phapluan.net Trang chính


Xuất Ly Giới

TT. Giác Đẳng giảng trong Lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 19-7-2012

Minh Hạnh chuyển biên


TT Giác Đẳng: Cái nhìn của người học Phật có một số các định luật tương tự như chúng ta nói ở ngoài đời là "ắt có và đủ" nhưng định luật đó phải được hiểu bởi những người tu tập một câu nói của Đức Phật mà chúng ta thường nghe là "ở trong đời có cái già, có cái bệnh, có cái chết chi phối" thì chắc phải có cái xuất ly chúng ta gọi là "cái không già, không bệnh, không chết", có cái khổ thì phải có cái không khổ, có cái ràng buột thì phải có cái giải thoát, nhưng chúng ta hiểu điều đó nó có tánh cách như là một suy diễn.

Ở trong sáu pháp "Xuất Ly Giới" một lần nữa khẳng định cái định luật này và khi khẳng định định luật này thì lại hé mở cho chúng ta nhiều khía cạnh rất là thực dụng trong đời sống tu tập của một người Phật tử.

Lấy ví dụ như ở đây chúng ta nói về, Từ, Bi, Hỉ, Xả, Vô Tướng Giải Thoát và xóa tan đi cái Thân Kiến thì những điều này dẫn đến một trạng thái tất nhiên không thể khác hơn được.

Ví dụ như:
- Một người đã tu tập đầy đủ Tâm Từ thì người đó không thể có sân tâm.
-Một người đã tu tập một cách viên mãn Tâm Bi thì người đó không thể có cái hại tâm đối với chúng sanh khác.

Chúng ta hiểu như vầy, nếu chúng ta thấy trong đời này có những giá trị và những giá trị này tự nó phải được khẳng định rằng có những điều này thì không thể có những điều khác.

Riêng về người Phật tử trong đời sống hàng ngày chúng ta hay có một cảm giác như là một sự nhập nhằng, sự nhập nhằng tức là sự pha lẫn giữa điều này và điều kia. Thí dụ như, một mặt thì mình nói đến lòng từ bi nhưng một mặt thì chúng ta vẫn có thái độ thù hận đối với chúng sanh khác.

Thì những sự việc như vậy, thậm chí có nhiều người cố gắng giải thích nó là những trạng thái của song hành mà ở trong hoàn cảnh nào mình cũng chấp nhận được. Nhưng ở đây, chúng ta đi vào một thế giới rất là rõ ràng giữa điều mà chúng ta gọi là đời sống nội tại và thế giới ở bên ngoài. Riêng trong đời sống nội tại thì hại tư duy và bi tâm giống như là dầu với nước, những thứ đó không thể trộn với nhau được tại vì dầu có đặc tánh khác nước có đặc tánh khác. Và do vậy có thể chúng ta không có viên mãn hoàn toàn những điều mà chúng ta gọi là sự xuất ly hay cảnh giới xuất ly nhưng mà ít nhất qua điều này cho chúng ta hiểu những khía cạnh khác quan trọng liên quan đến Từ, Bi, Hỉ, Xả, liên quan đến Vô Tướng Tâm Giải Thoát, liên quan đến một trạng thái tâm đoạn tận Thân Kiến và những pháp này nó giúp ích rất nhiều cho sự tu tập của chúng ta.

Ở trong bài kinh này, Đức Phật có đề cập đến hình ảnh của những vị tỳ kheo tu tập và những vị tỳ kheo này tự mình tuyên bố rằng mình đã thành tựu pháp này mình đã tu tập làm cho viên mãn pháp này và mình đã tạo thành căn cứ, tạo thành chất chứa, tạo thành cỗ xe và khéo léo tinh cần, nhưng mà những pháp khác nó vẫn hiện hữu.

Thì chúng ta hãy đọc kỹ những đoạn này xem rằng điều mà vị đó tu và điều mà vị đó nói hai điều đó nó có mâu thuẫn và cái giá trị của nó có thể tồn tại song song với nhau không?

