phapluan.net Trang chính


Kinh Nhập Tức, Xuất Tức Niệm (tiếp theo)

TT. Giác Đẳng giảng trong Lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 8-06-2012

Minh Hạnh chuyển biên


TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta trở lại với kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, tức là kinh quán niệm hơi thở ra hơi thở vào. Chúng ta nên ôn nhắc một vài khái niệm đã được đề cập.

Trong bài học trước, chúng ta có đề cập đến những giai đoạn mà hành giả khi quán niệm hơi thở đi qua:
- Đầu tiên thì hành giả ghi nhận được hai nhịp điệu đó là hơi thở ra và hơi thở vào. 
- Sau khi hành giả đã thật sự thuần thục với nhịp điệu ra và vào thì hành giả sẽ tinh tế hơn nhận ra sự bắt đầu và chấm dứt của hơi thở ra và hơi thở vào.
- Sự ghi nhận bắt đầu và chấm dứt của hơi thở ra hơi thở vào hành giả sẽ đi đến một bước nữa là có thể ghi nhận được thời lượng ngắn và dài. 

( Chúng tôi nhắc qúi vị ở tại đây đó là: Đây là một điều mang tính thuần thục nếu một hành giả mới bắt đầu niệm hơi thở thì chỉ cần ghi nhận hơi thở vô và ra thôi chứ không nhận hơi thở ngắn và dài. Cái khả năng mà đủ sức để nhận biết hơi thở ngắn và dài nó phải trải qua một thời gian thuần thục đối với chánh niệm về hơi thở. Nếu ban đầu vào mà qúi vị cứ để ý ngắn và dài thì đôi lúc nó sẽ tạo cho qúi vị rất là khó khăn).

- Và rồi sau đó thì hành giả có thể đi xa hơn đó là hành giả có thể cảm giác toàn thân. Cảm giác toàn thân ở đây tức là mình không thấy hơi thở với thân là hai mà mình thấy rằng hơi thở với thân là một. Chúng ta sẽ thấy rằng khi thở ra thở vào thì sự việc mà hơi thở ra và vào nó ảnh hưởng toàn bộ đến thân của chúng ta, hành giả sẽ cảm nhận được điểm đó. 
- Và sau sự cảm giác toàn thân thì hành giả đã đi qua một giai đoạn gọi là "An Tịnh Thân Hành". An tịnh thân hành nghĩa là thở một cách nhẹ nhàng tự nhiên không vật lộn với hơi thở và ở đây thì hành giả đạt đến một mức độ rất là khách quan không máy mó không can dự vào việc điều khiển hơi thở mà hành giả chỉ ghi nhận hơi thở. Do vậy tâm trở nên tế nhị và hơi thở cũng trở nên tế nhị, chúng ta gọi đó là "An Tịnh Thân Hành".
- Rồi hành giả cũng qua hơi thở có thể ghi nhận được những cảm giác như là Hỉ Thọ, Lạc Thọ, và những trạng thái khác mà chúng ta được nghe ở tại đây liên quan đến khả năng bắt nhịp giữa hơi thở và những trạng thái khác. Ví dụ như là thở ra thở vào bằng tâm hân hoan, thở ra thở vào bằng tâm định tỉnh, hay là thở ra thở vào bằng quán vô thường.

Chúng tôi có nói với qúi vị trong bài học trước là, dùng hơi thở để đi với những thứ đó giống như nhạc và lời ca, nhạc sẽ dẫn dắt cho lời ca và lời ca nhờ có nhạc mà trở lên sinh động. Thì đến mức độ hành giả có thể phát huy được một số những trạng thái như là hân hoan, định tỉnh, giải thoát, quán vô thường và đi kèm với hơi thở thì lúc bấy giờ hành giả đã có thể xem như là tương đối tinh luyện tương đối thuần thục.

Chúng tôi muốn lấy một ví dụ rất gần, Phật tử có gia đình thì có thể hiểu được trọng tâm của gia đình là gì, đó là con cái là những người thân trong nhà, còn những chuyện như giao tế xã hội giao thiệp xa gần hay việc sinh hoạt thù tạc v.v... đó là ở bên ngoài. Thì với một người chưa đạt được mức độ tinh luyện đôi khi họ thấy rằng chuyện giao tế ở bên ngoài chuyện hoạt động bên ngoài và các việc ở trong nhà là hai việc hoàn toàn khác nhau, ở trong nhà là trong nhà, ở ngoài ngõ là ngoài ngõ. Nhưng với một người đủ sự hiểu biết thì họ thấy rằng trong đời sống sở dĩ mình đi giao thiệp ở bên ngoài là vì gia đình là vì bản thân. Và vì bản thân và gia đình mình phải có sự giao thiệp xa gần, hai điều này nó không có khác biệt. Chúng tôi lấy ví dụ là có một bà mẹ nói với chúng tôi rằng con gái chưa lấy chồng thành ra bà dự trù trong tương lai khi gả con thì phải làm đám cưới trọng thể nên chi bây giờ tuy người ta mời mình dự đám cưới mình cảm thấy cực nhưng mình đi cho người ta rồi mai mốt người ta đi cho mình. Thì cái chuyện mình đi cho người ta rồi mai mốt người ta đi cho mình tức là người đó trong sự xử thế họ có nghĩ đến chuyện ở bên ngoài và họ có nghĩ đến chuyện ở trong nhà, hai chuyện đó là một. Thì hành giả trong chuyện tu tập cũng biết cái căn bản là hơi thở nhưng cũng biết những cái gì xảy ra chung quanh hơi thở. Về điểm này có một số vị cảm thấy không thoải mái nghĩ rằng khi mình niệm hơi thở thì chỉ có niệm hơi thở thôi, thật ra không phải như vậy, đúng ra thì khi mình niệm hơi thở ở giai đoạn đầu tiên giai đoạn vỡ lòng mới bắt đầu thì hành giả chỉ niệm hơi thở thôi nhưng về sau này hành giả có thể xử dụng những quán như là quán về vô thường hay là phát triển khả năng tâm hân hoan và điều đó vẫn không đi rời với hơi thở.

Hoà Thượng Nhất Hạnh khi đọc kinh An Ban Thủ Ý thì HT nghĩ điều này có nghĩa là mình làm sao mà mình vừa thở mà vừa có thể phát triển được tâm hoan hỉ, thí dụ như HT dạy cho các thiền sinh là "thở vào tâm tỉnh lặng, thở ra miệng mỉm cười" thì có nhiều thiền sinh tập họ vừa thở và họ ráng mỉm cười, điều đó thật ra không phải là điều chúng ta thấy trong sớ giải, và Ngài Sona Thera là một vị mà chúng tôi xử dụng nhiều tài liệu của Ngài để giảng dạy thì không phải là chúng ta vừa thở và vừa tập mỉm cười hay là "thở vào tịnh lặng, thở ra miệng mỉm cười" cái đó nó có vẻ như là một sự sáng tạo có tánh cách kịch tính.

