BÀI GIẢNG TỪ 31 THÁNG 3 ĐẾN 5 THÁNG 4, 2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT TUỆ SIÊU//ĐĐ PHÁP ĐĂNG//NI SƯ LIỄU PHÁP
Thứ Hai:
ĐĐ Huyền Vân:
"CÔNG
ĐỨC -- CHỚ SỢ HĂI CÁC CÔNG ĐỨC"(Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"BUỔI
SÁNG TỐT ĐẸP" .
(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư::Ni
Sư Liễu Pháp
"
BẢY GIỚI CẤM TÚC" (Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Năm:TT
Tuệ Siêu"ĐỨC
PHẬT VÀ KẺ MỤC ĐỒNG"(Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ
Pháp Đăng
: "THÂN
NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC". (Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Bảy:ĐĐ
Pháp Tân
...
"
VÔ THỈ LÀ LUÂN HỒI"
(Toát
Yếu: Như Quang)
Bốn bài cuối trong chương Lời khuyên cho cư sĩ: 8. Chớ sợ hăi công đức. 9. Buổi sáng tốt đẹp. 10. Bảy giới cấm túc. 11. Đức Phật và kẻ mục đồng.
Hai bài đầu trong chương Đời sống, cái chết và đời sau: 1. Thân người khó được. 2. Vô thỉ là luân hồi.
Thứ Hai 31 tháng 03, 2008
CÔNG ĐỨC -- CHỚ SỢ HĂI CÁC CÔNG ĐỨC
(Bản Anh Ngữ: Good Works I, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb14-ptnv1.htm#chuong1)
Điều này đă được Thế Tôn nói đến, đă được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đă được nghe:
Này các Tỷ-kheo, chớ có sợ hăi các công đức. Này các Tỷ-kheo, công đức là đồng nghĩa với an lạc, cái ǵ khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ư, tức là công đức. Này các Tỷ-kheo, Ta thắng tri thọ hưởng quả dị thục, khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ư trong một thời gian dài của các công đức đă làm trong một thời gian dài. Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đă không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp. Trong thời kỳ kiếp tăng, Ta là chư Thiên Quang Âm; Trong thời kỳ kiếp giảm, Ta sanh trong lâu đài trống không ở Phạm Thiên. Tại đấy Ta là Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên bậc chinh phục, bậc không bị ai chinh phục, bậc nh́n thấy tất cả, bậc có quyền lực. Này các Tỷ-kheo, ba mươi sáu lần Ta đă là Thiên chủ Đế Thích. Nhiều trăm lần, Ta đă làm vua, vị vua Chuyển Luân, trị v́ đúng pháp, bậc Pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, bậc đă đạt được sự an ổn trong quốc độ, bậc đầy đủ bảy báu. C̣n nói ǵ khi Ta là vị vua ở địa phương. Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Quả này là do nghiệp nào Ta đă làm, là quả dị thục của nghiệp nào mà nay, Ta được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?". Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Đây là quả ba nghiệp Ta đă làm, là quả dị thục của ba nghiệp, do vậy Ta nay đựơc đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Tức là bố thí, nhiếp phục, chế ngự".
Thế Tôn đă nói lên ư nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Hăy để cho vị ấy,
Học tập về công đức,
Công đức là lạc căn,
Tối thượng trong tương lai,
Hăy tu tập bố thí,
Sống nếp sống an tịnh,
Và tu tập từ tâm.
Sau khi đă tu tập,
Các pháp này như vậy,
Tức là cả ba pháp,
Khiến an lạc sanh khởi,
Bậc Hiền trí được sanh
Trong thế giới an lạc,
Thế giới không sân hận.