Mà nếu lấy ví dụ như là vị này vẫn còn có hại tư duy thì như vậy bi tâm vị đó chưa thể đạt đến thành tựu, lấy cái này mà chứng minh cái kia và ngược lại.

Và đây là một bài kinh đặc biệt có giá trị để chúng ta tìm hiểu một số các căn bản ở trong đó có Bốn Vô Lượng Tâm.

Tâm đầu tiên là từ tâm. Từ tâm ở đây được hiểu là một tấm lòng từ hòa nhìn cuộc đời này với sự mong mỏi tất cả chúng sanh đều được an lạc được hạnh phúc. Đó là chúng ta nói cái nhìn của từ tâm nhưng thật sự trạng thái chính của từ tâm là sự mát mẻ sự an hòa sự hòa dịu. Lấy ví dụ như có một ngày mà buổi sáng thức dậy chúng ta mong rằng tất cả những người chung quanh chúng ta được an lạc, cũng như chúng ta đang có mặt ở trong lớp Phật Pháp này bất kể là ai những ai có mặt ở tại đây dù bằng nick name nào thì chúng ta cũng mong rằng tất cả mọi người được an lạc và trong sự mong mỏi đó chúng ta không hề nuôi một ý tưởng nhỏ nhoi là chúng ta ghét người này hay là ghét người kia, mong cho người này buồn phiền mong cho người kia đau khổ, chúng ta chỉ mong tất cả được an lành. Sự mong mỏi đó đạo Phật gọi là từ tâm. Trạng thái mà chúng ta tìm thấy đó là sự mát mẻ sự hoà dịu bởi vì trong sự an lạc mát mẻ đó nó không có chỗ chứa nó không có thể song hành với sân tâm được. Sân tâm là sự bực bội khó chịu muốn hủy diệt muốn làm tan biến muốn làm biến mất đối tượng nhưng riêng với tâm từ thì nó là một trạng thái tâm rất là mát mẻ.

Chúng ta cứ thử tưởng tượng là mình vào ngồi trong một phòng chờ đợi cho một chuyến bay hay là chúng ta hiện diện ở nơi nào đó mình có hai trạng thái một là phê phán ghét bỏ không thích người này không thích người khác thì lúc đó tâm của chúng ta nó như thế nào? và một trạng thái tâm mát mẻ lúc nào cũng mong cho mọi người được an lạc. Chúng tôi sanh ra trong một gia đình tương đối đông anh em, chúng tôi có năm anh em trai và hai chị em gái, bảy đứa con trong gia đình, nhiều năm lắm trong cuộc đời thì chúng tôi mới thật sự hiểu được tâm trạng của bà mẹ rất khác với tâm trạng của những đứa con, con hồi còn nhỏ trong nhà thì gây với anh gây với chị không thích người này không thích người kia nhưng mà tâm của bà mẹ buổi sáng thức dậy hay buổi tối đi ngủ nhìn đàn con của mình chỉ mong cho con của mình được bình yên được an lành không khổ không bệnh, cái tâm thái đó Đức Phật Ngài ví dụ cho tâm từ. Nếu chúng ta thức dậy, chúng ta gặp gỡ, chúng ta tiếp xúc hay là có mặt ở một nơi nào đó và chúng ta mong mỏi rằng tất cả những người chung quanh xin được an lành không có ai khổ sở thì trạng thái đó chính là một trạng thái rất là mát mẻ hoà dịu. Thành ra chúng ta nói rằng cái nhìn của tâm từ là mong cho chúng sanh được an lạc nhưng trạng thái của tâm từ chính là mát mẻ và ở đó không có chỗ đứng cho tâm sân.