Nhưng ở đây không phải như vậy, ở đây trước nhất là hành giả phải trải qua công đoạn đầu tiên, công đoạn này như chúng tôi nói với qúi vị là:
- Chỉ làm sao làm quen với hơi thở cảm nhận hơi thở một cách rõ ràng, rõ ràng là bởi vì thấy được hơi thở ra hơi thở vào
-  và sau đó dần dà thấy được sự bắt đầu và kết thúc của hơi thở ra, thấy được bắt đầu và kết thúc hơi thở vào thì thấy được là hơi thở ngắn hơi thở dài
-  và tuần tự nhi tiến, tức là nó có đi tới chứ không phải là chúng ta mới vào ngồi hơi thở rồi chúng ta vừa tập mỉm cười cái đó thì chúng ta không tìm thấy ở trong kinh
- Nhưng khi hành giả tu tập một thời gian dài những cảm giác hân hoan hay là cảm giác định tỉnh hay là quán vô thường điều đó nó có với hành giả. Thí dụ hành giả có thể quán vô thường qua sự biến chuyển của thân và tâm nhưng đồng thời hành giả sẽ không rời hơi thở, nhớ rằng không có rời hơi thở trong lúc quán vô thường.

Tại sao chúng tôi nói về điểm này là vì người ta có sự tranh luận giữa Định và Niệm. Niệm ở đây chúng tôi lấy ví dụ như là ở đây quán vô thường là thuộc về Niệm nhưng mà khả năng bám trụ với hơi thở cái đó là Định. Ở đây, cái việc hành giả tiếp tục bám trụ với hơi thở là luôn luôn là định.

Hay là chúng tôi lấy ví dụ khác, một người phụ nữ nuôi con buôn gánh bán bưng tảo tần lo mọi thứ nhưng cái chuyện buôn gánh bán bưng tảo tần mọi thứ vẫn không rời mục đích là luôn luôn hướng về con của mình, không có nghĩa là mình buôn gánh bán bưng bên ngoài rồi bỏ con mình, người mà có trách nhiệm thì không phải, nhưng một bà mẹ mà đủ thương con thì dù là tảo tần buôn bán đi ra ngoài đường buôn gánh bán bưng nhưng tất cả những việc đó đều gắn liền với ý niệm là làm sao để nuôi con mình là vậy. Cái chuyện nuôi con mình được xem là Hơi Thở và cái chuyện buôn bán tảo tần ở bên ngoài ví dụ là những Pháp Quán.

Thì thật ra chúng tôi thưa qúi vị rằng đây là một điểm cực kỳ khó khăn, cái chuyện đó tạo nên rất là nhiều sự tranh luận ngay cả các vị dạy thiền về Chỉ và Quán nhưng thật ra trong kinh điển chúng tôi cam đoan với qúi Phật tử rằng có rất nhiều bài kinh Chỉ Quán luôn song hành và ở đây:
-  Chỉ là cột tâm vào trong hơi thở, xoay chung quanh hơi thở 
- và Quán là hành giả có được nhận thức toàn bộ trọn vẹn.

Chúng tôi nói rằng cái chuyện bà mẹ mà ra bên ngoài buôn bán tảo tần nhưng vẫn nghĩ đến con là tại vì nghĩ đến con nên phải ra bên ngoài thì hai cái đó tương tự như là:
- Đứa con thí dụ như là Chỉ là tập trú cột vào
- và Pháp bên ngoài giống như pháp Quán.

Thì hai cái Chỉ và Quán này được xem như là song hành, được xem như là được tinh luyện cùng lúc đối với phương pháp thực hành quán niệm hơi thở.

Bây giờ thì chúng tôi muốn nói đến hai sự cảm nhận gọi là Chánh Niệm. Ở đây, có một thứ là Chánh Niệm Thụ Động, một thứ Chánh Niệm Chủ Động.
- Chánh Niệm Thụ Động, là cái gì sanh khởi thì mình đều ghi nhận như vậy, ví dụ như nói về Thọ Quán Niệm Xứ thì cái thụ động là cái cảm giác khổ, lạc, ưu, hỉ, xả, năm thọ đó thì hành giả đều ghi nhận hết, nó khổ mình cũng ghi nhận mà nó vui mình cũng ghi nhận, khi xả mình cũng ghi nhận, cái chánh niệm thụ động là như vậy.
- Nhưng trong Chánh Niệm Chủ Động, hành giả chỉ phát huy Thọ Quán Niệm Xứ bằng cách là đưa ra những cái gì tốt . Ví dụ như cảm giác hỉ thọ "tôi sẽ thở vô cảm giác hỉ thọ, tôi sẽ thở ra cảm giác hỉ thọ, tôi sẽ thở vô cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở ra cảm giác lạc thọ" . Ở đây qúi vị thấy tuyệt đối là không có trạng thái mà chúng ta gọi là khổ là ưu. Bởi vì ở đây là mình chủ động, khi mình đã chủ động rồi thì mình không có gói ghém mình không chọn khổ ưu cho mình. 

Hoặc giả là về Tâm Quán Niệm Xứ thì vị này vừa niệm hơi thở và vị này vừa luyện tập là cảm giác tâm "tôi sẽ thở vô với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô với tâm thiền định, tôi sẽ thở vô với tâm giải thoát"

Thì qúi vị thấy những trạng thái tâm này rất khác với trong kinh Niệm Xứ của Trung Bộ Trường Bộ thì là tâm cao thượng biết là tâm cao thượng, tâm hạ liệt biết là tâm hạ liệt, tâm có tham biết là tâm có tham, tâm có sân biết là tâm có sân.

Cái chuyện tâm tham hay là tâm sân, tâm cao thượng, tâm định tỉnh, hạ liệt hay không hạ liệt, định tỉnh hay không định tỉnh cái đó là cảnh giới của một nội tâm hoàn toàn thụ động.

Chữ thụ động ở đây không có ý nghĩa là tiêu cực, chữ thụ động ở đây là cái gì đến thì mình ghi nhận, nhưng khi trạng thái gì đến mà ghi nhận đó là trạng thái tu tập ở giai đoạn đầu, khi một hành giả ngồi thiền trong giai đoạn đầu thí dụ như đang ngồi thiền mà trong lòng cảm thấy rất là vui vì hôm nay mình hành thiền tinh tấn thì được hành giả ghi nhận rằng tâm hân hoan, nhưng khi tâm buồn bực khó chịu thì hành giả cũng ghi nhận rằng tâm buồn bực khó chịu, hay hoặc giả là tâm phóng tâm thì hành giả biết là tâm phóng tâm. Cái gì nó xảy ra thì hành giả ghi nhận như vậy thì lúc đó là trạng thái mà chúng ta tạm gọi là thụ động.

Nhưng đại để là, trong Chánh Niệm Thụ Động là Chánh Niệm đó ghi nhận bất cứ cái gì xảy ra mà không có một cái ý trí dự phần can thiệp vào.

 Nhưng mà ở trong cái pháp chúng ta nói ở tại đây đó là, một vị sau khi đã tinh luyện hơi thở sau khi đã thuần thục với hơi thở thì vị này sẽ chủ động bằng cách là dùng hơi thở đó để phát huy những cái khác ví dụ như sự quán về vô thường, ví dụ như là phát triển tâm hân hoan, thí dụ như là vị này phát huy sự an tịnh nội tâm. Những thứ đó không phải đến một cách thụ động mà do vị này chủ động để mà phát huy nó.