Thứ Ba, 01 tháng 04, 2008
BUỔI SÁNG TỐT ĐẸP
(Bản Anh Ngữ: Good Works II, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi03-1116.htm)
- Các loại hữu t́nh nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi sáng, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ư nghĩ điều thiện, các loài hữu t́nh ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi sáng tốt đẹp. Các loại hữu t́nh nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi trưa, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ư nghĩ điều thiện, các loài hữu t́nh ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi trưa tốt đẹp. Các loại hữu t́nh nào, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, thân làm việc thiện, nói lời nói thiện, ư nghĩ điều thiện, các loài hữu t́nh ấy, này các Tỷ-kheo, có một buổi chiều tốt đẹp.
Vầng sao lành, điều lành
Rạng đông lành, dậy lành
Sát-na lành, thời lành
Cúng dường bậc Phạm hạnh
Thân nghiệp chánh, lời chánh
Ư nghiệp chánh, nguyện chánh
Làm các điều chơn chánh
Th́ được lợi an lạc
Lớn mạnh trong Phật giáo
Hăy không bệnh an lạc
Cùng tất cả bà con.
30. "Đế Thích không phóng dật,
Đạt ngôi vị Thiên chủ.
Không phóng dật, được khen;
Phóng dật, thường bị trách."
(Pháp Cú 30)
Thứ Tư 02 tháng 04, 2008
BẢY GIỚI CẤM TÚC
(Bản Anh Ngữ: Good Resolutions, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu1-11.htm)
1) Tại Sàvatthi.
2) -- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka c̣n làm người, vị này chấp tŕ và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp tŕ bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
3) Bảy cấm giới túc là ǵ?
4) "Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu ḥa. Cho đến trọn đời, tôi không nói lời hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm ly cấu uế và xan tham, tôi sống trong gia đ́nh với tâm bố thí, với tay sạch sẽ, hoan hỷ thí xả, nhiệt t́nh đáp ứng các yêu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thực. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ, nếu tôi có phẫn nộ, tôi sẽ mau chóng dẹp trừ phẫn nộ ấy".
5) Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, khi Thiên chủ Sakka c̣n làm người, vị này chấp tŕ và thật hành bảy cấm giới túc. Nhờ chấp tŕ bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Sakka.
Thứ Năm 03, tháng 04, 2008
ĐỨC PHẬT VÀ KẺ MỤC ĐỒNG
(Bản Anh Ngữ: The Buddha and the Cowherd, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb15-kt1.htm)
Dhaniya:
18. Cơm ta, nấu đă chín,
Sữa uống, ta vắt xong,
Mục đồng Dhaniya,
Đă nói lên như vậy.
Trên bờ sông Mah́,
Ta chung sống đồng cư,
Cḥi lá được khéo lợp,
Lửa đốt được cháy đỏ.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
19. Ta đoạn được phẫn nộ,
Tâm hoang vu không c̣n,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy.
Trên bờ sông Mah́,
Ta chỉ sống một đêm,
Cḥi lá được rộng mở,
Lửa đốt được tịch tịnh.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Dhaniya:
20. Ruồi lằn và muỗi ṃng,
Ở đây không t́m thấy,
Mục đồng Dhaniya,
Đă nói lên như vậy.
Trên cánh đồng cỏ mọc,
Đàn ḅ đi ăn cỏ,
Dầu cơn mưa có đến,
Chúng có thể chịu đựng.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
21. Các bè đă được cột,
Khéo tác thành tốt đẹp,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy.
Ai qua được bờ kia,
Nhiếp phục ḍng nước mạnh,
Lợi ích của chiếc bè,
Đâu c̣n thấy cần thiết.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Dhaniya:
22. Vợ ta khéo nhu thuận,
Không có tham dục ǵ,
Mục đồng Dhaniya
Đă nói lên như vậy.
Đă lâu ngày chung sống,
Vừa đẹp ư đẹp ḷng,
Ta không nghe điều ǵ,
Thuộc ác hạnh về nàng.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
23. Tâm Ta khéo nhu thuận,
Được giải thoát, mở rộng,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy.
