BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 5/5 ĐẾN 10/5/2008

 

 

Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần:  TT TUỆ SIÊU//ĐĐ PHÁP ĐĂNG//NI SƯ LIỄU PHÁP

 

Thứ Hai: ĐĐ :  "THÂU NHIẾP (II)"(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Ba: ĐĐ Tuệ Quyền  
"KINH G̉ MỐI . (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư::Ni Sư Liễu Pháp
   
"KINH G̉ MỐI (tt)  " (Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Năm:
TT Tuệ Siêu"
HỘI CHÚNG KHÔNG THANH TỊNH "(Toát Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ Pháp Đăng  :
"SỰ CÂN BẰNG CỦA CÁC QUYỀN ". (Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Bảy:ĐĐ Pháp Tân ...
"
THIỆN XẠ" (Toát Yếu: Như Quang)

 

 

 

Sáu bài tiếp theo trong chương Đạo Lộ. 14. Thâu nhiếp (II) 15. Kinh G̣ Mối. 16. Hội chúng không thanh tịnh. 17. Sự cân bằng của các quyền. 18. Thiện xạ. 19. Con vượn.

 

Thứ Hai 05 tháng 05, 2008

THÂU NHIẾP (II)

 

(Bản Anh ngữ: Untroubled and Released, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iv.72 ff.), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-35c.htm)

Kinh Tương Ưng Sáu Xứ (c), Phẩm Từ bỏ, tiểu phẩm 92. II. Thâu Nhiếp (S.iv.72)

 

Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn rồi thỉnh cầu Đức Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho ngài v́ ngài đă già yếu, đă đi đến cuối cuộc đời. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, ngài sẽ sống một ḿnh, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần và chắc chắn ngài sẽ hiểu ư nghĩa lời Thế Tôn giảng, và sẽ trở thành người thừa tự pháp của Thế Tôn.

 

Nghe vậy Đức Thế Tôn hỏi ngài có ḷng dục, tham hay khát ái đối với các pháp được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được biết đến hay không? Tôn giả trả lời:  “ Thưa không, bạch Thế Tôn.”

 

Đức Thế Tôn  dạy Tôn giả Màlukyaputta như sau:

 

- V́ rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta, Ông không có v́ cái ấy. Do v́, này Màlukyaputta, Ông không có v́ cái ấy, nên Ông không có: "Ở nơi đây". Do v́, này Màlukyaputta, Ông không có: "Ở nơi đây", do vậy, này Màlukyaputta, Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy. Đây là sự chấm dứt khổ đau.

 

-- Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng răi như sau:

 

    1) Thấy sắc, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng,

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến sắc an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ sắc sinh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Được gọi xa Niết - bàn.

 

    2) Nghe tiếng, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng,

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến tiếng an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ tiếng sanh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Đựơc gọi xa Niết-bàn.

 

    3) Ngửi hương, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng,

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến tiếng an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ tiếng sanh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Được gọi xa Niết-bàn.

 

    4) Nếm vị, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng,

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến vị an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ vị sanh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Được gọi xa Niết-bàn.

 

    5) Cảm xúc, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng,

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến xúc an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ xúc sanh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Được gọi xa Niết-bàn.

 

    6) Biết pháp, niệm mê say,

    Tác ư đến ái tướng

    Tâm tham đắm cảm thọ,

    Tham luyến pháp an trú.

    Vị ấy, thọ tăng trưởng,

    Nhiều loại, từ pháp sanh,

    Tham dục và hại tâm,

    Năo hại tâm vị ấy,

    Như vậy, khổ tích lũy,

    Được gọi xa Niết-bàn

 

    7) Vị ấy không tham sắc,

    Thấy sắc, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến sắc an trú.

    Theo sắc, vị ấy thấy,

    Tùy sắc, thọ cảm giác,

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa.

    Được gọi gần Niết-bàn

 

    8) Vị ấy không tham tiếng,

    Nghe tiếng, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến tiếng an trú.

    Theo tiếng, vị ấy nghe,

    Tùy tiếng, thọ cảm giác.

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa,

    Được gọi gần Niết-bàn.

 

    9) Vị ấy không tham hương,

    Ngửi hương, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến hương an trú.

    Theo hương, vị ấy ngửi,

    Tùy hương, thọ cảm giác,

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa.

    Được gọi gần Niết-bàn.

 

    10) Vị ấy không tham vị,

    Nếm vị, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến vị an trú.