Điểm này nó hơi khó hiểu một chút, nhưng nếu qúi vị tu tập thiền định thì qúi vị sẽ thấy rằng có những điều ban đầu là nó sao thì mình ghi nhận nó như vậy nhưng một lúc khi đã quen thuộc rồi thì mình hiểu rằng mình vừa có thể theo dõi hơi thở mà mình vừa phát triển được những trạng thái đó.

Như chúng tôi nói với qúi Phật tử là một người hát thì trong lúc họ hát ban đầu họ phải có sự cảm thụ của âm nhạc họ nghe tiếng nhạc nhưng về sau này chính âm nhạc đó làm cho họ phấn khích làm cho họ có thể phát huy được giọng hát của họ, thì cái sự liên đới giữa người hát và âm nhạc là sự liên đới có tánh cách vừa thụ động vừa có tánh cách chủ động.

Đối với hơi thở cũng vậy. Thật ra thì chúng tôi dùng những thí dụ rất là đời rất là thường thức để qúi vị cảm được những cái khó hiểu.

Nhưng trở lại những trạng thái tại đây là hành giả dùng hơi thở. Ở đây là, hành giả vốn đã rất quen thuộc, vốn đã rất gắng bó, đã rất khắn khích là ngồi xuống là tập trung vào hơi thở liền và khi hướng tâm vào hơi thở thì hành giả có thể đủ sự sâu lắng để mà thấy hơi thở như là một trung tâm một trọng điểm và sau đó thì hành giả sẽ phát huy Bốn Niệm Xứ. Bốn Niệm Xứ là Quán Thân, Quán Thọ, Quán Tâm, Quán Pháp ở trên hơi thở của mình.

 Đối với Thân Quán Niệm Xứ thì qua hơi thở hành giả có thể cảm nhận được sự nhất thể giữa hơi thở và thân, chúng ta gọi là cảm giác toàn thân. Hành giả có thể tìm thấy được sự tự nhiên mà không có vật lộn không có dằn co với hơi thở nữa gọi là "an tịnh thân hành", chữ "thân hành" ở đây có nghĩa là "hơi thở". Khi nào mình theo dõi hơi thở một cách rất là khách quan rất là thoải mái rất là tự nhiên không có dằn co với nó thì chúng ta gọi là "an tịnh thân hành".

 Khi hành giả đạt được điều đó gọi là hành giả thuần thục đã dùng Pháp Niệm Hơi Thở để phát triển được Thân Quán Niệm Xứ. 

Rồi hành giả cũng dùng Pháp Niệm Hơi Thở để phát triển Thọ Quán Niệm Xứ. Ở đây, "Thọ" này không gồm những trạng thái như là "Thọ Ưu" hay là "Thọ Khổ". Bởi vì, chúng tôi nói rằng những đoạn mà chúng tôi đọc ở đây nó thuần túy là Chánh Niệm Chủ Động tức là vừa là Chánh Niệm Hơi Thở và vừa phát huy được những thứ liên hệ với Hơi Thở. Vị này dùng hơi thở để phát huy những cảm thọ như là cảm giác hỉ thọ, cảm giác lạc thọ. Và quan trọng nhất là vị đó cảm giác được "tâm hành" và "an tịnh được tâm hành".

 "Tâm hành" ở đây là một trạng thái "Vitakka" là "Tầm tứ" là sự truy cầu. Đời sống chúng ta luôn luôn tìm cái gì đó để thoả mãn. Chúng tôi lấy ví dụ là bình thường chúng ta cảm thấy trống vắng vì không có gì thì cảm thấy trống vắng mình muốn đi uống ly cafe hay muốn nghe bản nhạc hay muốn làm cái gì đó để được vui được thích được hứng thú, và không có cái vui cái thích cái hứng thú đó thì chúng ta cảm thấy đời sống nhạt nhẽo. Cái cảm giác  nhạt nhẽo đó là một thứ cảm thọ mà nó tạo ra cái tác động cái tâm hành. Chúng tôi tạm gọi tâm hành ở đây là sự đi tìm, sự muốn, sự tầm cầu muốn hướng đến cái gì đó, luôn luôn hướng đến cái gì đó.

Qúi vị để ý lúc qúi vị hành thiền, ví dụ đang ngồi hành thiền tự nhiên mình sẽ thấy được cái ý hướng của mình vì do mình cứ hướng cứ móng. Cái móng cái hướng làm cho cảm giác mình không được an tịnh. Khi mình có được một căn phòng  đầy đủ tiện nghi thoải mái , có sự an lạc thì mình không nghĩ đến chuyện chạy ra bên ngoài. Nhưng nếu như ở trong căn phòng buồn quá chán quá thì qúi vị nghĩ là muốn đi vào trong xóm, đi shopping hay lái xe đi lông bông ở bên ngoài, đi tìm cái này cái kia, sự đi tìm đó là "tâm hành không được an tịnh".

Một hành giả - ở trong đặc điểm của Thân Quán Niệm Xứ gọi là "An Tịnh Thân Hành" tức là mình với hơi thở tự nhiên. Nhưng, ở trong Thọ Quán Niệm Xứ gọi là "An Tịnh Tâm Hành" là mình đến cảm giác mình bằng lòng với hiện tại, tâm có thể tự tại với hiện tại, trú vào hiện tại mà không còn phải đi truy cầu cái này hay truy cầu cái kia, chúng ta gọi là "An Tịnh về Tâm Hành".
Thì, sự thành tựu lớn của Thọ Quán Niệm Xứ đó là sự "An Tịnh Tâm Hành"
Cũng như sự  thành tựu lớn của Thân Quán Niệm Xứ là sự "An Tịnh Thân Hành".

Nói về tâm thì vị này dựa trên hơi thở mà cảm giác về tâm. Qúi vị hiểu là Chánh Niệm cũng là một trạng thái tâm, nhưng lấy tâm của mình để hiểu tâm là chuyện không đơn giản nó giống như chúng ta làm việc cái khuynh hướng mình làm việc là "chuyện của người mình biết thì dễ mà của mình rất là khó". Đa phần chúng ta gặp cái trở ngại là chính mình không có khách quan về mình, không có khả năng phản ảnh về mình, ví dụ mình hay mình dở mình vụng về gì đó mình cần sự phê bình của người khác. Lấy tâm để hiểu tâm, lấy tâm để quán tâm chuyện không có đơn giản.

Ở đây hành giả có thể vừa niệm hơi thở và vừa quán tâm. Nhiều vị hành giả tu tập nghĩ rằng mỗi lần mình ghi nhận tâm tức là mình rời khỏi hơi thở và sau đó mình phải trở về với hơi thở. Chúng tôi lấy một ví dụ là khi mình mới tu tập đang ngồi thiền mà cảm thấy lo không biết ở nhà mình tắt lò ga chưa, hay người ta mới gửi thư đòi tiền mình lấy tiền đâu trả chẳng hạn. Thì khi ý nghĩ khởi lên mình ghi nhận cái tâm mình lo lắng và trong lúc mình ghi nhận tâm mình lo lắng thì mình rời khỏi đề mục hơi thở sau khi ghi nhận tâm lo lắng xong mình trở về với hơi thở thì đó là mình trở lại trạng thái bình thường của hơi thở. Nhưng, điều đó không phải là điều mà mình nói ở tại đây. Tại vì qúi vị thấy rằng khi mình quán tâm mình đã rời hơi thở.

