BÀI GIẢNG TUẦN LỄ TỪ 26/5 ĐẾN 31/5/2008
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: TT Giác Đẳng
Thứ Hai:
ĐĐ :
"ĐIẾU VI DIỆU THỨ TƯ VÀ THỨ NĂM CỦA
BIỂN"(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền
"ĐIỀU VI DIỆU THỨ SÁU CỦA BIỂN
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Tư:: Ni Sư Liễu Pháp - "ĐIỀU VI DIỆU THỨ BẢY CỦA BIỂN" (Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Năm:TT Tuệ Siêu "ĐIỀU VI DIỆU THỨ TÁM CỦA BIỂN(Chánh
văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Sáu:
.ĐĐ Pháp Đăng "KẺ
ẨN LÂM
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Thứ Bảy:
.ĐĐ Pháp Tân..
"ĐẠI KINH NGƯỜI CHĂN B̉
(Chánh văn
Như Quang biên sọan)
Chủ Nhật Giải Đáp Thắc Mắc
Thứ Hai 26 tháng 05, 2008
ĐIẾU VI DIỆU THỨ TƯ VÀ THỨ NĂM CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: No Caste Or Change In the Order, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 460, 461.
[460] Này các tỳ khưu, giống như các con sông lớn như là Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī khi đă ra đến biển cả th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Biển cả,” này các tỳ khưu, tương tợ như thế bốn loại giai cấp này là Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ đă rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết bởi đức Như Lai th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Các sa-môn Thích tử.” Này các tỳ khưu, sự việc bốn loại giai cấp này là Khattiya (Sát-đế-lỵ), Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Vệ-xá), và Sudda (Thủ-đà-la), khi họ đă rời nhà xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật được tuyên thuyết bởi đức Như Lai th́ từ bỏ các tên họ trước đây và ḥa chung lại gọi là “Các sa-môn Thích tử,” này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tư trong Pháp và Luật này.
[461] Này các tỳ khưu, giống như các gịng nước ở trái đất đổ vào biển cả và các trận mưa từ không trung rơi xuống, nhưng không v́ điều ấy mà biển cả được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, tương tợ như thế cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không c̣n dư sót, nhưng không v́ điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy. Này các tỳ khưu, sự việc cho dù nhiều vị tỳ khưu Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không c̣n dư sót, nhưng không v́ điều ấy mà cảnh giới Niết Bàn được xem là vơi đi hoặc tràn đầy, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ năm trong Pháp và Luật này.
Thứ Ba 27 tháng 05, 2008
ĐIỀU VI DIỆU THỨ SÁU CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: Release Is the Goal, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 462.
[462] Này các tỳ khưu, giống như biển cả có một vị là vị của muối, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có một vị là vị của giải thoát, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ sáu trong Pháp và Luật này.
Thứ Tư 28 tháng 05, 2008
ĐIỀU VI DIỆU THỨ BẢY CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: The Gems, trích từ Some Sayings of the Buddha (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 463.
[463] Này các tỳ khưu, giống như biển cả có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đó, các vật quư ấy như là ngọc trai, ngọc ma-ni, ngọc bích, xà cừ, đá quư, san hô, bạc, vàng, ngọc ru-by, ngọc mắt mèo, này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đây, các vật quư ấy như là Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ư Túc, Năm Quyền, Năm Lực, Bảy Pháp đưa đến Giác Ngộ, Thánh Đạo Tám Ngành. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này có nhiều vật quư, vô số vật quư; ở đây, các vật quư ấy như là Bốn Niệm Xứ, …(như trên)…, Thánh Đạo Tám Ngành, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ bảy trong Pháp và Luật này.
Thứ Năm 29 tháng 05, 2008.
ĐIỀU VI DIỆU THỨ TÁM CỦA BIỂN
(Bản Anh ngữ: The Fruit, trích từ Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward (Udàna, v.5, and Vin.ii. 9), F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-tieupham/tp-09.htm)
Tạng Luật, Vinaya Pitaka, Tiểu Phẩm Cullavagga IX. Chương đ́nh chỉ giới bổn pātimokkha, câu số 464-465.
[464] Này các tỳ khưu, giống như biển cả là nơi cư trú của các chúng sanh to lớn; ở đó, các chúng sanh ấy là cá ông, ...(như trên)..., các A-tu-la, các loài rồng, các Càn-thát-bà. Trong biển cả c̣n có những sinh vật lớn đến trăm do tuần, những sinh vật lớn đến hai trăm do tuần, những sinh vật lớn đến ba trăm do tuần, những sinh vật lớn đến bốn trăm do tuần, những sinh vật lớn đến năm trăm do tuần. Này các tỳ khưu, tương tợ như thế Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Nhất Lai, vị Bất Lai, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị Bất Lai, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị A-la-hán. Này các tỳ khưu, sự việc Pháp và Luật này là nơi cư trú của các chúng sanh vĩ đại; ở đây, các chúng sanh ấy là vị Nhập Lưu, …(như trên)…, vị A-la-hán, vị đang thực hành để chứng ngộ quả vị A-la-hán, này các tỳ khưu, đây cũng là pháp kỳ diệu phi thường thứ tám trong Pháp và Luật này.
[465] Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ư nghĩa này, ngay trong khi ấy, nói lên lời cảm hứng:
Che kín, trời có mưa,
Mở rộng, trời không mưa,
Do vậy, hăy mở rộng
Cái ǵ bị che kín,
Như vậy sẽ không mưa.
Thứ Sáu, 30 tháng 05, 2008
KẺ ẨN LÂM
(Bản Anh ngữ: The Forest Dweller, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. ii. 202), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-16.htm)
Tương Ưng Thiên Nhân Duyên, Câu số 16, Chương 5, Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), Trở Về Già
1) Như vầy tôi nghe.
Tại Ràjagaha, Veluvana...
2) Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:
-- Này Kassapa, Ông đă già rồi. Đă cũ nát là những vải gai thô phấn tảo này của Ông đáng được quăng bỏ. Vậy này Kassapa, hăy mang những y áo do các gia chủ cúng, thọ dụng các món ăn được mời và ở gần bên Ta.
4) -- Bạch Thế Tôn, con là người đă lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y; con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
5) -- Này Kassapa, Ông thấy có lợi ích ǵ mà ông đă lâu ngày sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... đi khất thực.. mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... sống viễn ly... sống không giao thiệp... tinh cần và tán thán hạnh tinh cần?
6) -- Bạch Thế Tôn, con thấy có hai lợi ích nên đă lâu ngày con sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... con đi khất thực... con mang y phấn tảo... con mang ba y... con thiểu dục... con tri túc... con sống viễn ly... con sống không giao thiệp... con sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
7) Con thấy tự ḿnh được hiện tại an lạc trú và v́ ḷng từ mẫn đối với chúng sanh sắp đến, mong rằng các chúng sanh sắp đến sẽ bắt chước (ditthanugatim): "Đối với các đệ tử Phật và tùy Phật (Buddhànubuddhasàvakà), mong họ trong một thời gian dài trở thành những vị sống ở rừng và tán thán hạnh ở rừng... những vị đi khất thực... những vị mang y phấn tảo... những vị mang ba y... những vị thiểu dục... những vị tri túc... những vị viễn ly... những vị không giao thiệp... những vị tinh cần và tán thán hạnh tinh cần... họ sẽ thực hành như vậy, và như vậy trong một thời gian dài họ sống hạnh phúc an lạc".
8) Bạch Thế Tôn, thấy được hai lợi ích này, con sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng... con đi khất thực và tán thán hạnh khất thực... mang y phấn tảo... mang ba y... thiểu dục... tri túc... viễn ly... không giao thiệp... sống tinh cần và tán thán hạnh tinh cần.
9) -- Lành thay, lành thay, Kassapa! Thật v́ hạnh phúc cho quần sanh, này Kassapa, Ông đă thực hành như vậy, v́ an lạc cho quần sanh, v́ ḷng từ mẫn với đời, v́ lợi ích, v́ hạnh phúc, v́ an lạc cho chư Thiên và loài Người.
10) Do vậy, này Kassapa, hăy mang vải gai thô, phấn tảo đáng được quăng bỏ. Hăy sống khất thực và trú ở trong rừng!
Thứ Bảy 31 thang 05, 2008
ĐẠI KINH NGƯỜI CHĂN B̉
(Bản Anh ngữ: The Parable of the Good Herdsman, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. i. Chap.33) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:
http://www.zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung33.htm)
Thế Tôn thuyết giảng như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, nếu không đầy đủ mười một đức tánh này, một người chăn ḅ không thể chăn giữ đàn ḅ, không thể khiến đàn ḅ được hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một người chăn ḅ không biết rơ sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con ḅ chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, là người không chú ư, không săn sóc đặc biệt những con ḅ đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ nào không đầy đủ mười một đức tánh như vậy, không thể chăn giữ đàn ḅ, không thể khiến đàn ḅ được hưng thịnh.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp, không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không biết sắc, không khéo (phân biệt) các tướng, không từ bỏ trứng con ḅ chét, không băng bó vết thương, không có xông khói, không biết chỗ nước có thể lội qua, không biết chỗ nước uống, không biết con đường, không khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng Tọa trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, không có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt. Đức Thế Tôn giảng rơ từng chi pháp của mười một pháp không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Tỷ-kheo nào không đầy đủ mười một pháp này, th́ không thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này.
Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn ḅ, khiến đàn ḅ trở thành hưng thịnh. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ biết rơ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con ḅ chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường, khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, không vắt sữa cho đến khô kiệt, là người chú ư săn sóc đặc biệt, những con ḅ đực già và đầu đàn. Này các Tỷ-kheo, người chăn ḅ đầy đủ mười một đức tánh này có thể chăn giữ đàn ḅ và làm cho đàn ḅ trở thành hưng thịnh.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ mười một pháp này có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Thế nào là mười một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, biết rơ sắc, khéo (phân biệt) các tướng, trừ bỏ trứng con ḅ chét, băng bó vết thương, có xông khói, biết chỗ nước có thể lội qua, biết chỗ nước uống, biết con đường khéo léo đối với các chỗ đàn ḅ có thể ăn cỏ, không phải là người vắt sữa cho đến khô kiệt, đối với những Thượng tọa, trưởng lăo, xuất gia đă lâu ngày, bậc tôn túc trong Tăng giới, bậc lănh đạo trong Tăng giới, có sự tôn kính, tôn trọng đặc biệt. Đức Thế Tôn giảng rơ từng chi pháp của mười một pháp có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này. Tỷ-kheo nào đầy đủ mười một pháp này, th́ có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thành măn trong Pháp và Luật này.