Nếu chúng ta thường tu tập về tâm từ thì mình được một điều rất rõ ràng đó là chúng ta bớt đi sự sân hận. Tâm từ càng mạnh tâm từ càng rõ thì đời sống nội tại của chúng ta càng chan hòa mát mẻ còn tâm từ càng yếu thì tâm sân của chúng ta rất là nhiều. Lúc nào mà mình thấy trong lòng có nhiều sân tâm có nhiều khi mình hay bực bội mình hay chỉ trích hay la rày hay là mình hay bày tỏ sự cáu kỉnh với những người chung quanh thì lúc đó chúng ta là người tu tập thì chúng ta hiểu được lúc này tâm từ mình yếu.

Một người tu tập tâm từ lâu thì họ cảm thấy rằng tâm không sân an lạc hơn tâm sân. Còn người không tu tập tâm từ có nhiều khi họ vui với cái tâm sân, có nhiều khi họ cảm thấy sự thể hiện ra mình chỉ trích người này hay mình bực bội người kia hay là mình công kích người nọ, làm cái gì đó làm cho mình khóai trá, làm cho mình vui thích. Nhưng thật sự một người tu tập tâm từ dễ dàng nhìn thấy rằng những trạng thái sân tâm là trạng thái nóng nảy nó không hoà dịu không an lành.

Ở đây chúng ta thấy có hai trạng thái gọi là đối nghịch hai thái cực trái chống nhau giữa tâm từ và tâm sân.

Điều thứ hai cho chúng ta biết một khía cạnh quan trọng khác đó là bi tâm, bi tâm tức là lòng trắc ẩn lân mẫn cảm được cái đau của người khác và mong cho chúng sanh thoát khổ. Chúng tôi lấy ví dụ là một ngày trời rất nắng mình lái xe gặp một người homeless đang đứng xin ở ngoài dưới cái nắng thật là oi bức nếu chúng ta có tâm từ thì chúng ta có thể cảm được cái khổ của một người đứng dưới trời nắng chan chan như vậy. Hay là khi chúng ta leo núi như những lần chúng tôi đi núi thấy những người khuân đá hay gánh những gánh thực phẩm lên núi thì thật sự là mỏi mệt rã rời thì mình cảm thấy cái khổ của họ. Hoặc giả là chúng ta thấy những chúng sanh khinh miệt người khác, mạ lỵ mắng nhiếc thì người bị mắng nhiếc đau đến mức độ khóc được thì khi mà chúng ta cảm được điều đó bằng tâm từ của mình thì mình không mong điều đó xảy ra cho chúng sanh khác.

Có một trạng thái mà chúng ta thường dính mắc đó là hại tư duy. Hại tư duy là một ý tưởng mong là mang lại đau khổ cho chúng sanh khác. Ví dụ như mình ghét người nào mình muốn trừng phạt họ, hay là mình thấy người nào đó mà mình không ưa mình có lời nói ra nói vô để người đó bị sự phiền phức bị phiền não. Tâm bi mà thiếu chúng ta hay nghĩ làm sao người đó phải đau thí dụ như là trong lời nói hằng ngày mình hay nói cho người khác họ nghe họ đau buốt thì mình mới chịu, hay là người đang bình yên mình làm cho đời sống họ điêu đứng mình mới chịu hay hoặc giả là mình nghĩ đến một chuyện gì đó mình áp đảo chúng sanh khác thì cái hại tư duy đó nó đến từ một trạng thái tâm là không cảm nhận được nỗi đau của đời của người khác mặc dầu nếu chuyện đó xảy ra với mình thì mình cũng cảm thấy đau đớn như vậy, nhưng không cảm nhận được.

