phapluan.net Trang chính


Duyên khởi và sự sanh tồn của vạn hữu

TT. Tuệ Siêu giảng trong rơom Phật Pháp Buđdhadhamma , ngày 29 tháng 9 năm 2011

Minh Hạnh chuyển biên


TT Tuệ Siêu: Hôm nay chúng ta tiếp tục học về giáo trình Thập Nhị Duyên Khởi, đây là một giáo trình lớn, chúng ta đã trải qua hơn nữa tháng nói về ý nghĩa của Thập Nhị Duyên Khởi, tiếp theo đó là những bài kinh trong Tương Ưng Bộ kinh Samyutta Nikaya và Đức Phật Ngài thuyết bằng nhiều cách để trình bày giá trị của giáo lý Duyên Khởi.

Bài giảng ngày hôm qua nói về Đức Phật Ngài dạy 44 trí căn bản hay căn bản trí của Thập Nhị Duyên Khởi, nói đến sự giác ngộ của pháp Duyên Khởi qua bốn khía cạnh của Tứ Đế.

Hôm nay chúng ta nghe một bài kinh về pháp "Duyên Khởi và sự sinh tồn của vạn hữu". Tuy nhiên, không phải bài học hôm nay chỉ nói về Duyên Khởi và sự sinh tồn của vạn hữu mà còn đặc biệt nhấn mạnh một điểm then chốt trong Thiền Quán đó là giáo lý Duyên Khởi nói lên lý "Vô Ngã".

Ở đây, thoạt đầu thì Đức Phật Ngài nêu lên Tứ Thực là bốn món ăn và nhờ Tứ Thực này chúng sanh duyên cho sự sanh thành, duyên cho tái sanh trong tương lai. Khi đã sanh thành thì được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh được thọ sanh, chính vì ý nghĩa này chúng ta mới có tựa đề "Giáo lý Duyên Khởi và sự sinh tồn của vạn hữu".

Đức Phật đã mở đầu cho pháp Thập Nhị Duyên Khởi bằng cách Ngài trình bày về bốn vật thực, với câu nói rằng:

- " Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā - tất cả chúng sanh duy tồn nhờ vật thực."

Chữ vật thực ở đây chúng ta phải hiểu theo nghĩa bóng và nghĩa đen.

Vật thực hiểu theo nghĩa đen chỉ cho đoàn thực hay sắc vật thực; thức ăn như cơm, nước, bánh trái chúng ta ăn vào từ nơi miệng để tiêu hóa qua dạ dày và chất dưỡng tố của vật thực của cơm, bánh, rau quả sẽ tiết ra một chất dưỡng tố để nuôi thân tứ đại, vật thực này thì chúng ta ăn hàng ngày qua bữa điểm tâm buổi sáng, bữa ăn trưa, bữa cơm chiều để nuôi mạng.

Ba vật thực sau chúng ta phải hiểu nghĩa bóng:

- Xúc thực (Phassāhāra), là một loại thức ăn, bởi vì do xúc duyên thọ, do có xúc mới phát sanh thọ được. Thì như vậy xúc trở thành vật thực của thọ nằm trong giáo lý Duyên Khởi ở chỗ xúc duyên thọ, cho nên xúc là một loại vật thực gọi là xúc thực.

- Tư niệm thực (sañcetanāhāra) chúng ta gọi tắt là cetanà. Cetana này trở thành Tư thuộc về Hành (Sankhara) hay là Tư thuộc về Hữu (Bhàva) mà trong Duyên Khởi chúng ta có hành duyên thức hay là hữu duyên sanh. Thì như vậy Tư (cetanà) ở đây đóng vai trò vật thực để tạo ra quả thức hay là quả tái sanh, nếu như không có Hành tức là Tư phúc hành, Tư phi phúc hành, Tư bất động hành, thì sẽ không có Thức, nếu không có Tư thuộc về nghiệp hữu, thân nghiệp hữu, khẩu nghiệp hữu, ý nghiệp hữu thì như vậy sẽ không có sự tái sanh do đó cho nên Tư được gọi là Tư niệm thực (sañcetanāhāra).

- Thức thực (Viññāṇāhāra). Thức trong pháp Duyên Khởi hay y tương sinh thì đóng vai trò năng duyên, thức duyên cho danh sắc rồi từ đó danh sắc mới duyên cho lục nhập, xúc, thọ v.v... thì như vậy thức được xem như là một loại vật thực của ba danh uẩn còn lại và là thức ăn cho sắc nghiệp tái tục.

Được gọi là thức ăn là bởi vì "Āhāriyatīti = Āhāro" cái gì mang lại sự sống mang lại sự sanh khởi thì cái đó gọi là Vật thực.