    Theo vị, vị ấy nếm.

    Tùy vị, thọ cảm giác,

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa.

    Được gọi gần Niết-bàn.

 

    11) Vị ấy không tham xúc,

    Cảm xúc, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến xúc an trú,

    Theo xúc, vị ấy cảm,

    Tùy xúc, thọ cảm giác,

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa,

    Được gọi gần Niết-bàn.

 

    12) Vị ấy không tham pháp,

    Biết pháp, không ái luyến,

    Tâm không dính cảm thọ,

    Không luyến pháp an trú.

    Theo pháp, vị ấy cảm,

    Tùy pháp, thọ cảm giác,

    Tiêu ṃn, không tích lũy,

    Như vậy, chánh niệm hành,

    Như vậy, khổ không chứa,

    Được gọi gần Niết-bàn.

 

Bạch Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách rộng răi như vậy.

 

-- Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta, lời nói vắn tắt của Ta, Ông đă hiểu ư nghĩa một cách rộng răi. Rồi Đức Thế Tôn lặp lại bài kệ của Tôn giả Màlukyaputta.

   

-- Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

 

--) Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một ḿnh, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, tự ḿnh với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú.

 

--) Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

 

 

Thứ Ba 06 tháng 05, 2008

KINH G̉ MỐI

 

(Bản Anh ngữ: The Parable of the Ever-smouldering Ant-hill, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. i. Chap. 23), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung23.htm)

Trung Bộ Kinh chương 23, Kinh G̣ mối.

 

    Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumara Kassapa trú tại Andhavana. Rồi một vị Thiên, đến nói với Tôn giả Kumara Kassapa:

 

    "Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! G̣ mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.”

 

    "Một Bà-la-môn nói như sau: "Này kẻ trí, hăy cầm gươm và đào lên". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa. Vị Bà-la-môn nói: "Này kẻ trí, hăy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm". Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái. Kẻ trí tiếp tục đào,    thấy con đường hai ngă, thấy một đồ lọc sữa, thấy một con rùa, thấy một con dao phay, thấy một miếng thịt, thấy con rắn hổ. Vị Bà-la-môn nói: "Hăy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hăy đảnh lễ con rắn hổ".

 

    "Này Tỷ-kheo, hăy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hăy như vậy thọ tŕ. Vị Thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.

 

    Rồi Tôn giả Kumara Kassapa, sau khi đêm ấy đă măn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, bạch với Thế Tôn những điều đă xảy ra và thỉnh Thế Tôn giảng giải.

 

Đức Thế Tôn giảng như sau:

 

    -- Này Tỷ-kheo, g̣ mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, cái ǵ thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói, cái ǵ sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ư, như vậy là ban ngày chói sáng. Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc thánh.  Đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần. Cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này. Con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

 

 -- Này Tỷ-kheo, con đường hai ngă là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngă lên là từ bỏ nghi hoặc này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này. Đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này. Con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ư nghĩa này. Con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ư, kích thích ḷng dục, hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng này, kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này. Miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ư nghĩa này.

Con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đă diệt trừ các lậu hoặc; hăy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hăy đảnh lễ con rắn hổ, là ư nghĩa này.

 

    Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

 

ThứTư 07 tháng 05, 2008   

 

ThứNăm 08 tháng 05, 2008 HỘI CHÚNG KHÔNG THANH TỊNH

 

 

(Bản Anh ngữ: There Is One Among You, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tieubo1/tb13-ptt2.htm)

Kinh Phật Tự Thuyết Udàna (Cảm Hứng Ngữ), Chương Bốn, Phẩm Meghiya, (V) (Ud 51)

 

Như vầy tôi nghe:

 

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Dubbarà, trong lầu mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào ngày trai giới đang ngồi có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Tôn giả Ananda, sau khi đêm đă gần măn, canh một sắp qua, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng dẫn đến Thế Tôn, và Bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, đêm đă gần măn, canh một đă sắp qua, chúng Tỷ-kheo ngồi đă lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy thuyết giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

 

Khi được nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ hai, Tôn giả Ananda, khi đêm đă gần măn, canh giữa đă sắp qua. Chúng Tỳ-kheo ngồi đă lâu. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hăy thuyết giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

 

Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng. Lần thứ ba, Tôn giả Ananda, khi đêm đă gần măn, canh cuối đă sắp qua, rạng đông đă ló dạng đêm đă nở nụ cười, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng dẫn đến rồi thỉnh cầu Thế Tôn thuyết giảng giới Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

 

Bấy giờ Đức Thế Tôn mới trả lời:

- Này Ananda, hội chúng không thanh tịnh.