Thành ra khi mình tu tập tâm bi nhiều nó khiến cho mình diệt trừ được tâm hại tư duy. Tâm bi này đơn giản là lúc nào mình trải qua chuyện rất là khổ sở, ví dụ như qúi Phật tử bị ai đó chỉ trích họ chỉ trích một cách rất là oan uổng, khi mình bị chỉ trích như vậy mình cảm thấy rất đau, đó là cơ hội rất tốt để mình tu tập tâm bi, mình trở về ngồi một chỗ nào đó cảm nhận rằng khi người ta vu oan giá hoạ cho mình thì mình cảm thấy rất là xót rất là buồn và mình nhìn lẳng lặng vào trạng thái đó trong lòng mình và mong rằng trong đời mình đừng đem cái đó đối xử với người khác như vậy. Mỗi lần chúng ta gặp cái khổ nạn trong cuộc đời thật ra nó có một điều tốt cho chúng ta là chúng ta không có bài học về sự đau khổ đôi khi chúng ta nặng về lý thuyết chúng ta không cảm được cái đau khổ đó nhất là vị nào mà nhiều tự ái hay là đời sống của chúng ta trải qua những thăng trầm trải qua chuyện này chuyện kia một lúc nào đó mình sẽ nhận ra một điều là nó là cái cơ hội để chúng ta có được một cảm nhận sâu sắc hơn rõ ràng hơn về nỗi đau với mình và mình mong rằng người khác đừng bị như vậy.

Thành ra tâm bi mà được phát triển một cách thuần thục thì nó sẽ xoá đi hại tư duy. Một lần Đức Phật Ngài nhìn thấy mấy đứa nhỏ đánh một con rắn đang hành hạ con rắn, con nít mà thấy con rắn thích quá đánh đập, Đức Phật Ngài mới nói rằng "ai cũng sợ đao trượng nếu mà mình thấy cái khổ của chúng sanh khác làm cái vui của mình thì đó là một điều không nên" thì điều Đức Phật Ngài muốn chúng ta hiểu là trong con người chúng ta sống mà mình lấy nỗi khổ của mình nghiệm về cuộc đời thì mình sẽ không mong cho chúng sanh chịu đựng hay gặp phải những cái khổ như vậy, cái đó chúng ta gọi là bi tâm được tu tập sung mãn thì nó sẽ không có thể nào song hành hay nó không thể tồn tại chung với hại tư duy được, giống như là dầu với nước vậy

Và điều thứ ba là trạng thái tâm hỉ. Tâm hỉ là trạng thái tâm biết vui biết hoan hỉ với chúng sanh khác, nhất là biết vui theo hạnh phúc của chúng sanh khác. Đời sống của chúng ta thường sự ganh tị đố kỵ luôn luôn làm cho chúng ta thấy rằng niềm vui của người khác là sự khó chịu của chính mình. Ví dụ như người đó được người ta thích tại vì người đó đẹp thì mình nghĩ rằng "người đó đâu có đẹp gì đâu mà người ta thích", hoặc giả là người đó được trọng dụng là vì người đó có tài thì mình không có vui với điều đó, hay thậm chí một người có may mắn mình cũng không có vui và thường thường mình ít có vui với người khác. Nhưng bài học ở đây cho chúng ta thấy một điều đó là hễ tâm của chúng ta càng đố kỵ càng ganh tị càng ganh ghét người khác thì chúng ta mất đi một cái chất rất là quan trọng đó là chất an lạc, nhiều khi chúng ta đánh mất cái hạnh phút của mình mà mình không biết, đánh mất sự an lạc mà mình không biết.

Trạng thái của tâm hỉ là gì? Đó là cái khả năng tùy hỉ hay là vui với hạnh phúc của người khác, cái được cái thành công cái tốt đẹp cái may mắn của người khác, mà thật ra ở trong cái niềm vui đó nó đã cho chúng ta một điều vô cùng quan trọng đó là vui với hạnh phúc của người thì cũng có nghĩa là tự mình an lạc tự mình hoan hỉ. Ở thế gian này có vô số những sự thành tựu vô số sự may mắn của chúng sanh khác nhưng mà chúng ta không có vui được, chúng ta thường đố kỵ, chúng ta thường bất mãn, chúng ta thường ganh ghét, chúng ta thường ghen tỵ, và những điều đó làm cho cuộc sống của chúng ta chán đi cái niềm vui và mất đi niềm an lạc thật sự.