Cũng giống như là thức ăn cơm nước bánh trái nếu không có thì thân của chúng ta sẽ bị kiệt sức không có phát triển được, khi em bé mới sanh ra thì sữa là vật thực nhờ có uống sữa cho nên em bé mới phát triển, và khi đã thôi nôi dứt sữa bây giờ nó phải ăn cơm hoặc ăn cháo hay ăn bột cũng là vật thực mới phát triển tiếp tục. Như thế nào, thì sắc vật thực làm cho phát triển thân này thì danh vật thực, xúc, tư và thức làm cho phát triển toàn bộ danh uẩn này. Bốn thực này rất quan trọng.

Trong một vài bài kinh Đức Phật Ngài đặc biệt thuyết về bốn thực và Ngài chỉ cho cách tu tập để quán xét về bốn thực như thế nào. Nhưng ở đây thì chúng ta cần phải hiểu trong bài kinh này Đức Phật Ngài đã dạy cho Tôn Giả Phagguna bốn thực này liên quan đến Thập Nhị Duyên Khởi, chúng ta sẽ thấy nội dung của giáo lý Duyên Khởi được trình bày qua bốn thực đã nêu rõ về pháp Vô ngã.

Chúng ta cần phải chú ý với những câu hỏi mà Tôn Giả Phagguna đã bạch hỏi Đức Phật. Thí dụ bây giờ nói thức thực, thực là thức ăn, hỏi là:

- "Ai ăn"

Đức Phật Ngài phủ nhận câu hỏi đó, không nên hỏi là "Ai ăn" mà phải nói:

"Thức thực làm duyên cho cái gì, trợ cho cái gì sanh ra"

Không nên nói: "Ai ăn thức thực."

Nếu còn có "Ai" thì thuộc về chấp ngã, chấp có "cái tôi" "cái ta" cái bản ngã "Tôi ăn". Không nên hỏi như vậy bởi các pháp sanh lên do duyên mà sanh và các pháp đó trợ duyên cho các pháp khác sanh ra chứ không phải là "Ai".

Cũng giống như chúng ta nhìn các lượn sóng ở trên mặt sông hay mặt biển, chúng ta đừng hỏi rằng "Ai đẩy những sóng nước đó vào", không có ai đẩy mà chỉ là dung lượng của làn sóng trước dâng cao và khi nó chìm xuống thì nó lấn nó đẩy nước ở phía trước tạo nên làn sóng thứ hai, và khi làn sóng thứ hai chìm xuống thì nó đẩy làn sóng phía trước tạo nên làn sóng thứ ba, do làn sóng này có mặt cho nên làn sóng kia mới xuất hiện. Thì như vậy không nên đặt vấn đề là "Ai đẩy", không có "Ai" tạo ra lượng sóng và đẩy vào bờ.

Trong câu hỏi thì chúng ta phải chú ý một điểm là "các pháp do duyên trợ" thì phải đặt một câu hỏi cho chính xác là "danh vật thực ấy như là xúc trợ cho cái gì sanh lên" hay là "xúc do cái gì làm vật thực mà nó có", mỗi một pháp duyên khởi chúng ta đều phải đặt hai câu hỏi đó, nó liên quan đến thân.

Thì ở đây: xúc có lục nhập làm vật thực làm thức ăn, bởi vì lục nhập duyên xúc. Rồi xúc đó làm thức ăn cho thọ, xúc duyên cho thọ.

Cũng như khi nói "Ai cảm thọ" nếu đặt câu hỏi như vậy, Đức Phật Ngài phủ nhận là không đúng bởi vì không ai cảm thọ, không có một chúng sanh người thú hay là vật chi cảm thọ, mà chỉ có vấn đề là: "Thọ có gì là vật thực" rồi "Thọ làm vật thực cho cái gì", chúng ta phải hiểu như vậy.

Thì qua lý duyên khởi ở đây thì chúng ta thấy

"Thọ có xúc làm vật thực" nên mới gọi là "Xúc duyên thọ", nhờ có xúc cho nên thọ mới sanh khởi mới phát triển,
Và thọ làm vật thực cho ái sanh lên.
Ái làm vật thực cho thủ sanh lên.
Thủ làm vật thực cho hữu sanh lên
Hữu làm vật thực cho sanh v.v...