Lâu ngày tu viên măn,
Khéo nhiếp phục chế ngự,
Trong Ta các pháp ác,
Không c̣n được t́m thấy.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Dhaniya:
24. Với lợi tức thâu hoạch,
Ta tự nuôi sống ta,
Mục đồng Dhaniya
Đă nói lên như vậy,
Con ta và cả ta,
Sống chung không bệnh hoạn,
Ta không nghe điều ǵ,
Thuộc ác hạnh về chúng.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
25. Ta không có làm mướn,
Cho một ai ở đời,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy
Với điều được chứng đắc,
Ta du hành thế giới,
Về tiền công cần thiết,
Không thể có nơi Ta.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Dhaniya:
26. Đây có các ḅ cái,
Đây có các ḅ con,
Mục đồng Dhaniya
Đă nói lên như vậy.
Đây có những ḅ mẹ,
Mang thai, nối giống ḍng,
Đây có những ḅ đực,
Những con chúa đầu đàn.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
27. Đây không có ḅ cái,
Đây không có ḅ con,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy.
Đây không có ḅ mẹ,
Mang thai, nối giống ḍng,
Đây không có ḅ đực,
Những con chúa đầu đàn.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Dhaniya:
28. Cây cột được đóng sâu,
Không c̣n bị dao động,
Mục đồng Dhaniya
Đă nói lên như vậy.
Các dây bằng cây lau,
Được bện lại mới chắc,
Và các con ḅ con,
Không thể nào giật đứt.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
Thế Tôn:
29. Giống như con ḅ đực,
Giật đứt các trói buộc,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác
Đă nói lên như vậy.
Như voi làm bựt đứt
Các giây leo héo mục,
Ta không c̣n đi đến,
Chỗ thai tạng tái sanh.
Nếu là ư người muốn,
Thần mưa, hăy mưa đi.
30. Rồi mưa lớn đổ xuống,
Làm đầy tràn đất trũng,
Làm tràn ngập đất cao,
Nghe trời gầm, mưa, thét,
Mục đồng Dhaniya,
Nói lên lời như sau:
Dhaniya:
31. Lợi thay cho chúng ta,
Đâu phải là lợi nhỏ,
Chúng ta được chiêm ngưỡng,
Bậc Chánh Giác, Thế Tôn.
Ôi! Kính bậc Pháp nhăn,
Con xin quy y Ngài,
Kính bậc Đại ẩn sĩ,
Hăy là Thầy chúng con.
32. Vợ con và cả con,
Là những người nhu thuận,
Xin sống đời Phạm hạnh,
Dưới chân bậc Thiện Thệ.
Được đến bờ bên kia,
Vượt khỏi sanh già chết,
Chúng con sẽ trở thành
Người đoạn tận đau khổ.
Màra:
33. Ai có các con trai,
Hoan hỷ với con trai,
Đây là lời Ác ma,
Đă nói lên như vậy
Người chủ các con ḅ,
Hoan hỷ với con ḅ.
C̣n người th́ hoan hỷ,
Đối với sự sanh y,
Ai không có sanh y,
không thể có hoan hỷ.
Thế Tôn:
34. Ai có các con trai,
Sầu muộn với con trai,
Bậc Thế Tôn, Chánh Giác,
Đă nói lên như vậy.
Người chủ các con ḅ,
Sầu muộn với con ḅ;
Sầu muộn của con người,
Chính do sự sanh y,
Ai không có sanh y,
Không thể có sầu muộn.
Thứ Sáu 04, tháng 04, 2008
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
(Bản Anh ngữ: Rare Is the Chance of Human Birth, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo3/tb3-ni04.htm#16
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-56b.htm)
1
Hăy nhớ tới h́nh ảnh,
Con rùa mù biển đông,
Cho đầu nó lọt vào,
Lỗ hổng khúc cây trôi,
Để nói lên ví dụ,
Được làm người khó vậy.
2
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần.
-- Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, con rùa mù ấy sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng hay không?
-- Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài.
-- Ta tuyên bố rằng c̣n mau hơn, này các Tỷ-kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có một lỗ hổng ấy; c̣n hơn kẻ ngu, khi một lần đă rơi vào đọa xứ để được làm người trở lại. V́ sao?
V́ rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỷ-kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có người yếu bị ăn thịt. V́ sao?
V́ không thấy được bốn Thánh đế. Thế nào là bốn? Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt".
3
"Khó thay, được làm người,
Khó thay, được sống c̣n,
Khó thay, nghe diệu pháp,
Khó thay, Phật ra đời!"
(Pháp Cú 182)
TÍCH TRUYỆN:
Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ngồi dưới bảy cây Siŕsaka, gần Ba-la-nại, liên hệ đến Long vương Erakapatta.
Vào thời đức Phật Ca-diếp, Erakapatta là một Sa-môn trẻ. Một hôm, thầy ngồi trên thuyền bơi dọc sông Hằng. Ngang qua khu rừng cây Eraka, thầy nắm một chiếc lá, xuồng đi nhanh thầy níu lại, và chiếc lá bị rách tan. Trong suốt hai mươi năm thiền định trong rừng, thầy không sám hối lỗi này, nhưng khi gần chết, thầy có cảm giác bị một chiếc lá Eraka quấn ngang cổ. Thầy muốn thú tội, nhưng không có vị Tỳ-kheo nào gần đó. Sau khi chết thầy tái sinh làm Long vương. Khi Long vương có một cô con gái, Ngài nằm trên sông Hằng và đưa cao cái lưng khổng lồ, long nữ hát múa trên lưng nghĩ thầm bằng cách này, khi có đức Phật ra đời, ngài sẽ biết tin. Trong trường hợp người nào hát đáp được câu hỏi của ngài, ngài sẽ gả con gái, và giao luôn cả tài sản và quyền lực của Long vương. Vào một đêm nhằm ngày Bồ-tát, Long vương đặt con gái trên lưng, long nữ nhảy múa và hát đố rằng:
Thế nào gọi là vua?
Thế nào bị gọi là tham dục thống trị?
Làm sao thoát khỏi quyền lực của tham dục?
Tại sao gọi là người ngu?
Tất cả cư dân trên cơi Diêm-phù-đề không ai trả lời được. Khi đức Phật xuất hiện, vào một buổi sáng, Ngài quan sát căn cơ chúng sanh, và nhận thấy Long vương Erakapatta và thanh niên Bà-la-môn Uttara có nhân duyên đáng độ nên dạy cho chàng Bà-la-môn Uttara học câu hát trả lời. Khi nghe câu trả lời, Long vương sẽ biết có Phật ra đời và đến gặp ngài và khi Long vương đến, ngài sẽ dạy câu kệ giữa pháp hội. Vào cuối bài kệ có tám mươi bốn ngàn người được Pháp nhăn.
Bài kệ trả lời như sau:
Người nào làm chủ sáu căn, ấy là vua.
Người nào vui thích với sáu căn, ấy là bị tham dục làm chủ.
Người không vui thích với sáu căn, là thoát khỏi tham dục.
Người nào vui thích với sáu căn, là người ngu.
Sau khi dạy Uttara câu trả lời, Phật dạy tiếp:
- Uttara! Khi ngươi hát xong, long nữ sẽ hát tiếp:
V́ sao người ngu tái sinh?
Bằng cách nào người trí tự tại?
Bằng cách nào chứng Niết-bàn?
Hăy trả lời câu hỏi của ta.
Và ngươi hăy trả lời:
Do ḷng tham ái người ngu tái sanh.
Bằng ư chí người trí được tự tại.
Người thoát khỏi mọi triền phược,
Người ấy chứng Niết-bàn.