 

Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna suy nghĩ: "V́ người nào mà Thế Tôn nói: 'Này Ananda, hội chúng này không thanh tịnh'?" Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna với tâm của ḿnh tác ư đến tâm toàn thể chúng Tỷ-kheo. Tôn giả Mahà Moggallàna thấy một người ác giới, theo ác pháp, không thanh tịnh, không theo Phạm hạnh tự xưng là Phạm hạnh, nên từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến người ấy nói rằng:

 

- Hiền giả hăy đứng dậy, Thế Tôn đă thấy Hiền giả. Hiền giả không được cộng trú với chúng Tỷ-kheo.

 

Người ấy giữ im lặng. Lần thứ hai, lần thứ ba, người ấy im lặng. Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nắm tay người ấy, dắt tay khỏi ngoài cửa, gài then cửa lại, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, Hiền giả ấy đă bị con đuổi ra rồi. Hội chúng nay thanh tịnh Bạch Thế Tôn. Thế Tôn hăy thuyết giảng giới bổn Pàtimokkha cho chúng Tỷ-kheo.

 

- Thật vi diệu thay, Moggallàna! Thật hy hữu thay, Moggallàna! Cho đến khi bị cầm tay, người ngu si mới đi ra.

 

Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:

 

- Này các Tỷ-kheo, bắt đầu từ nay Ta sẽ không làm Uposastha nữa, Ta sẽ không tụng đọc giới bổn Pàtimokkha nữa. Bắt đầu từ nay, các Thầy hăy làm Uposastha, các Thầy hăy tụng đọc giới bổn. Sự kiện không có được. Này các Tỷ-kheo, cơ hội không có được là Như Lai có thể làm Uposastha với hội chúng không thanh tịnh.

 

(Sau đó Bậc Đạo Sư giảng về tám điều vi diệu của biển.)

 

Thứ Sáu  09 tháng 05, 2008 SỰ CÂN BẰNG CỦA CÁC QUYỀN

 

 

(Bản Anh ngữ: Excess of Zeal, trích từ Some Sayings of the Buddha (Vinaya, i. 5,x13), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-05.htm)

Tạng Luật - Đại phẩm tập II, V Chương Da thú, đoạn giữa câu số [2]

Và khi đă được tu lên bậc trên không bao lâu, đại đức Soṇa sống ở khu rừng Sīta. Trong khi vị ấy đang đi kinh hành với sự tinh tấn nỗ lực cao, các bàn chân đă bị rách. Đường kinh hành trở nên vấy đầy máu như là chỗ giết trâu ḅ. Sau đó, đại đức Soṇa trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ư nghĩ suy tầm như vầy đă sanh khởi: “Ta là một trong số các vị đệ tử của đức Thế Tôn sống có sự tinh tấn nỗ lực cao, nhưng tâm của ta vẫn c̣n chấp thủ và không được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Hơn nữa, ở gia đ́nh của ta lại có các tài sản, có thể thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu; hay là ta nên quay về cuộc sống thấp kém rồi thọ dụng những tài sản (ấy) và làm các việc phước báu?” Khi ấy, sau khi dùng tâm biết được ư nghĩ suy tầm của đại đức Soṇa, đức Thế Tôn đă biến mất tại núi Gijjhakūṭa và hiện ra ở khu rừng Sīta. Sau đó, trong khi cùng với nhiều vị tỳ khưu đi dạo quanh các chỗ trú ngụ, đức Thế Tôn đă đi đến đường kinh hành của đại đức Soṇa. Đức Thế Tôn đă nh́n thấy đường kinh hành của đại đức Soṇa bị vấy đầy máu. Ngài Được các tỳ khưu giải thích rằng:

- Bạch ngài, đại đức Soṇa trong khi đi kinh hành với sự tinh tấn nỗ lực cao nên hai bàn chân đă bị rách. Đường kinh hành bị vấy đầy máu này là của vị ấy, giống như là chỗ giết trâu ḅ vậy.