Và do vậy, nhiều khi chúng ta sống mà chúng ta thấy đời sống mình không có vui vẻ thì chúng ta nên đặt lại câu hỏi là mình có tu tập tâm hỉ hay là tu tập Tứ Vô Lượng Tâm không? Thật ra mình chú ý đến tâm từ và tâm bi mà chúng ta không nghĩ đến tâm hỉ và tâm xả. Nhưng phải nói rằng nếu chúng ta chú ý thì chúng ta thấy rằng chính cái tâm hỉ đó không phải chỉ vui với đời vui với người mà còn là trách nhiệm mang đến cho chúng ta được hạnh phúc. Thành ra cuộc sống của chúng ta lúc nào đó chúng ta thấy không có an lạc, cảm thấy không có vui, cảm thấy không có hạnh phúc thì chúng ta thử đặt lại vấn đề là tại sao chúng ta thiếu chất liệu của hỉ tâm, tại sao chúng ta thiếu chất liệu của sự an lạc. Đó cũng là một điều thú vị. Chúng tôi lấy ví dụ, một ông cha bà mẹ ở nhà mà gia đình có đi đâu đi nữa mà thấy con mình được học hành đỗ đạt được giàu có được công thành danh toại thì cha mẹ không ganh tị mà lúc nào cũng cảm thấy vui, thì cái niềm vui đó tự nó là hạnh phúc một hạnh phúc chân thật là bởi vì vui theo sự thành tựu của con. Thì cuộc đời này có nhiều sự thành tựu mà nếu chúng ta biết vui thì chúng ta có thể đạt được hạnh phúc của chính mình và đừng hỏi là tại sao mà mình lại thiếu hạnh phúc khi mình không có tâm hỉ.

Trong phần tiếp theo là Tâm Xả cho chúng ta một bài học rất thú vị. Tâm Xả ở trong đạo Phật mình hiểu là trạng thái tâm quân bình, chúng ta gọi là điềm đạm, hoặc giả là nó không có cực đoan nó không có chao đảo, có nhiều khi Tâm Xả được ví dụ như là cảm xúc của một người đánh xe song mã phải điều khiển sao cho hai con ngựa song hành với nhau. Thì điều mà khiến cho chúng ta kém cái khả năng điềm đạm mất đi cái khả năng quân bình tức là cái sự tham cầu hay là chúng ta gọi là sự tham lam quá độ. Tham lam quá độ là chúng ta muốn cái gì thì phải muốn đến chỗ gọi là cực đoan chỗ cao điểm và cái đó lâu ngày thì nó làm mất cái đẹp của cuộc sống. Chúng ta lấy đơn giản là qúi vị hàng ngày nghe một vị nào đó mà họ thích nói về "cái tôi" "cái ta" của họ, đi đâu cũng nói đến "cái tôi" "cái ta" nói nhiều quá thì chẳng những mình chán mà người đó lâu ngày họ cũng làm mất đi cái đẹp của đời sống. Là cuộc sống của chúng ta thương ai thì thương một cách cực đoan một cách tuyệt đối, hay thích cái gì quá, cái quá đó nó làm chúng ta mất khả năng điềm đạm mà không may cho chúng ta thường thường là chúng ta đánh mất sự quân bình đó.