Thì như vậy ở đây chúng ta cần phải chú ý trong bài kinh này là Đức Phật Ngài đã dùng bốn pháp thực hay thức ăn để làm tiêu đề cho các pháp duyên khởi thay vì trước đây thì chúng ta nói "vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, cái này duyên cho cái kia sanh lên." Bây giờ Đức Thế Tôn Ngài nói một cách khác, pháp này có gì là vật thực, và pháp này làm vật thực cho pháp nào sanh ra. Chúng ta phải hiểu nội dung của bài kinh như thế.

Thì ở đây, Đức Phật Ngài thuyết giảng cẩn thận khi nói đến vấn đề này thì chúng ta cần phải hiểu là pháp Duyên Khởi đó nói lên lý "Vô ngã" không có ai ăn vật thực, không có ai ăn thức thực, không có một linh hồn bất biến để đi tái sanh chỉ có thức tái sanh mà thôi, và thức đó do Hành làm duyên và thức đó làm vật thực trợ cho danh sắc sanh ra phát triển, danh sắc duyên cho lục nhập, lục nhập duyên cho xúc. Chúng ta cũng đừng hỏi rằng "Ai xúc", "Tôi đụng", "Tôi thấy", Tôi nghe", "Tôi ngửi", "Tôi nếm", điều đó không đúng mà xúc này là do lục nhập làm thức ăn mới phát sanh được, nếu không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì sẽ không có nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, tỉ xúc, thân xúc, và xúc này làm vật thực cho thọ, cảm thọ khổ, cảm thọ vui, thọ phi khổ, phi lạc khổ, lạc phi khổ phi lạc.

Xúc làm vật thực cho thọ phát sanh như thế. Thọ này làm vật thực cho ái. Thì như vậy chúng ta thấy rõ trước thì thọ có xúc là vật thực. Và thọ đó trở thành vật thực để làm cho sanh khởi ái, chúng ta phải hiểu tuần tự như thế. Rồi nói đến ái, "Ai khát ái", không ai khát ái, ái này sanh lên có thọ làm vật thực, vì có cảm thọ cho nên mới duyên cho ái. Rồi ái này làm vật thực cho thủ. Thủ làm vật thực cho hữu. Chữ hữu trong bài kinh này chúng ta cần phải hiểu hai ý nghĩa là nghiệp hữu và sanh hữu.

Cho nên điểm thứ hai chúng tôi muốn nói đặc biệt là trong bài kinh chúng ta sẽ lầm tưởng với chấp thủ là "Tôi" là "Ta" là "Tự ngã" là "Chúng sanh" là "Linh hồn" thì những pháp Duyên Khởi đó được Đức Phật Ngài phá ngã bằng cách là Ngài nêu lên vật thực nêu lên thức ăn của pháp đó. Cũng như khi chúng ta nói rỉ sét do sắc sanh và rỉ sét đó làm cho mòn thanh sắt thì ở đây chúng ta nên nhớ chính do sự oxy hóa của sắt làm cho rỉ sét và rỉ sét đó làm cho sắt bị bào mòn, chúng ta đừng nghĩ rằng cái từ mà chúng ta sài thông thường là "sét sanh ra sắc rồi sắc ăn mòn thanh sắt", sét không có răng để mà ăn mà chính sự có mặt của rỉ sét làm cho thanh sắt bị hoại bị biến chất. Các pháp Duyên Khởi ở đây chúng ta cũng phải hiểu như thế, không có ai xúc, không có ai cảm thọ, không có ai khát ái, mà chỉ là do cái này có mặt cho nên cái kia có mặt, hễ lục nhập có mặt thì xúc có mặt, mà khi xúc có mặt thì thọ tự nhiên có mặt, và thọ có mặt thì ái có mặt, chúng ta phải hiểu như vậy.

Chúng tôi muốn trình bày trong ý nghĩa của bài kinh này ở hai khía cạnh; nếu dựa trên tiêu đề của bài học thì chúng ta sẽ thấy rằng "Tất cả chúng sanh duy tồn nhờ vật thực", cái sắc pháp này cái thân tứ đại này được duy tồn được sanh trưởng là do nhờ đoàn thực tức là thức ăn - āhāra gọi là Kabaliṅkārāhāra. Nhưng sự duy trì danh pháp và duy trì sự liên tục tiếp nối đời sống này và đời sống khác là do danh vật thực là Xúc, Tư và Thức. Và câu mà Đức Thế Tôn đã thuyết "Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā - tất cả chúng sanh duy tồn nhờ vật thực". Chúng ta phải hiểu như thế. Cái gì sanh lên đều có các pháp khác làm duyên trợ hay làm thức ăn cho, và khi pháp đó đã có mặt rồi nhờ pháp khác làm vật thực thì cái pháp ấy trở thành thức ăn cho pháp khác. Trong ý nghĩa thứ nhất là sự sinh tồn của vạn hữu là như vậy.