Sau đó, đức Thế Tôn đă đi đến trú xá của đại đức Soṇa, sau khi đến đă ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn và dạy Đại đức Soṇa về âm điệu của sợi dây đàn tỳ bà. Nếu dây đàn căng thẳng hoặc chùng đều không có âm thanh thích hợp để sử dụng. Tương tợ như thế, sự tinh tấn, nổ lực cao đưa đến sự loạn động, sự tinh tấn quá uể oải đưa đến sự biếng nhác. Do đó ngươi phải xác định mức đều đều trong sự tinh tấn, hiểu rơ sự cân bằng của các quyền (Indriya)

- Bạch ngài, xin vâng. Đại đức Soṇa đă trả lời đức Thế Tôn.

Sau đó, đại đức Soṇa đă xác định mức đều đều trong sự tinh tấn, hiểu rơ được sự cân bằng của các quyền (indriya), và vào lúc ấy đă nắm giữ được ấn chứng. Khi ấy, đại đức Soṇa đă tách riêng một ḿnh, và sống không lười biếng, nỗ lực, quyết tâm nên chẳng bao lâu sau ngay trong kiếp hiện tại này đă tự ḿnh nhận thức, chứng đạt, và an trú vào thắng trí, mục đích tối thượng của Phạm hạnh, một cách chân chánh sống không nhà. Vị ấy biết rằng: “Sự tái sanh đă cạn kiệt, Phạm hạnh đă sống, việc cần làm đă làm, không c̣n (đưa đến) bản ngă nào khác (tương tợ) như vầy nữa.” Và trong số các vị A-la-hán có thêm một vị nữa là đại đức Soṇa.

 

Thứ Bảy 10  tháng 05, 2008 

THIỆN XẠ

 

(Bản Anh ngữ: Good Shooting, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. v. 453), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-56b.htm)

Kinh Tương Ưng Sự Thật (b), Phẩm Vực thẳm, tiểu phẩm 45. V. Chiggala (1) (Lỗ khóa hay sợi lông) (S.v. 453)

 

… Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, Đại Lâm, tại Trùng Các giảng đường.

 

-- Rồi Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Vesàli để khất thực.

 

-- Tôn giả Ananda thấy một số đông thiếu niên người Licchavi trong hội trường tập bắn cung, từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào. Thấy vậy, Tôn giả suy nghĩ: Nhờ khéo tập luyện, các thiếu niên Licchavi này từ xa họ bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên kia, không sai trượt lần nào.

 

-- Sau khi khất thực ở Vesàli xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên và bạch với Thế Tôn về những ǵ ngài nhận biết về các thiếu niên Licchavi.

 

Đức Thế Tôn hỏi:

 

-- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, cái ǵ khó làm hơn hay cái ǵ khó đạt đến (abhisambhava), từ xa bắn xuyên qua lỗ khóa nhỏ, từ lông đuôi mũi tên này tiếp lông đuôi mũi tên khác, không sai trượt lần nào, hay bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần?

 

-- Việc này khó làm hơn, bạch Thế Tôn, khó đạt đến hơn, tức là bắn xuyên đầu một sợi lông được chia nhỏ một trăm lần.

 

-- Cũng vậy, này Ananda, chúng đâm xuyên ngang qua một cái ǵ khó đâm xuyên hơn là những ai như thật đâm xuyên qua: "Đây là Khổ"... như thật đâm xuyên qua: "Đây là Con Đường đưa đến sự Khổ diệt".

 

-- Do vậy, này Ananda, một cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt".

 

 

 

CON VƯỢN

(Bản Anh ngữ: The Monkey and the Pitch-Trap, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. v. 148), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-47a.htm

Kinh Tương Ưng Niệm Xứ (a), Phẩm Ambapàli, Tiểu phẩm 7. VII. Con Vượn

(Tạp 24,18, Đại 2,173b) (S.v. 148)

 

… Đức Thế Tôn kể chuyện con vượn tại núi chúa Tuyết Sơn bị dính bẩy nhựa của các thợ săn. Trong khi những con vượn có trí, không tham ăn, tránh xa bẩy nhựa th́ những con vượn thiếu trí, tham ăn, thấy bẩy nhựa tḥ tay nắm lấy và bị dính vào đấy. "Ta sẽ gỡ bàn tay ra", nó tḥ bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai tay ra", nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra", nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân", nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy. Con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ năo, bị người thợ săn muốn làm ǵ th́ làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của ḿnh.

 

Rồi Đức Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:

 

-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

 

-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?

 

-- Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.

 

-- Này các Tỷ-kheo, hăy đi đến chỗ hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của ḿnh, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.

 

-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ ḿnh? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

 

-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...; trú, quán thọ trên các cảm thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh.