để diện kiến đức Thế Tôn ngay nhưng nhà đại phú bảo phải chờ đến sáng mai.
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (nghĩ rằng): “Sáng sớm ngày mai, ta sẽ đi đến để diện kiến đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác vậy” rồi đă nằm xuống với niệm tưởng về đức Phật. Ông đă thức giấc trong đêm ba lần, rờI nghĩ rằng trời đă sang nên gia chủ Anāthapiṇḍika đă đi đến cửa thành dẫn đến khu rừng Sīta. Các phi nhân đă mở cửa thành. Khi ấy, ánh sáng đă biến mất, bóng tối đă xuất hiện. Nỗi sợ hăi, run rẩy, lông tóc dựng đứng đă sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika khi đang đi ra khỏi thành, chính v́ thế đă có ư muốn quay trở lui đến ba lần nhưng được dạ xoa Sīvaka không có hiện h́nh đă nói lời khích lệ:
- Trăm voi( và) trăm ngựa,
trăm xe kéo bởi lừa,
trăm ngàn cô thiếu nữ
điểm trang ngọc, hoa tai,
mười sáu lần như thế
không bằng một bước đi.
Này gia chủ hăy bước tới, này gia chủ hăy bước tới. Việc bước tới th́ tốt đẹp cho người, không có việc quay lui.
Đến lần thứ ba, bóng tối đă biến mất và ánh sáng đă hiện ra. Việc đă sanh khởi cho gia chủ Anāthapiṇḍika là nỗi sợ hăi, run rẩy, lông tóc dựng đứng, việc ấy đă được lắng xuống. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đă đi đến khu rừng Sīta.
Vào lúc bấy giờ, sau khi thức dậy vào canh cuối của đêm, đức Thế Tôn đi kinh hành ở ngoài trời. Đức Thế Tôn đă nh́n thấy gia chủ Anāthapiṇḍika ấy từ đàng xa đang đi lại, sau khi nh́n thấy đức Thế Tôn đă rời đường kinh hành đi đến ngồi ở chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đă nói với gia chủ Anāthapiṇḍika điều này:
- Này Sudatta, hăy đi đến.
Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn gọi ta bằng tên” nên đă mừng rỡ, phấn chấn đi đến gần đức Thế Tôn, sau khi đến đă quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân của đức Thế tôn và đă nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, chắc hẳn rằng đức Thế Tôn đă nghỉ ngơi được thoải mái?
- Đúng thế, kẻ Phạm hạnh
đă chứng ngộ Niết Bàn
luôn nghỉ ngơi thoải mái.
Người không vấy t́nh dục
b́nh thản, không chấp thủ,
khi đoạn ĺa các dục
vị ấy điều phục được
các nỗi khổ trong tâm,
tĩnh lặng, nằm thoải mái
tâm chứng đạt Niết Bàn.
Sau đó, đức Thế Tôn đă thuyết Pháp theo thứ lớp đến gia chủ Anāthapiṇḍika. Tức là ngài đă giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới cấm, bài thuyết về cơi trời, sự ô nhiễm hạ liệt tai hại của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của gia chủ Anāthapiṇḍika đă sẵn sàng, dễ uốn nắn, không c̣n chướng ngại, hướng thượng, tĩnh lặng, ngài đă phô bày Pháp thuyết giảng đă được Chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải sạch chưa bị vết nhơ có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tợ như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhăn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đă sanh khởi đến gia chủ Anāthapiṇḍika: “Điều ǵ có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
Sau đó, khi đă thấy được Pháp, đă thành tựu được Pháp, đă hiểu được Pháp, đă thấm nhuần Pháp, hoài nghi đă không c̣n, sự lưỡng lự đă dứt hẳn, đă thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không c̣n cần sự trợ duyên của người khác, gia chủ Anāthapiṇḍika đă nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, thật là tuyệt vời! Bạch ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đă được úp lại, mở ra vật đă bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): “Những người có mắt sẽ nh́n thấy được các h́nh dáng;” tương tợ như thế Pháp đă được đức Thế Tôn giảng rơ bằng nhiều phương tiện. Bạch ngài, con đây xin quy y đức Thế Tôn ấy, Giáo Pháp, và Hội chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đă được quy y kể từ hôm nay cho đến trọn đời. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn và hội chúng tỳ khưu nhận lời bữa trai phạn của con vào ngày mai.
Đức Thế Tôn đă nhận lời bằng thái độ im lặng. Khi ấy, gia chủ Anāthapiṇḍika hiểu được sự nhận lời của đức Thế Tôn nên đă từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi. Nhà đại phú thành Rājagaha nghe tin như vậy th́ đề nghị giúp đỡ tài chánh nhưng gia chủ Anàthapindika từ chối. Vị thị trưởng thành Rājagaha, rồi Đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha nghe vậy cũng xin giúp đỡ tài chánh nhưng gia chủ Anàthapindika đều từ chối.