Trong ý nghĩa thứ hai của bài kinh, chúng tôi muốn nhấn mạnh ở chỗ chúng ta chú ý ở bài kinh này sở dĩ Đức Phật Ngài phủ nhận câu hỏi của Tôn Giả Phagguna là vì câu hỏi đó không thích hợp vì không có cái gì gọi là "Ngã" là "Ta" cho nên đừng đặt vấn đề là "Ai xúc", "Ai cảm thọ" hay là "Ai khát ái" tất cả pháp đều là "Vô ngã" do cái này có mặt nên cái kia có mặt, do cái kia có mặt cho nên cái nọ mới có mặt, các pháp trợ nhau phát sanh lên, trong ý nghĩa trợ duyên đó thì Đức Phật Ngài gọi là vật thực nhưng đồng thời cũng nói lên cái lý "Vô ngã" ở trong pháp "Duyên khởi".

Dựa vào hai vấn đề này: Vấn đề vạn hữu sinh tồn nhờ vật thực, và vấn đề vạn pháp vô ngã chỉ do duyên trợ sanh. Hai vấn đề đó là đề tài giúp cho chúng ta tu tập thiền quán. Khi chúng ta tu tập thiền định chúng ta không nên đặt vấn đề hơi thở hiện hữu, thở vào thở ra, để nghĩ rằng "Tôi thở vào, tôi thở ra" nó không có cái "Tôi" cái "Ta" trong đó, hay là khi cảm thọ phát sanh lên thì vị hành giả chỉ ghi nhận cảm thọ đang sanh, và cảm thọ này cái gì là duyên trợ sanh, và cảm thọ này làm duyên trợ sanh cho cái gì. Chúng ta phải hiểu theo ý nghĩa đó chớ đừng nghĩ rằng "Tôi buồn", "Tôi đang thọ khổ", "Tôi đang thọ lạc", "Tôi đang thọ ưu", "Tôi đang thọ hỉ" hay "Tôi đang thọ xả".

Có những vị hành giả mà chúng tôi tiếp xúc được vì họ không hiểu được giáo lý Duyên khởi là giáo lý Vô ngã cho nên khi họ hành thiền quán họ nói ra trái ngược với tư tưởng thiền quán. Thiền quán là để nhận thức danh và sắc là Vô thường, Khổ và Vô ngã. Thế nhưng khi họ niệm đề mục: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, khi họ niệm thì họ ghi nhận "Tôi thở vô", "Tôi thở ra", hay là "Tôi thọ vui", "Tôi thọ buồn", "Tôi thọ khổ", "Tôi thọ lạc", họ nghĩ rằng khi đọc trong kinh điển thấy như thế. Nhưng ở đây chúng ta nên nhớ rằng khi Đức Thế Tôn Ngài thuyết lên bài kinh Tứ Niệm Xứ đặc biệt là Ngài không dùng chủ ngữ "Ahan" hay là "Atta" mà trong câu nói Ngài chỉ đề cập đến một động từ ở ngôi thứ nhất nhưng không vì lý do dùng động từ ở ngôi thứ nhất mà chúng ta lại nghĩ rằng đó là Đức Phật Ngài đã nói lên cái "Ngã" cái "Ta", "Tôi thở vô", "Tôi thở ra". Không phải như vậy.

Khi thở vô biết rõ đang thở vô, nhưng bây giờ động từ đang thở vô đó trong ngữ pháp thì phải dùng động từ, luôn luôn là phải dùng ở một ngôi nào đó, ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ hai hay ngôi thứ nhất. Thì tất nhiên chính bản thân của vị hành giả đang ghi nhận và hơi thở đang diễn ra ở nội thân này, do vậy cho nên Ngài dùng động từ ở ngôi thứ nhất thôi, nhưng lẽ thường khi chúng ta nói trong ngôn ngữ đàm thoại thì ngôi thứ nhất động từ thì bao giờ chúng ta cũng dịch là "Tôi", nhưng chúng ta nên chú ý ở trong bài kinh Đại Niệm Xứ là Đức Phật Ngài không dùng chủ ngữ của câu "Ahan" hay là "Atta" mà Ngài chỉ dùng ngôi thứ nhất động từ để chỉ cho ngay chính bản thân này thở vô thở ra, chúng ta đừng có nhầm tưởng chỗ đó rồi chúng ta cho rằng Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta cách chắc niệm "Tôi thở vô, tôi thở ra" hay là "Tôi cảm thọ." Ngài không có dạy như thế. Cũng như khi Đức Phật Ngài dạy rằng:

- "Attā hi attano nātho ko hi nātho paro siyā - ta là vị cứu tinh của ta không ai là vị cứu tinh của mình được."

