BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 12/5 ĐẾN 17/5/2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Giác Đẳng
Thứ Hai:
ĐĐ :
"CON
VƯỢN"(Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"SỰ
HIỆN HỮU CỦA THỨC II .
(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư::
- "
1- Những
chi tiết thường ít để ư về thân thế và danh tánh của Đức Phật-"
Thứ Năm:ĐĐ Pháp Tân" 2- Những ghi
nhận về thời gian không chính xác về Phật Sử trong Phật học thường
thức Việt Nam -
Thứ Sáu:
- Ni Sư Liễu Pháp
: "3- Những nét
dí dỏm trong Phật Ngôn được ghi nhận từ kinh điển.
..
Thứ Bảy:
...
"4- Những ǵ
Đức Phật can thiệp và không can thiệp vào thế sự."
Chủ Nhật TT Tuệ Siêu 5- Những trường hợp Đức Thế Tôn yên lặng. -
Sáu bài tiếp theo trong chương Đạo Lộ: 20. Sự hiện hữu của thức II. 21. Ba sự vi diệu của biển. 22. Điều vi diệu thứ tư và năm của biển. 23. Điều vi diệu thứ sáu của biển. 24. Điều vi diệu thứ bảy của biển. 25. Điều vi diệu thứ tám của biển.
Thứ Hai 12 tháng 04, 2008.
CON VƯỢN
(Bản Anh ngữ: The Monkey and the Pitch-Trap, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. v. 148), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-47a.htm
Kinh Tương Ưng Niệm Xứ (a), Phẩm Ambapàli, Tiểu phẩm 7. VII. Con Vượn
(Tạp 24,18, Đại 2,173b) (S.v. 148)
… Đức Thế Tôn kể chuyện con vượn tại núi chúa Tuyết Sơn bị dính bẩy nhựa của các thợ săn. Trong khi những con vượn có trí, không tham ăn, tránh xa bẩy nhựa th́ những con vượn thiếu trí, tham ăn, thấy bẩy nhựa tḥ tay nắm lấy và bị dính vào đấy. "Ta sẽ gỡ bàn tay ra", nó tḥ bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai tay ra", nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra", nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. "Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân", nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy. Con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ năo, bị người thợ săn muốn làm ǵ th́ làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của ḿnh.
Rồi Đức Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo:
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?
-- Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.
-- Này các Tỷ-kheo, hăy đi đến chỗ hành xứ của ḿnh, chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của ḿnh, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.
-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ ḿnh? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
-- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời...; trú, quán thọ trên các cảm thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ ḿnh.
Thứ Ba 13 tháng 04, 2008.
SỰ HIỆN HỮU CỦA THỨC II
(Bản Anh ngữ: Conciousness II, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. i.259-61), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung38.htm)
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Sati, con của người đánh cá, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, th́ thức này dong ruổi, luân chuyển nhưng không đổi khác".
Một số đông Tỷ-kheo nghe như vậy muốn Tỷ-kheo Sati từ bỏ tà kiến ấy nhưng Tỷ-kheo Sati vẫn nắm chặt tà kiến ấy. Do vậy các Tỷ-kheo bạch với Đức Thế Tôn. Thế Tôn cho mời Tỷ-kheo Sati đến và hỏi lại có phải Tỷ-kheo Sati có tà kiến “Theo như tôi hiểu Pháp Thế Tôn thuyết giảng th́ thức này dong ruỗi, luân chuyển, nhưng không đổi khác?” Tỷ-kheo Sati xác nhận đúng như thế. Rồi Đức Thế Tôn dạy Tỷ-kheo Sati rằng hiểu như thế là xuyên tạc Đức Thế Tôn, tự phá hoại bản thân và tạo nên nhiều tổn đức. Như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Tỷ-kheo Sati.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, có thể khởi lên tia lửa sáng ǵ trong Pháp, Luật này không?
-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể có được, không thể được, bạch Thế Tôn.
Được nói vậy, Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, im lặng, hổ người, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng. Rồi Thế Tôn sau khi biết được Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, đang im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng, bèn nói với Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá:
-- Này kẻ mê mờ kia, người ta sẽ biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ-kheo.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng giống như Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá này, không những đă xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc, mà c̣n tự phá hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức?
-- Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đă dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi, không có duyên, thức không hiện khởi.
-- Lành thay, chư Tỷ-kheo, lành thay, chư Tỷ-kheo, các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy! Chư Tỷ-kheo, Ta đă dùng nhiều pháp môn nói thức do duyên khởi. Không có duyên, thức không hiện khởi. Nhưng Tỷ-kheo Sati, con của người đánh cá, không những xuyên tạc Ta v́ đă tự chấp thủ sai lạc, c̣n tự pháp hoại ḿnh và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho kẻ mê mờ ấy.