Sau đó, khi trải qua đêm ấy gia chủ Anāthapiṇḍika đă cho chuẩn bị sẵn sàng thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm tại tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha rồi cho thông báo thời giờ đến đức Thế Tôn. Vào buổi sáng, đức Thế Tôn đă mặc y, cầm y bát, đi đến tư gia của nhà đại phú thành Rājagaha, sau khi đến đă ngồi xuống chỗ ngồi được sắp đặt sẵn cùng với hội chúng tỳ khưu. Sau đó, gia chủ Anāthapiṇḍika đă tự tay làm hài ḷng và thỏa măn hội chúng tỳ khưu có đức Phật đứng đầu với thức ăn thượng hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đức Thế Tôn đă thọ thực xong bàn tay đă rời khỏi b́nh bát, gia chủ Anāthapiṇḍika đă ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika thỉnh đức Thế Tôn về an cư mùa mưa tại thành Sāvatthi cùng với hội chúng tỳ khưu.
Sau đó, đức Thế Tôn đă chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho gia chủ Anāthapiṇḍika bằng bài Pháp thoại, rồi đă từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Gia chủ Anāthapiṇḍika sau khi hoàn tất công việc cần làm ở thành Rājagaha đă ra đi trở về thành Sāvatthi. Trên đường đi gia chủ Anāthapiṇḍika kêu gọi dân chúng hăy xây dựng các tu viện, hăy cho thiết lập các trú xá, hăy chuẩn bị các vật cúng dường v́ giờ đây, đức Phật đă xuất hiện ở trên đờivà ngài sẽ đi đến bằng con đường này.
Khi ấy, đám người ấy được cổ vũ bởi gia chủ Anāthapiṇḍika đă xây dựng các tu viện, đă cho thiết lập các trú xá, và đă chuẩn bị các vật cúng dường.
Sau đó, khi đă về đến thành Sāvatthi gia chủ Anāthapiṇḍika đă xem xét quanh thành Sāvatthi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn nên ngụ ở nơi nào đây? Đối với ngài, chỗ ấy không nên xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh.” Gia chủ Anāthapiṇḍika đă nh́n thấy khu vườn của vương tử Jeta không xa làng mạc lắm, cũng không quá gần, thuận tiện cho việc tới lui, dân chúng có thể đi đến khi nào có ước muốn, ban ngày không đông đảo, ban đêm ít tiếng động, không nhiều gió, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh, đă đi đến gặp vương tử Jeta để đề nghị mua lại khu vườn. Vương Tử Jeta đ̣i 12 triệu đồng tiền vàng nhưng tiền vàng chở lại c̣n thiếu cho khoảng trống nhỏ xung quanh cổng ra vào. Nhận ra sự tốn kém nhiều vàng đến như vậy, vương tử Jeta hiểu ra đây không phải là việc tầm thường nên đề nghị giữ lại khoảng trống đó để bố thí. Sau đó, vương tử Jeta đă cho dựng lên cổng ra vào ở khoảng trống đó.
Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đă cho xây dựng ở Jetavana các trú xá, đă cho xây dựng các căn pḥng, cổng ra vào, các pḥng hội họp, các nhà để đốt lửa, các nhà làm thành được phép, các nhà vệ sinh, các đường kinh hành, các gian nhà ở các đường kinh hành, các giếng nước, các gian nhà ở các giếng nước, các pḥng tắm hơi, các gian nhà ở các pḥng tắm hơi, các hồ trữ nước, các mái che.
Thứ Bảy 15 tháng 03, 2008
LỜI KHUYÊN CHO GIA CHỦ SIGÀLA
(Bản Anh Ngữ: Advice to a Layman, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-truongbo/truong31.htm)
Gia chủ Sigàla sau khi nghe giảng về sáu phương hướng đă hỏi Đức Thế Tôn về Thánh pháp. Đức Thế Tôn giảng như sau:
- Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền năo được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lư do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đă thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đă chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới.
Thế nào là bốn nghiệp phiền năo đă được diệt trừ? Này Gia chủ tử, đó là nghiệp phiền năo sát sanh, nghiệp phiền năo trộm cắp, nghiệp phiền năo tà dâm, nghiệp phiền năo nói láo. Bốn nghiệp phiền năo này đă được trừ diệt.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Đạo Sư lại giảng thêm:
Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo, lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán,
Những hạnh nghiệp như vậy.
Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lư do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hăi. Này Gia chủ tử, v́ vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hăi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lư do.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Đạo Sư lại giảng thêm:
Ai phản lại Chánh pháp,
V́ tham, sân, bố, si,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Ai không phản Chánh pháp,
V́ tham, sân, bố, si,
Thanh danh được tṛn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.
Rồi Đức Thế Tôn giảng thêm thế nào là không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản, sáu nguy hiểm của việc đam mê các loại rượu, của việc du hành đường phố phi thời, của việc la cà đ́nh đám, hư viện, của việc đam mê cờ bạc, của việc thân cận ác hữu, và của thói quen lười biếng.