Ở đây, trong trường hợp này cũng giống như Thọ Quán Niệm Xứ, giống như Thân Quán Niệm Xứ, hành giả vừa bám sát với hơi thở mà vừa qua đó thấy được tâm của mình. Việc làm này là việc làm tế nhị.

Chúng tôi cố gắng nói với qúi vị một điều là một bà mẹ nuôi con, con là trọng điểm của bà mẹ và chuyện ra đời lăn xả buôn tảo bán tần một nắng hai sương là chuyện ở bên ngoài nhưng hai chuyện đó lại gắng liền với nhau. Nếu một bà mẹ chỉ lo buôn bán mà quên con hay bà mẹ chỉ lo ôm con hoài mà không chịu đi buôn bán thì có vấn đề, cũng có những bà mẹ kết hợp giữa hai điều đó được tức là vừa thương con lo cho con vừa đi buôn tảo bán tần, nhưng cũng có người không làm được hai chuyện đó.

Khi nào qúi Phật tử thực hành niệm hơi thở qúi vị sẽ thấy, còn trên phương diện lý thuyết thì chúng ta không nói hết được là làm sao mà vừa quán tâm mà vừa niệm hơi thở nhưng quả thật hai điều đó có thể làm chung với nhau được, một bà mẹ vừa buôn bán mà vừa nghĩ đến con vừa làm cái gì cho con hai cái đó có thể hợp nhất được nhưng cái hợp nhất đó phải tinh luyện phải được thực tập.

 Thì ở tại đây trong những cảm giác tâm thì vị này có khả năng để có thể vừa niệm hơi thở mà vừa quán tâm.

Khi nãy chúng ta nói về trạng thái thành tựu cao điểm của:
- Thân Quán Niệm Xứ tức là An Tịnh Thân Hành là thở một cách nhẹ nhàng thoái mái tự nhiên.
- Cái cao nhất của Thọ Quán Niệm Xứ hơi thở đó là An Tịnh Tâm Hành tức là tâm không có truy cầu không có đi tìm cái gì. Qúi vị nhớ "tâm hành" nghĩa là tầm nghĩa là đi truy tìm nghĩa là hướng tâm.
- và cái cao nhất của Tâm Quán Niệm Xứ này ở đây là với tâm không có phiền não, tâm giải thoát.

Tâm không phiền não này ví dụ như một tấm gương khi được lau sạch thì nó phản ảnh bất cứ vật gì. Ở đây, hành giả khi nhìn vào tâm của mình luôn luôn có một trạng thái mà chúng ta gọi là nhân ngã bỉ thử tức là tại sao người ta nói "chuyện người thì sáng chuyện mình thì quán", chuyện mình thì quán là tại vì mình có tự ái mình có bản ngã mình cố tình binh vực chính mình nhưng khi hành giả niệm hơi thở cái định của hơi thở giúp cho hành giả không còn có cái ngã chấp đó nữa, và không ngã chấp tâm tương đối là không bị vẩn đục, tâm đó vượt lên trên những kiết trược chúng ta gọi là tâm giải thoát tức là một trạng thái tâm trong sạch nhất thanh thản nhất không bị phiền não chi phối thì lúc đó hành giả sẽ nhìn tâm của mình ở mức độ rất là khách quan.

Qúi vị nên nhớ rằng Chánh Niệm cũng là tâm, nhưng lấy tâm để nhìn tâm thật sự không dễ dàng, chúng ta sẽ rơi vào cái chuyện lúng túng như là một người nào đó tự nhiên họ đặt mình vào trong hoàn cảnh là mình phải phê phán chính mình thì thật ra khó lắm, lấy tâm mà quán tâm không phải là chuyện dễ.

Và qua phần Pháp Quán Niệm Xứ thì vị này ở đây (Chúng tôi nhắc lại là, bốn cách quán niệm Thân, Thọ, Tâm, Pháp đều đi kèm với hơi thở và đừng bao giờ nghĩ những pháp này tách rời hơi thở) vị này dùng hơi thở là cơ sở của định lực cơ sở của Chỉ và những pháp kia là Quán. Thì vị này sẽ quán vô thường với hơi thở ở trong hơi thở, vị này quán từ bỏ thì thở vô và thở ra.

Thật ra khi chúng ta nói về Thân quán, Thọ quán, và Tâm quán thì đa phần chúng ta phân biệt được danh và sắc nhưng khi chúng ta qua Pháp Quán Niệm Xứ thì cái rõ nét nhất của Pháp Quán Niệm xứ là thấy được tính sanh diệt, tính vô thường. Tính vô thường ở đây nó không đơn giản là thấy một sự vật, thí dụ chúng ta thấy “hơi thở vô hết hơi thở ra hết” đó là sanh và diệt, hay là chúng ta cảm thấy cái tâm của chúng ta lúc nãy như vầy bây giờ thấy khác đó là vô thường.

Nhưng chuyện vô thường này khác với sự vô thường chúng ta nói ở đây, sự vô thường này nên hiểu đó là tánh cách đắp đổi, đắp đổi ở đây tức là nhiều cái sanh và diệt chắp nối nhau kết nối nhau nhưng bản chất của tất cả là sanh và diệt.

Ở trong sớ giải nói là nó giống như một đám bọt nổi. Ở miền quê khi trời mưa lớn trên mái nhà đổ xuống tạo thành đám bọt nổi, một cái bọt nổi mà chúng ta nhìn thấy ở bên ngoài thì mới thoáng qua thì thấy nó nằm yên như vậy nhưng nếu đến gần bốc lên quan sát thì thật ra nó liên tục cái này nó khởi sanh và cái kia diệt. khi qúi vị giặt quần áo để sà bông nhiều sẽ thấy một mớ bọt như vậy nhưng mớ bọt đó không có nằm yên, tất cả những cái bọt đó nó sanh rồi diệt, nó sanh rồi diệt, đắp đổi với nhau.

Thì quán vô thường của hành giả ở tại đây là một lúc mà đã có chánh niệm cao độ và đủ sự bén nhạy thì hành giả phải thấy rằng sự hiện diện của danh và sắc nó đều là đắp đổi hết cái này sanh cái kia diệt, sanh sanh diệt diệt tạo thành một tiến trình của sự hiện hữu, cái tiến trình của sự hiện hữu đó tất cả đều là đắp đổi của sanh và diệt.