Thì mặc dầu ở trong bài kinh Pháp Cú đó Đức Phật Ngài dùng chữ "Attà", nhưng chúng ta phải hiểu là cái từ tục đế là để chỉ cho tự mình làm chỗ nương tựa cho mình là vị cứu tinh của mình, không ai là chỗ cứu tinh cho mình được. Chúng ta phải hiểu như vậy. Có những quyển sách, chúng tôi thấy khi đề cập đến cái "Ta" nguy hiểm lúc bấy giờ họ chưng dẫn những câu Pháp Cú mà Đức Phật Ngài dùng từ tục đế là chữ "Attà" là "Ngã" thì trường hợp này nó không có hay. Là một vị tu tập thiền quán cần phải dùng trí tuệ để quán chiếu ngũ uẩn hay danh sắc, toàn bộ khổ uẩn này nó sanh khởi do duyên trợ tạo, và duyên đó có mặt thì pháp đó sanh lên, mà cái năng duyên đó bị đoạn diệt rồi thì pháp khác cũng bị diệt theo.
Vô minh diệt tức là vô minh không có mặt thì hành không có mặt
Hành diệt thì thức diệt
Thức diệt thì danh sắc diệt
Danh sắc diệt thì lục nhập diệt,
Lục nhập diệt thì xúc diệt,
Xúc diệt thì thọ diệt v.v....

Do sự đoạn diệt của xúc cho nên mới đoạn diệt thọ. Chữ đoạn diệt này chúng ta phải hiểu được là sự mất đi duyên trợ tạo, chúng ta phải nhớ như thế. Ở trong cuộc sống của chúng ta rất là bình thường, chúng ta phải hiểu như thế này, tại sao chúng ta có thân già bệnh chết này, thân già bệnh này có mặt là vì duyên là có sanh, khi nào chấm dứt sự tái sanh thì lúc bấy giờ không có già chết. Bây giờ làm sao đoạn diệt chấm dứt sự tái sanh thì ở đây là phải đoạn diệt hữu nếu không có tạo nghiệp hữu, thiện hay bất thiện, thì sẽ không có sự tái sanh. Mà hữu này làm sao đoạn diệt được là:

khi nào không có thủ là không có hữu,
không có ái thì sẽ không có thủ,
không có thọ thì sẽ không có ái,
không có xúc thì sẽ không có thọ,
không có lục nhập thì không có xúc
không có danh sắc thì không có lục nhập,
không có thức thì sẽ không có danh sắc,
không có hành thì sẽ không có thức,
không có vô minh thì sẽ không có hành.

Chúng ta phải hiểu ngược lại như thế.

Nói tóm lại, trong bài kinh này Đức Phật Ngài nhấn mạnh giáo lý "Vô ngã" qua các pháp "Duyên khởi", Ngài chỉnh lại câu hỏi của Tôn Giả Phagguna và Ngài đưa một câu hỏi khác cho thích hợp để nói đến pháp "Vô ngã". Và tất cả các pháp, pháp nào mà có duyên trợ tạo sanh ra thì cái duyên trợ tạo đó được gọi là thức ăn cho cái pháp này, chúng ta phải hiểu như thế. Và khi chúng ta hiểu được như vậy rồi thì việc tu tập thiền quán của chúng ta sẽ có hiệu quả. Còn khi chúng ta không hiểu được giáo lý Duyên khởi" là pháp "Vô ngã" thời như vậy khi hành thiền quán chúng ta cứ chấp cái "Tôi", cái "Ta", cái "Bản ngã" thì như vậy sự hành thiền của chúng ta sẽ không có hiệu quả. Đó là ý nghĩa rất là đặc biệt.

Và chúng tôi hi vọng rằng sau khi đã được trình bày và giải thích cho chúng ta nếu như chúng ta hiểu được giáo lý "Duyên khởi" là pháp "Vô ngã" sẽ có điều lợi lạc, đó được gọi là chánh tri kiến. Còn khi chúng ta không hiểu được pháp "Duyên khởi" là pháp "Vô ngã" thời như vậy sẽ khiến cho chúng ta đi sai từ cái này đến cái khác, bởi vì khi còn chấp thủ về bản ngã, chấp thủ "Tôi cảm xúc", "Tôi cảm thọ" v.v... thì trong trường hợp này sẽ không hay, chúng ta sẽ khó thấy được cái lý Vô thường, Khổ và Vô ngã để mà đạt đến tuệ quán dứt trừ phiền não và chứng đắc Niết-bàn./.