Rồi Đức Thế Tôn giảng về Duyên sanh Thức, và các câu hỏi về sanh vật với đầy đủ chi pháp và kết luận:
-- Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với tri kiến này được thanh tịnh như vậy, được làm cho trong sáng như vậy, nếu các Ông không chấp trước, không lấy làm hănh diện, không truy cầu, không xem là của ḿnh, th́ này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ của ḿnh, th́ này các Tỷ-kheo, các Ông có thể hiểu ví dụ là của ḿnh, th́ này các Tỷ-kheo, các Ông có thể ví dụ chiếc bè, nói Pháp được giảng dạy là để đưa vượt qua, không phải để nắm lấy?
-- Bạch Thế Tôn, có.
Thứ Tư 14 tháng 04, 2008.
Bắt đầu Đề Án Mùa Vesak 2008
BA SỰ VI DIỆU CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: Progress on the Path Is Gradual, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 457-459.
[457] Này các tỳ khưu, giống như biển cả sâu xuống dần dần, có độ dốc xuống dần dần, có sự lơm xuống dần dần, không có vực sâu một cách đột ngột, này các tỳ khưu, tương tợ như thế trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác. Này các tỳ khưu, sự việc trong Pháp và Luật này có sự học tập theo thứ lớp, có sự thực hành theo thứ lớp, có sự tiến bộ theo thứ lớp, không có sự chứng ngộ đột ngột nào khác, này các tỳ khưu, đây là pháp kỳ diệu phi thường thứ nhất trong Pháp và Luật này.
[458] Này các tỳ khưu, giống như biển cả có bản chất ổn định, không tràn qua khỏi bờ, này các tỳ khưu, tương tợ như thế điều học nào đă được ta quy định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống. Này các tỳ khưu, sự việc điều học nào đă được ta quy định cho các đệ tử, các đệ tử của ta không vượt qua điều học ấy dù là nguyên nhân mạng sống, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ hai trong Pháp và Luật này.
[459] Này các tỳ khưu, giống như biển cả không sống chung với xác chết nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy vào bờ và hất lên trên đất liền, này các tỳ khưu, tương tợ như thế nhân vật nào là kẻ ác giới, ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi sa-môn, giả mạo sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, đầy phiền năo, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống chung với kẻ ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy. Này các tỳ khưu, sự việc nhân vật nào là kẻ ác giới, ác pháp, sở hành bất tịnh và đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, phi sa-môn, giả mạo sa-môn, phi Phạm hạnh, giả mạo Phạm hạnh, nội tâm thối nát, đầy phiền năo, có bản chất dơ bẩn, hội chúng không sống chung với nhân vật ấy mà tức thời tụ hội lại loại trừ kẻ ấy ra; cho dù kẻ ấy ngồi giữa hội chúng tỳ khưu nhưng kẻ ấy vẫn bị tách ly khỏi hội chúng và hội chúng vẫn được tách ly với kẻ ấy, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ ba trong Pháp và Luật này.
ĐIẾU VI DIỆU THỨ TƯ VÀ THỨ NĂM CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: No Caste Or Change In the Order, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 460, 461.
[460] Này các tỳ khưu, giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đă ra đến biển cả th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Biển cả,” này các tỳ khưu, tương tợ như thế bốn loại giai cấp này là Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ đă rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết bởi đức Như Lai th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Các sa-môn Thích tử.” Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ đă rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết bởi đức Như Lai th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Các sa-môn Thích tử,” này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này.
[461] Này các tỳ khưu, giống như các gịng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không v́ điều ấy mà biển cả được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, tương tợ như thế cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không c̣n dư sót, nhưng không v́ điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy. Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không c̣n dư sót, nhưng không v́ điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này.
ĐIỀU VI DIỆU THỨ SÁU CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: Release Is the Goal, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 462.
[462] Này các tỳ khưu, giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này.
ĐIỀU VI DIỆU THỨ BẢY CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: The Gems, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 463.
[463] Này các tỳ khưu, giống như biển cả có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đó, các vật quư ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quư, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đây, các vật quư ấy như là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ư Túc, Năm Quyền, Năm Lực, Bảy Pháp đưa đến Giác Ngộ, Thánh Đạo Tám Ngành. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đây, các vật quư ấy như là Bốn Niệm Xứ, …(như trên)…, Thánh Đạo Tám Ngành, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này.
ĐIỀU VI DIỆU THỨ TÁM CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: The Fruit, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 464-465.
[464] Này các tỳ khưu, giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, ...(như trên)..., các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả c̣n có những sinh vật lớn đến trăm do tuần, những sinh vật lớn đến hai trăm do tuần, những sinh vật lớn đến ba trăm do tuần, những sinh vật lớn đến bốn trăm do tuần, những sinh vật lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, …(như trên)…, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị A-la-hán, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này.
[465] Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ư nghĩa này, ngay trong khi ấy, nói lên lời cảm hứng:
Che kín, trời có mưa,
Mở rộng, trời không mưa,
Do vậy, hăy mở rộng
Cái ǵ bị che kín,
Như vậy sẽ không mưa.