- Và cái cao điểm nhất của Pháp Quán Niệm Xứ là vị này quán từ bỏ, ở đây chúng ta tạm hiểu là cái gì mà hoặc xa hoặc gần, quá khứ hiện tại, vị lai, bên trong bên ngoài, thô thiển vi tế, hạ liệt thù thắng, tất cả những thứ đó đều mang chung một đặc tính là vô thường giống nhau. Ở trong đời sống của chúng ta, một người đàn ông chán nản người vợ của mình thì họ nghĩ đến những người phụ nữ đẹp hơn, hay là họ chán nản với cuộc sống này thì họ nghĩ rằng trúng số rồi sẽ có tiền thì cuộc sống mình sẽ tốt hơn, hoặc là mình ở nơi này chán mình nghĩ đi nơi khác sẽ hạnh phúc hơn nhưng cái đó chỉ là một sự giả định ở trong lòng thôi. Ví dụ như hành giả sống trong chùa cảm thấy mình sống ở trong chùa này mệt quá ngày mai mình xin sang chùa khác tại vì mình nghĩ rằng ở chùa đó sẽ tốt hơn nhưng thật ra đó chỉ là sự hư cấu sự tưởng tượng của chúng ta chứ ở đâu cũng có vấn đề và ở đâu cũng có những hệ lụy giống nhau. Thành ra khi hành giả đã quán được vô thường và khi quán vô thường thì hành giả thấy rằng dù là cái đó ở trong quá khứ không phải là luôn luôn đẹp hơn hiện tại, quá khứ hiện tại vị lai cũng giống nhau cũng là đặc tính sanh và diệt, cái bên trong bên ngoài cũng giống nhau, cái thô thiển cái vi tế cũng giống nhau, cái hạ liệt thấp cao cũng giống nhau không phải là mình nói rằng người này là một người thường nên họ có vấn đề mà họ là một công chúa hay là một tiên nữ thì không có vấn đề, do vậy tất cả mọi thứ ở trên đời này nó đều mang tánh sanh diệt giống nhau hết. Thành ra hành giả có khả năng từ bỏ. Quán từ bỏ này nếu mà chúng ta quán từ bỏ bình thường thì chúng ta chỉ có cái giá trị của sự suy diễn chứ chúng ta không có giá trị của định lực.

Hành giả phải phát triển được khả năng Định. Định ở đây luôn luôn là hơi thở, hơi thở vào hơi thở ra. Và Niệm ở đây là những pháp quán như là vô thường như là từ bỏ.

Chúng tôi nhắc lại là những pháp này nếu nói trong bốn pháp quán thì:
- Đối với Thân Quán Niệm Xứ thì An Tịnh Thân Hành là sự tự nhiên thoải mái với hơi thở
- Đối với Thọ Quán Niệm Xứ là An Tịnh Tâm Hành tức là tâm không có đi truy cầu
- Đối với Tâm Quán Niệm Xứ thì một trạng thái tâm không có nhân ngã bỉ thử không bị ràng buộc 
- Đối với Pháp Quán Niệm Xứ là cái trạng thái khả năng từ bỏ không có dính mắc đối với tất cả sự hiện hữu sanh diệt nhiều với quá khứ hiện tại vị lai.

Vì bốn cái đó là bốn cao điểm, bốn trạng thái thuần thục nhất của một hành giả gọi là làm cho sung mãn Bốn Niệm Xứ qua hơi thở.

Và tiếp đến thì chúng ta nhớ rằng sự sung mãn đó chỉ là một lực đẩy ban đầu thôi kế tiếp là chúng ta nói đến bảy cái yếu tố hay là bảy cái tố chất dẫn đến sự bừng nở của giác ngộ.

Bảy yếu tố đó là:

Trước nhất là vị đó có Niệm mà không có hôn mê. Chữ hôn mê ở đây không phải là chúng ta ngồi ngủ mà chúng ta hôn mê nhưng cái Niệm không có hôn mê ở tại đây là một điểm rất là khó nói trong cuộc sống của chúng ta. Trong một bài giảng trước đây của TT Tuệ Siêu có nói về năm pháp quán là: 
- Chúng ta đừng có nghĩ rằng mình sẽ trẻ hoài mà không có già.
- Mình đừng có nghĩ rằng mình sẽ khỏe mạnh hoài mà không có bịnh. 
- Hay là mình sống hoài mà không có chết.
- Hoặc giả là nghĩ rằng lúc nào mình cũng sống với người thân của mình mà có lúc mình phải chia tay với cái mà mình yêu thích.
- Và mỗi chúng ta đều có cái nghiệp riêng.

Thì bây giờ năm điều đó với một người có hiểu biết rõ ràng thì dễ dàng để chấp nhận nhưng dù rằng chúng ta chấp nhận chuyện đó trên lý thuyết đi nữa thì những lúc chúng ta gặp thực tế thì chúng ta vẫn khóc vẫn khổ. Chúng tôi lấy ví dụ như mình giữ năm pháp đó nhưng lúc nào đó mình già mình bịnh mình cũng khổ, hay mình bị sinh ly tử biệt chia cách với người thân mình cũng khổ, hay hoặc giả là người khác làm gì mình không hài lòng mình cũng khổ, thì trong lúc mình khổ mình bực bội mình rơi nước mắt thì tạm gọi là lúc đó chúng ta mê. Và những lúc chúng ta ý thức và biết rõ sự thật đương nhiên là như vậy thì lúc đó chúng ta tỉnh, thành ra chữ mê chữ tỉnh nó giống như ngày xưa người ta nói “Phật và chúng sanh”, Phật là vị biết rõ sự thật và Ngài sống hoàn toàn với sự thật do Ngài sống hoàn toàn sự thật nên một khi Ngài già thì Ngài không hề hấn gì, khi Ngài Ananda nhìn thấy Đức Thế Tôn già đi thì tôn giả Ananda chấn động mặc dù tôn giả Ananda học và biết rất nhiều về vô thường, đến đỗi Đức Phật Ngài phải nhắc tôn giả Ananda "Như Lai há vẫn nói các pháp hữu vi là vô thường". Thì chúng ta nên hiểu ở trong đời sống của chúng ta mặc dù cái biết của chúng ta về trí tuệ cái biết của chúng ta về lý luận cái biết mà nhai đi nhai lại kinh điển thì chúng ta hiểu nhưng chúng ta vẫn sống ở trong cái gọi là mê.

Thì một khi hành giả sống với hơi thở sống với Thân Thọ Tâm Pháp sống với toàn bộ thân của mình rồi thì hành giả không có ở trong trạng thái mà chúng ta gọi là sống ở trên mây hay sống với người cõi trên. Sống trên mây tức là mình sống với ảo tưởng mà mọi sự vật đối với hành giả rất là rõ ràng, cái rõ ràng đó ở đây dịch là hôn mê nhưng thật ra đó là rõ ràng, tại vì vị này quá thuần thục đối với Thân Thọ Tâm Pháp và vị này quá rõ ràng đối với các uẩn của mình rồi thì vị đó sẽ đạt đến khả năng mà chúng ta gọi là Trạch Pháp tức là biết phân biệt và biết lựa chọn, biết phân biệt lựa chọn là biết thẩm sát với trí tuệ.

Thì sự phân biệt và lựa chọn này nhiều vị xem nó tương đương như ở trong thiền gọi là sampajjanna tức là quá hiểu rõ quá biết nhiều. Chúng tôi lấy ví dụ là có một vài người chúng tôi quen biết họ có khả năng đếm tiền tại vì mỗi ngày họ đếm rất nhiều và người ta thử để vào trong cái túi đựng tiền một số tiền giả họ chỉ đếm qua tay cái cảm giác của họ là họ biết tiền thiệt tiền giả. Dĩ nhiên thí dụ đó hơi khó tin một chút, không ai có thể đếm tiền mà phân biệt thiệt giả nhưng người ta có thể làm được như vậy nếu người ta đếm thật lâu. Cái thuần thục trong cái đếm chúng ta gọi là Niệm nhưng cái khả năng phân biệt tiền thật tiền giả chúng ta gọi là Trạch Pháp.

