BÀI GIẢNG TUẦN LỄ
TỪ 26/11/07 ĐẾN 01/12/07
Chủ Nhiệm Điều Hợp Thảo Luận trong tuần: ĐĐ Pháp Đăng/ĐĐ Pháp Tân
Thứ Hai:
TT Giác Đẳng:
"
PHÁP TU LÊN BẬC TRÊN"(Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Ba:
ĐĐ Tuệ Quyền:
"KINH
VÔ NGĂ TƯỚNG" .
(Toát Yếu: Như Quang)
Thứ Tư:
Ni Sư Liễu Pháp :
"NHỮNG CUỘC HOẰNG PHÁP ĐẦU TIÊN". (Toát Yếu:
Như Quang)
Thứ Năm:TT
Tuệ Siêu:
"VÍ DỤ MẶT TRỜI"(Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Sáu: ĐĐ
Pháp Đăng:
"THÀNH
ẤP" (Toát
Yếu: Như Quang )
Thứ Bảy:ĐĐ
Pháp Tân
"LƯ DUYÊN KHỞI" (Toát
Yếu: Như Quang)
---------
Bài học ngày Thứ Hai 26 tháng 11, 2007
PHÁP TU LÊN BẬC TRÊN
(Bản Anh ngữ: The First Disciples, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu, Tạng Luật Vinaya Pitaka Đại Phẩm Mahāvagga. Nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-luat-daipham/dp-01a.htm)
Sau đó, khi đă thấy được Pháp, đă thành tựu được Pháp, đă hiểu được Pháp, đă thấm nhuần Pháp, hoài nghi đă không c̣n, sự lưỡng lự đă dứt hẳn, đă thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không c̣n cần sự trợ duyên của người khác, đại đức Aññākoṇḍañña đă nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đă nói rằng:
- Này tỳ khưu, hăy đến. Pháp đă được khéo thuyết giảng, hăy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính điều ấy đă là sự tu lên bậc trên của đại đức ấy.
Sau đó, đức Thế Tôn đă giáo huấn, đă chỉ dạy các vị tỳ khưu c̣n lại bằng bài Pháp thoại. Khi ấy, trong khi đang được giáo huấn, chỉ dạy bởi đức Thế Tôn bằng bài Pháp thoại, Pháp nhăn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đă sanh khởi đến đại đức Vappa và đại đức Bhaddiya: “Điều ǵ có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Khi đă thấy được Pháp, đă thành tựu được Pháp, đă hiểu được Pháp, đă thấm nhuần Pháp, hoài nghi đă không c̣n, sự lưỡng lự đă dứt hẳn, đă thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không c̣n cần sự trợ duyên của người khác, các vị ấy đă nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch ngài, chúng con có thể xuất gia trong sự hiện diện của đức Thế Tôn không? Chúng con có thể tu lên bậc trên không?
Đức Thế Tôn đă nói rằng:
- Này các tỳ khưu, hăy đến. Pháp đă được khéo thuyết giảng, hăy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.
Chính điều ấy đă là sự tu lên bậc trên của các đại đức ấy.
Sau đó, với bữa ăn đă được mang lại, đức Thế Tôn đă giáo huấn, đă chỉ dạy các vị tỳ khưu c̣n lại bằng bài Pháp thoại. Nhóm sáu vị sống bằng vật mà ba vị tỳ khưu đă đi khất thực và mang về.
------
Bài học ngày Thứ Ba 27 tháng 11, 2007
KINH VÔ NGĂ TƯỚNG
(Bản Anh ngữ: First Teachings, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Luật tạng, Đại phẩm Mahāvagga. Nguồn:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-luat-daipham/dp-01a.htm)
1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Iśpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) -- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngă. Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngă, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Và này các Tỷ-kheo, v́ sắc là vô ngă. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
5) Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngă. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngă, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được các thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
6) Và này các Tỷ-kheo, v́ thọ là vô ngă. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
7) Tưởng là vô ngă...
8) Các hành là vô ngă, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngă, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"
9) Và này các Tỷ-kheo, v́ các hành là vô ngă. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!"
10) Thức là vô ngă, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngă, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được các thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
11) Và này các Tỷ-kheo, v́ thức là vô ngă. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
12) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
-- Cái ǵ vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái ǵ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lư chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
13-15) -- Thọ... Tưởng... Các hành...
16) Thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái ǵ vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái ǵ vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lư chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngă của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
17) -- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc ǵ quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi".
18) Phàm thọ ǵ...
19) Phàm tưởng ǵ...
20) Phàm các hành ǵ...
21) Phàm thức ǵ quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi".
22) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đă được giải thoát". Vị ấy biết rơ: "Sanh đă tận, Phạm hạnh đă thành, những việc nên làm đă làm, không c̣n trở lui trạng thái này nữa".
23) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
-------------
Bài học ngày Thứ Tư 28 tháng 11, 2007
NHỮNG CUỘC HOẰNG PHÁP ĐẦU TIÊN
(Bản Anh ngữ: The First Missionaries, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Luật Tạng, Đại Phẩm Mahāvagga. Nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-luat-daipham/dp-01a.htm)
Vào lúc bấy giờ, trên thế gian có sáu mươi mốt vị A-la-hán.