Uttara ghi nhớ câu trả lời và chúng Sơ quả. Sau khi chứng Sơ quả, chàng đến gặp Long vương trả lời câu đố. Khi Long vương nghe những câu này, biết rằng đă có một vị Phật xuất hiện ở thế gian. Ḷng tràn ngập niềm vui, Long vương vẫy mạnh chiếc đuôi khổng lồ, một lượn sóng lớn dâng lên quét sạch hai bên bờ, dân cư trong khoảng ấy rơi tơm xuống nước. Long vương bèn đưa lưng đỡ hết thảy và đặt lên bờ. Uttara đưa Long vương đến chỗ Phật. Long vương hóa hiện hào quang trên con đường của ḿnh, và đảnh lễ Phật, lui đứng một bên khóc kể lại cuộc đời của ḿnh với Đức Phật:
- Bạch Thế Tôn, con là đệ tử của một đức Phật, và hành thiền suốt hai mươi năm. Nhưng công phu ấy không giúp cho con tránh khỏi quả báo. Chỉ v́ con làm rách một chiếc lá Eraka nhỏ, con phải tái sanh làm rồng, ḅ đi bằng bụng. Trong khoảng thời gian giữa hai đức Phật, con không được làm người, không được nghe pháp, cũng chẳng gặp Phật.
Nghe vậy, đức Phật đáp:
- Này Đại vương, khó được thân người, khó được nghe pháp, khó có Phật ra đời. V́ Phật muốn thành phải trải qua muôn ngàn gian lao cực khổ.
Ngài nói kệ:
(182) Khó thay, được làm người.
Khó thay, được sống c̣n.
Khó thay, nghe diệu pháp.
Khó thay, Phật ra đời.
Nghe xong kệ, có tám mươi bốn ngàn người được pháp nhăn thanh tịnh.
Thứ Bảy 05, tháng 04, 2008
VÔ THỈ LÀ LUÂN HỒI
(Bản Anh ngữ: A World Without End Is Existence, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-15.htm)
1
CỎ VÀ CỦI
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.
3) Thế Tôn nói như sau:
-- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
4) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cơi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo h́nh các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cơi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
5) V́ sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
6) Cũng vậy, đă lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
7) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
2
QUẢ ĐẤT
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) -- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tṛn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: "Đây là cha tôi, đây là cha của cha tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
4) V́ sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
5) Cũng vậy, đă lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày càng lớn lên.
6) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
3
NƯỚC MẮT
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) -- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái ǵ là nhiều hơn? Ḍng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những ǵ không ưa, phải biệt ly với những ǵ ḿnh thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
4) -- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là ḍng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những ǵ không ưa, phải biệt ly với những ǵ ḿnh thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
5) -- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đă hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
6) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là ḍng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những ǵ không ưa, phải biệt ly với những ǵ ḿnh thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
7) Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
8) ... các Ông chịu đựng con chết. ..
9) ... các Ông chịu đựng con gái chết...
10) ... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
11) ... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
12) Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là ḍng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những ǵ ḿnh không ưa, phải biệt ly với những ǵ ḿnh thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
13) V́ sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... bị tham ái trói buộc.
14) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
4
SỮA
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) -- Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rơ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái ǵ là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đă uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
4) -- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đă uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
5) -- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đă hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
6) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đă uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.
7) V́ sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo... là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
5
NÚI
1) ... Trú ở Sàvatthi.
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?
4) -- Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ ǵ có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.
5) -- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?
6) -- Có thể được, này Tỷ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỷ-kheo, có một ḥn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau ḥn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỷ-kheo, ḥn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.
7) Như vậy dài, này các Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỷ-kheo, hơn một kiếp đă qua, hơn một trăm kiếp đă qua, hơn một ngàn kiếp đă qua, hơn một trăm ngàn kiếp đă qua.
8) V́ sao? Vô thỉ là luân hồi này, này... vừa đủ để giải thoát.
6
Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng ḥn núi,
Bậc Đạo Sư nói vậy.
Đống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.
Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.
Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Đoạn diệt mọi kiết sử.