Cái Niệm làm cho chúng ta bén nhạy còn Trạch Pháp là chúng ta có thể phân biệt được. Sự bén nhạy nhiều tạo ra sự phân biệt và từ sự phân biệt đó dẫn đến Tinh Tấn Giác Chi. Sự tinh tấn ở đây được hiểu là một khả năng một nghị lực mạnh mẽ để thấy cái gì nên làm cái gì cần làm và cái gì không nên làm và cái gì không cần làm. Thấy được cái cần làm là điều quan trọng. Như mình sống trong chùa làm trụ trì một ngôi chùa mà mình không có ý niệm gì về công việc chùa ra sao mà quanh năm suốt tháng sống ù ơ sống cho qua ngày thôi, nhưng một khi mình biết rõ cái gì cần làm thì những lúc đó mình biết cái gì có tánh cách cấp thiết cái gì có tánh cách dài hạn và do mình thấy được cái cần làm mình thấy được nhu cầu cấp thiết. Chúng tôi lấy ví dụ là qúi Phật tử làm vườn qúi vị quá biết rõ đó là cây nào cần thêm nước hay cây nào không cần thêm nước cây nào thêm phân hay không cần thêm phân và nếu mình làm chậm một chút hay là làm sai một chút thì cây đó sẽ chết. Chúng tôi có quen một đạo hữu trồng bonsai là một loại cây đặc biệt và vị này biết tương đối rất thuần thục do biết thuần thục vị này biết lúc nào phải giữ khô, lúc nào phải tưới nước, lúc nào phải cắt, lúc nào phải tỉa, do mình ý thức biết rõ cái gì cần làm tự nhiên là mình có động lực thôi thúc mình làm.

Thì cũng tương tựa như vậy, một khi hành giả đã bén nhạy đã phân biệt được thì cái bén nhạy giúp cho hành giả có thể lựa chọn và do có sự lựa chọn đó hành giả biết cái gì cấp thiết cái gì cần làm cái gì nên làm và cái gì không nên làm bởi vì ở trong Cần Tinh Tấn và Chánh Tin Tấn định nghĩa là cái gì mà thiện đã sanh rồi làm sao gìn giữ cái nào chưa sanh làm cho nó phát sanh và cái gì bất thiện thì làm sao cho nó diệt và cái gì chưa sanh thì làm cho nó đừng sanh, chúng ta dùng chữ là “thận trừ tu bảo” tức là đối với pháp bất thiện mình biết rõ và đối với cái chưa sanh cái đã sanh mình cần phải làm gì hễ mình biết cần làm gì thì mình thấy được cái tính cấp thiết của nó. Cũng giống như chúng tôi nói với qúi vị là qúi vị thạo làm vườn rồi thì thật sự biết rõ là cái cây đó mình không tưới nước vài ngày nữa nó chết mình đâu để yên như vậy được hay hoặc giả là nếu mình không làm cỏ thì nó sẽ lấn qua những cây khác thì mình biết như vậy tự nhiên mình làm còn nếu một người gọi là ù ù cạc cạc không biết cái gì rõ ràng thì họ để cho nó tới đâu hay tới đó. Thì sự tinh tấn của người tu tập nó giống như một người siêng là do mình biết chuyện mình siêng còn cái sự tinh tấn bình thường của chúng ta giống như siêng là do mình hăng lên mình siêng chứ không phải do mình biết chuyện, biết chuyện để mà cố gắng thì cái đó nó đúng nghĩa tại đây của một hành giả.

Và sau khi hành giả thực hiện được sự tinh tấn thì vị đó đạt được nội tâm hoan hỉ. Tinh tấn là lực đẩy đi tới và cái lực đẩy đi tới là vị này ghi nhận có tiến bộ có thay đổi và do ghi nhận có tiến bộ có thay đổi vị này tìm được sự hân hoan. Về trạng thái này thì tương tự như  mình làm việc gì có kết qủa thì mình vui còn mình làm việc gì mà mình không có kết quả thì mình không có vui. Có một vài vị làm ở trong rơom Diệu Pháp trước đây và rơom Phật Pháp Buđdhamma này nói với chúng tôi là làm lâu năm không có mệt mỏi, chúng tôi hiểu các vị làm việc mà không có học được điều gì không có cảm nhận được điều gì thì làm cho có làm làm vài bữa thì bỏ cuộc, nhưng khi mình làm mà thấy cái nỗi lực có kết quả thì mình vui mình tiếp tục làm. Thì Hỉ Giác Chi, cái sự hoan hỉ của hành giả là nó vốn từ cái sự tiến bộ mà ra sự tiến bộ này do Tinh Tấn Giác Chi sanh ra Hỉ Giác Chi.

Hỉ Giác Chi tạo ra Khinh An Giác Chi.

Khinh An Giác Chi đưa hành giả vào trong giai đoạn khác tức là sự khinh an này hành giả không còn bị trì kéo không còn bị lôi kéo không còn bị vật lộn với những gì khác chung quanh mà bây giờ chúng ta tạm gọi là “lạc nghiệp”, thường thường người ta nói “an cư rồi mới lạc nghiệp” nhưng trong trường hợp hành giả tu tập thì “lạc nghiệp rồi mới an cư” tức là trong trường hợp này thì phải có khinh an, khinh an thì mới tạo ra định. Thì ở đây là trong thời gian đầu khi một vị hành giả tu tập thì chúng ta tạm hiểu rằng mình còn bị lôi kéo bị chi phối rất nhiều, tại sao chúng ta bị lôi kéo bị chi phối rất nhiều là tại vì chúng ta không thật sự tìm thấy được cái vui, không tìm thấy sự an lạc trong chính cái mà mình đang làm.

Qúi vị để ý là những vị họ đi vào trong đời họ hay lăn xăng đi tìm cái này bắt cái kia là tại vì ở trong một công việc nào đó trong hoàn cảnh nào đó vị đó không tìm thấy được niềm vui thật sự, nếu chúng ta tìm một mảnh đất mà mảnh đất có thể lập nghiệp an cư mà chúng ta có thể làm được cái gì mình muốn, làm cái gì mình thích thì thật sự những việc khác không có quan trọng nữa. Có một vị sư ở trong chùa nói với chúng tôi rằng “có một vài ngôi chùa chung quanh phát triển rất nhanh là nhờ họ đi làm đám rất nhiều. Nếu chùa mình làm đám được thì mình sẽ phát triển ngôi chùa nhanh hơn.” Chúng tôi có nghe và hiểu được tâm trạng của vị đó nhưng chúng tôi nói “đúng như vậy khi ngôi chùa mình tập trú vào việc đi cúng đám thì việc phát triển chùa sẽ rất nhanh, nhưng thấy người ta làm mà mình mong làm như vậy tức là bản thân của mình không có thật sự được an lạc, nếu mình có được việc gì thật sự an lạc để mình làm thì mình không mong như vậy". Thì bản thân của chúng tôi, khi nào ở chùa qúi Phật tử có người thân mất thì một tuần lễ mà đi đám tang thì chúng tôi cảm thấy rằng mất rất nhiều thì giờ, dĩ nhiên mình đi làm đám Phật tử họ cúng thì mình hoan hỉ nhưng đại để mình hiểu một điều đó là lo một cái đám ma bốn năm ngày, năm sáu ngày mất rất nhiều thì giờ, sáng tụng chiều tụng thật sự thì chúng tôi muốn có nhiều thì giờ hơn để làm những việc khác, thật ra ý chúng tôi muốn nói ở đây tâm trạng của vị sư đó là bản thân vị đó không có chuyện gì an lạc do đó cứ nhóng cứ nghĩ tới chuyện chung quanh.

Đời sống chúng ta cũng vậy, khi mà chúng ta chưa có thể ngồi xuống Niệm Hơi Thở một cách thoải mái một cách an lạc là tại vì chúng ta chưa có một sự tiến bộ nhất định ở trong việc Niệm Hơi Thở. Một khi mình đã Niệm Hơi Thở một cách an lạc một cách tích cực rồi thì mình chỉ mong muốn là mình có nhiều thì giờ hơn, mình chỉ mong muốn mình được sống trong không khí đó nhiều hơn để mình tiếp tục Niệm Hơi Thở. Thì cái trạng thái đến một lúc mà mình cảm thấy mình thật sự muốn có thì giờ để mình niệm hơi thở thì cái trạng thái đó là từ cái Hỉ nó tạo ra sự Khinh An. Sự khinh an nghĩa là không còn có những thứ khác chi phối người đó được nữa. Hay là chúng tôi có thấy một vài vị trong thời gian sau này thích chơi với Ipad thì các vị tìm được niềm vui riêng của mình, hồi trước thì thấy lông bông nhưng bây giờ lúc nào rảnh thì lấy cái Ipad ra và tập trú vào đó chơi game đọc sách thì thật sự cảm thấy rất là vui, chúng tôi có thể ghi nhận là vị này không bị chi phối lôi kéo với những việc chung quanh. Thì trạng thái Hỉ sanh ra Khinh An nói lên một điều rằng trên một cảnh giới trên một mảnh đất trên một phần nào đó mà một hành giả có khả năng khai triển đạt đến tâm Hỉ thì vị đó không bị lôi kéo với những chuyện bên ngoài, không có nặng lòng với những việc khác, không có bị cuốn hút với những việc khác, trạng thái đó gọi là khinh an. Hồi nãy chúng tôi có nói rằng thường thường người ta nói rằng an cư thì mới lạc nghiệp ở đây thì lạc nghiệp rồi mới an cư tức là cái việc đó mình cảm thấy mình thích cảm thấy nhẹ nhàng mình có thể tập trú vào thì vị này mới có thể đạt đến cái tâm gọi là Định Giác Chi, có thể là tập trú một cách lâu dài được.

 Về điểm này thì chúng ta nên nhớ là tâm của chúng ta thường có khuynh hướng là mình ở yên một chỗ thì chán, muốn thay đổi không khí, chúng ta muốn cái mới lạ, chúng ta muốn có một cái gì khác hơn, là bởi tại cái mà mình đang có nó không đủ sức tạo cho mình sự an lạc nó không đủ sức tạo cho mình được cái niềm hạnh phúc để mà mình không bị lôi kéo vào những cái khác nữa.

Thật sự để được có Định không phải là dễ dàng. Hành giả khi mới vào tu tập nhất là đi một khóa thiền đầu tiên thì cảm giác đầu tiên của hành giả là cảm thấy rằng rất là chán nản rất là khó chịu, thay vì giờ đó xuống bếp xắc rau nấu ăn cho mọi người mình thấy vui hơn, hoặc  trong giờ đó giả tỉ như vị thiền sư bắt mình ngồi yên và thuyết pháp cho mình mình cảm thấy vui hơn. Như kỳ rồi sang Thụy Sĩ trong khóa học chúng tôi hướng dẫn qúi Phật tử ngồi thiền nửa giờ, thì có nhiều Phật tử nói rằng: “phải chi mình ngồi thiền 5 phút 10 phút thôi rồi nghe giảng bốn năm chục phút thì vui, lâu lâu Sư qua sao Sư không giảng nhiều mà Sư bắt ngồi thiền nhiều". Nhưng mà điều đó cho thấy rằng chúng ta thường khi ngồi thiền giống như là ngồi trên ổ kiến lửa, ngồi thiền giống như là mình có tội ai bắt mình bị phạt phải ngồi một chỗ, ngồi thiền chỉ canh đồng hồ sao cho mau hết giờ thì những lúc đó mình mới thấy rằng mình đang đi ngược lại với thói quen của mình là mình hoàn toàn không có muốn tập trú, mình đã không muốn tập trú rồi thì lấy đâu mà phát triển định tâm, bản thân của mình thích lông bông lấy đâu mà muốn định tâm được.

Thành ra Bảy yếu tố mà chúng ta gọi là Thất Giác Chi có:
- Niệm Giác Chi tức là khả năng tỉnh táo bén nhạy nhận rõ, Niệm Giác Chi là cảm giác nhận rõ những pháp sanh khởi.
- Trạch Pháp Giác Chi là trong sự nhận rõ vị đó có khả năng phân biệt. 
- Tinh Tấ n Giác Chi. Có khả năng phân biệt thì vị này mới thấy được cái gì là cái nhu cầu cấp thiết phải làm và vị đó cố gắng theo cái nhu cầu cấp thiết đó chúng ta gọi là tinh tấn.
- Hỉ Giác Chi. Có tinh tấn có tiến bộ thì vị này mới có Hỉ Giác Chi tức là sự hân hoan.
- Khinh An Giác Chi. Có Hỉ Giác Chi thì mới tạo ra cái Khinh An Giác Chi tức là cảm thấy nhẹ nhàng không có bị lôi kéo chi phối bới những thứ khác.
- Định Giác Chi. Khinh An tác động cho Định Giác Chi tức là an trú một cách lâu dài
- Xả Giác Chi

Đề tài Bảy Giác Chi là một đề tài lớn chúng tôi không có ý là trình bày rõ về Giác Chi ở đây chúng tôi chỉ nói một cách đại khái bởi vì bài kinh này dài. Rồi ở đây Đức Phật Ngài dạy thêm rằng khi vị này tu tập Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỉ Giác Chi, Khinh An Giác Chi và Định Giác Chi thì những giác chi này nó liên hệ đến viễn ly, đến ly tham, liên hệ đến diệt, đến xả ly. Liên hệ đến viễn ly, ly tham là bởi vì vị này nhận ra được một cảnh giới mới tức là sự an lạc mà ở trong đó không có tham cầu. Tất cả sự an lạc trong đời sống chúng ta nó đến từ sự tham cầu, ví dụ mình uống một ly cafe ngon, gặp người nào đó mình nói chuyện thích thú, mình nghe một bản nhạc hay, mình đi đến một nơi nào mình thích thú thì tất cả những niềm vui đó đều liên hệ đến tham, tham ở đây là sự dính mắc. Và khi hành giả phát triển được Bảy Giác Chi thì hành giả sẽ có được một tư thế lợi nhất đó là hành giả có thể tự tại an lạc mà không có liên hệ đến tham. Và một khi ái tham các dính mắc vào sự tầm cầu không có thì Minh Giải Thoát được viên mãn giống như trong kinh Vô Ngã nói rằng:

 “này chư tỳ kheo, bậc thinh văn đã nghe và thấy như thế rồi liền sanh tâm nhàm chán đối với các pháp, do nhàm chán vị ấy ly tham và do ly tham tâm được giải thoát, khi tâm được giải thoát vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát và biết rõ sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm không còn tái sanh nữa."

Nếu chúng ta đọc kỹ tiến trình đó thì chúng ta sẽ hiểu được cái pháp ở tại đây là khi một vị tỳ kheo do nhận thức được chân tướng các pháp rồi thì vị đó sanh tâm nhàm chán, nhàm chán ở đây ở trong kinh là yểm ly, do nhàm chán vị ấy ly tham, ly tham tức là không còn dính mắc nữa, do ly tham tâm được giải thoát, tâm không phiền não và khi tâm được giải thoát vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát là tuệ sanh lên không phải do suy nghĩ mà tuệ sanh lên là do tâm không phiền não và khi vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát thì vị ấy biết sanh đã tận phạm hạnh đã thành rồi những gì nên làm đã làm.

Đoạn kinh tiếp theo này chúng tôi nói nhanh và nói ngắn là bởi vì thật sự nó chỉ là những điểm gợi ý nhưng không cần thiết cho những vị mới vào như là đoạn đầu tại vì đoạn đầu liên quan đến niệm hơi thở rất là quan trọng.

Bây giờ chúng tôi xin tóm tắt bài học ở trong năm điểm như sau đó là:

Đức Phật Ngài nhân sự tán thán về hội chúng tỳ kheo và Ngài đã dạy về pháp Niệm Hơi Thở. Đức Phật Ngài dạy đó là một bản địa một chỗ đứng cho tất cả hành giả tu tập dù rằng hành giả tu tập như thế nào thì cũng lấy bản địa đó làm căn cứ chứ không đi xa bản địa đó bởi vì hơi thở giúp tăng trư ởng một thứ mà trong kinh Pháp Cú là:

 “Do Thiền Định thì trí tuệ sanh không Thiền Định thì trí tuệ diệt

Thiền ở đây chúng ta hiểu là Samathi là định lực. Định lực này do sự phát triển miên mật của hơi thở, do có hơi thở chúng ta mới tập trú, do có hơi thở tâm của chúng ta mới đủ khí sắc bén. Và Ngài dạy rằng một hành giả vẫn dùng hơi thở sau khi đã thuần thục rồi để phát triển toàn bộ Thân Quán, Thọ Quán, Tâm Quán và Pháp Quán là Bốn Niệm Xứ và khi phát triển được Bốn Niệm Xứ đề mục thuần thục rồi thì hành giả sẽ từng bước một theo tuần tự thành tựu được Bảy Giác Chi, bảy chi phần dẫn đến giác ngộ và do thành tựu được bảy chi phần dẫn đến giác ngộ vị đó thành tựu được điều mà chúng ta gọi là Minh Giải Thoát. Đó là cái trình tự tu tập mà được thứ lớp khởi đầu là Niệm Hơi Thở.

Điểm thứ hai, mà chúng tôi muốn nói với qúi Phật tử tại đây đó là trong bài kinh này khẳng định một điều là Chỉ và Quán là hoà quyện với nhau, Chỉ và Quán không tách rời nhau. Niệm hơi thở ra hơi thở vào được xem như là Chỉ vào những Pháp quán những sự khai triển khác được xem là Quán. Chính Chỉ và Quán được phát triển song hành như vậy nó dẫn hành giả tách rời ra khỏi cái mà chúng ta gọi là trí tư tức là sự suy nghĩ còn ở đây trí tu. Tại sao gọi là trí tu là: một là nhìn thẳng vào thực tại và thứ hai là Niệm và Định đi chung với nhau nên chúng ta gọi là trí tu.

Điều thứ ba, mà chúng ta muốn nói ở tại đây là trong sự tuần tự này thì cho chúng ta thấy rằng tại sao Pháp Niệm Hơi Thở là một pháp mang lại lợi ích lớn nếu được làm cho sung mãn là tại vì Pháp Niệm Hơi Thở đó đi với hành giả từng giai đoạn đầu cho đến giai đoạn cuối. Người ta đã nói rất là mơ hồ Đức Thế Tôn Ngài trước khi thành đạo Ngài nhớ lại Ngài ngồi dưới cội Bồ Đề và Ngài nhập sơ thiền, lúc Ngài nhập sơ thiền Ngài lấy cái đó làm gợi ý nhưng thật ra điều chúng ta được biết đó là Đức Thế Tôn nhớ lại cảnh tượng lúc Ngài năm bảy tuổi Ngài ra dự lễ Hạ Điền Ngài trở về với hơi thở và Ngài đã đồng hành với hơi thở cho đến sự phát triển cao điểm đạt Minh Giải Thoát. Thật ra thì Ngài đã xử dụng hơi thở như là trong quá trình mà Ngài dạy tại đây đạt đến Minh Giải Thoát.

Điểm sau cùng mà chúng tôi muốn nói với qúi Phật tử tại đây là, đời sống của chúng ta ngày hôm nay bị chi phối bị bấn loạn rất nhiều thứ và chúng ta chẳng những bị bấn loạn chúng ta cảm thấy không có nơi nương tựa, đời sống của chúng ta đôi khi mất hẳn giá trị căn bản. Chúng ta học Phật Pháp đến đâu đi nữa nhưng nên có một vài pháp gọi là pháp tùy thân hay là pháp tâm đắc đó là cách tu của mình. Thí dụ như có những Phật tử có đức tin rất mạnh lúc nào cũng làm phước và xem phước là nguồn an lạc, có những Phật tử lúc nào trì giới cũng tinh tấn mà an lạc, nhưng cũng còn có những pháp khác nữa ngoài bố thí trì giới có thể tu tập thiền định bằng cách là Niệm Hơi Thở. Ban đầu thì chúng ta sẽ xa lạ với hơi thở, không quen hơi thở, nếu được qúi vị thử dự một vài khóa thiền để có căn bản, một khi mình có căn bản rồi thì sau đó mình đi rất là dễ nhưng thời gian đầu nên tập làm quen với hơi thở, trời mưa cũng niệm hơi thở, trời nắng cũng niệm hơi thở, vui cũng niệm hơi thở, buồn cũng niệm hơi thở, lúc mình phiền não cũng niệm hơi thở, lúc mình thanh tịnh cũng niệm hơi thở, lúc ngủ cũng niệm hơi thở, lúc thức dạy cũng niệm hơi thở, hơi thở giống như cái cột giống như cái nơi chúng ta trở về, hơi thở chính là nơi để định tâm để an thần. Đơn giản thôi, ngồi lẳng lặng nhìn vào hơi thở, hơi thở ra hơi thở vào và đằng sau đó thì chúng ta thấy được cả một hành trình rất đẹp hành trình đó là Đức Phật và chư đệ tử của Ngài đã đi qua.
Chúng tôi rất mong là qúi Phật tử sẽ tạo cho mình nhiều thiện duyên để đi theo con đường này dĩ nhiên là một lúc nào đó chúng ta sẽ thấy rằng ở trong một giây phút kề cận cái chết hay là ở trên giường bịnh hoặc giả là ở bất cứ hoàn cảnh nào khi mà những người thân họ bỏ chúng ta, khi những người thân bất lực nhìn chúng ta, khi mà tài sản bảo hiểm và tất cả những thứ khác trở thành vô nghĩa thì hơi thở rất thân quen rất lợi lạc và chính là cõi đi về mà chúng ta sẽ tự tại hơn bao giờ hết./.