Sau đó, đức Thế Tôn đă bảo các vị tỳ khưu rằng:
- Này các tỳ khưu, ta đă thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cơi trời và loài người. Này các tỳ khưu, các ngươi cũng đă thoát khỏi tất cả các sự trói buộc thuộc về cơi trời và loài người. Này các tỳ khưu, hăy cất bước du hành v́ lợi ích của nhiều người, v́ an lạc của nhiều người, v́ ḷng thương xót thế gian, v́ sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một (đường). Này các tỳ khưu, hăy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ư nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ. Có những hạng người sanh lên bị ít ô nhiễm sẽ là những người hiểu được Giáo Pháp, (nhưng) do việc không nghe Giáo Pháp sẽ bị thoái hóa. Này các tỳ khưu, ta cũng sẽ đi đến ngôi làng của Senāni ở Uruvelā cho việc thuyết giảng Giáo Pháp.
Sau đó, Ma Vương đầy tội lỗi đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă nói với đức Thế Tôn bằng những lời kệ này:
- Các cạm bẫy trời người
đă trói buộc ngài rồi,
ngài đă bị trói buộc
bởi gông cùm vĩ đại.
Hỡi này vị sa-môn,
người không thoát khỏi ta!
(Đức Thế Tôn đáp lại rằng):
- Các cạm bẫy trời người,
ta đây thoát ra rồi,
gông cùm dầu vĩ đại
ta đă tự do rồi.
Ngươi đă bị thua rồi,
hỡi kẻ gây tử vong.
- Di chuyển khắp bầu trời
bẫy này chiếm ngự tâm
ta sẽ dùng vật ấy
trói buộc chặt ngài lại.
Hỡi này vị sa-môn
người không thoát khỏi ta!
- Sắc đẹp, thinh, hương thơm
vị nếm, và cảm xúc,
tuyệt duyệt ở chốn này
ta không c̣n mong mỏi.
Ngươi đă bị bại rồi
hỡi kẻ gây tử vong.
Khi ấy, Ma Vương đầy tội lỗi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đă nhận ra ta rồi! Đấng Thiện Thệ đă nhận ra ta rồi!” nên xấu hổ, bực bội, rồi đă biến mất ngay tại chỗ ấy.
--------------
Bài học ngày Thứ Năm 29 tháng 11, 2007
VÍ DỤ MẶT TRỜI
(Bản Anh ngữ: The Light of the World, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn: http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu5-56a.htm)
1) -- Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám, không thể phân biệt đêm và ngày, không thể phân biệt tháng và nửa tháng, không thể phân biệt thời tiết hằng năm.
2) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Và có sự phân biệt đêm ngày, có sự phân biệt tháng và nửa tháng, có sự phân biệt thời tiết hằng năm.
3) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, không có hào quang lớn. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám. Cho đến khi ấy, không có sự tuyên bố, không có sự thuyết giảng, không có sự tŕnh bày, không có sự thiết lập, không có sự khai diễn, không có sự phân tích, không có sự hiển thị bốn Thánh đế.
4) Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Cho đến khi ấy, có sự tuyên bố, có sự thuyết giảng, có sự tŕnh bày, có sự thiết lập, có sự khai diễn, có sự phân tích, có sự hiển thị bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
5) Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ diệt.
6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Khổ"... một sự cố gắng cần phải làm để rơ biết: "Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt".
-----------
Bài học ngày Thứ Sáu 30 tháng 11, 2007
THÀNH ẤP
(Bản Anh ngữ: The City and the Ancient Road, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Source: http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12c.htm)
...Tại Sàvatthi.
Thuở xưa, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Đẳng Giác, Đức Thế Tôn suy nghĩ như sau: "Thật sự thế giới này bị hăm trong khổ năo, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết".
Rồi Ngài lại suy nghĩ " Do cái ǵ có mặt, già chết hiện hữu? Do cái ǵ, già chết sanh khởi?" và phát sinh minh kiến: "Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi".
Rồi Ngài lại suy nghĩ: "Do cái ǵ có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái ǵ, danh sắc sanh khởi?" và phát sinh minh kiến: "Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi".
Rồi Ngài lại suy nghĩ: "Do cái ǵ có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái ǵ, thức sanh khởi?" và phát sinh minh kiến: "Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi".
Rồi Ngài suy nghĩ: "Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi..". Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Rồi Ngài lại suy nghĩ: "Do cái ǵ không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái ǵ diệt, già chết diệt?" và phát sinh minh kiến: "Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt".
Rồi Ngài lại suy nghĩ: " Do cái ǵ không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái ǵ diệt, danh sắc diệt?" và phát sinh minh kiến: "Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt".
Rồi Ngài lại suy nghĩ: "Do cái ǵ không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái ǵ diệt, nên thức diệt ?" và phát sinh minh kiến: "Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt".
Rồi Ngài lại suy nghĩ: "Ta đă chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. ..(như trên)...Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt".
Rồi ngài đưa ra một sự so sánh: Ví như một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đă từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ. Rồi người ấy báo cáo việc này với vua hay vị đại thần và xin hăy xây dựng lại ngôi thành ấy".
Rồi vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.
Ngài kết luận: Cũng vậy, Ta đă thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Đẳng Giác thuở xưa đă đi qua. Đó chính là con đường Thánh đạo tám ngành.
------------
Bài học ngày Thứ Bảy 01 tháng 12, 2007
LƯ DUYÊN KHỞI
(Bản Anh ngữ: The Law of Causation, trích từ “Some Sayings of the Buddha, dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Source:
http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12a.htm)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng Lâm), trong vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Độc).
2) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về lư Duyên khởi. Hăy lắng nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3) Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, thế nào là lư Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi.
4) Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, năo diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là đoạn diệt.