Chữ "Upekha" được dịch trong chữ Hán là "Xả" nhiều khi nó không phải dễ hiểu, chúng ta hiểu Xả là một trạng thái thản nhiên hay là bình thản hay là không vui không buồn nhưng mà chính Xả là trạng thái điềm đạm nó là một trạng thái quân bình nó không có cực đoan, cái gì mà rơi vào trạng thái cực đoan thì nó là dấu hiệu của sự tham nhiều, muốn nhiều, chấp nhiều, dính mắc nhiều và trở thành cực đoan. Tâm của con người cái gì cũng vừa phải chúng ta gọi là đừng có quá, ví dụ như đơn giản là mình ăn cái gì mà muốn ngon thì mình đừng ăn nhiều quá sẽ mất ngon, hay là mình có một vài thú vui gì đó thì nó vừa chừng thì nó vui nhưng mà nó nhiều quá thì nó sanh ra xáo trộn. Thành ra Tâm Xả là tránh cực đoan và nhớ là lòng tham luyến nhiều thì thường tạo ra cực đoan. Và riêng trong trường hợp Tâm Xả là tạo điểm cho quân bình.

Một cảnh giới giải thoát thứ năm mà Đức Phật gọi là Vô Tướng Tâm Giải Thoát. Chữ Vô Tướng Tâm Giải Thoát là một chữ mà được minh họa bởi các thiền sư của Trung Hoa hay của Nhật Bản ở mức độ đôi khi trở nên khó hiểu nó trở thành một thứ công án rất là khó nói. Nhưng chúng ta nên hiểu nó như vầy là trong cái nhìn của Vô Tướng Tâm Giải Thoát thì mọi sự vật nó đều có tánh cách là đối đãi. Đối đãi là do có cái này mà chúng ta so sánh với cái kia thành ra chúng ta mới thấy rằng nó đẹp, nó xấu, nó hay, nó dở, nó ngon hay không ngon, thì những cái giá trị đó nó vốn không có tuyệt đối.

Chúng tôi lấy ba ví dụ để nói Vô Tướng Tâm Giải Thoát:

- Chúng ta nói một bữa ăn ngon. Chúng ta định nghĩa bữa ăn ngon nhưng mà bữa ăn ngon đó nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, ai nghĩ đến bữa ăn ngon là cao lương mỹ vị nhưng thật ra thì bữa ăn ngon đó có khi thực phẩm rất là thường một dĩa rau luột với một chén nước tương chấm nhưng không khí vui thì là bữa ăn ngon. Nhưng mà người ta khi định nghĩa một bữa ăn ngon họ đưa một cái giá trị nó phải thế này phải thế kia nhưng thật sự những điều đó nó có tánh cách tương đối nó có tánh cách thi thiết.

- Chữ tương đối là chữ tốt nhất để chúng ta nói về sự vô tướng là nó không có một cái nào mà chúng ta có thể khẳng định là nó mang chỉ số tuyệt đối. Ví dụ như chúng ta nói về lớn nhỏ, chúng ta nói về cao thấp, thế nào là cao, thế nào là thấp, thế nào là lớn, thế nào là nhỏ. Cái này mà chúng ta gọi là lớn tại vì mình so với cái nhỏ nhưng mà nếu so với cái lớn hơn thì nó không có nghĩa là gì hết, nói lớn là đại địa là lớn nhưng mà địa cầu của chúng ta so với hỏa tinh so với những thứ khác thì nó có nghĩa gì hế.

- Hoặc giả là nhỏ thì như hồi xưa chúng ta nghe câu nói là " Tác hữu trần sa hữu, vi không nhất thiết không. - Có thì có tự mảy may, có thì một hạn hữu cũng có thể có được, mà không thì cả thế gian này cũng không, cả một đại địa sơn hà, cả tam thiên đại thiên thế giới, cả một Galaxy (cõi thiên hà), cả một hệ thống Thái Dương Hệ đi nữa thì nó cũng là không thôi. Thì tất cả những cái giá trị về đẹp xấu hay dở ở trong đời này nó nằm ở trong một cái gì rất là tương đối, cái tương đối đó nhiều khi chúng ta gọi là thi thiết tức là sự giả lập, hay là do nó so sánh với cái này hay nó so sánh với cái kia thì nó tạo ra.

Thì một vị tu tập về Vô Tướng Tâm Giải Thoát mà còn có một cái chấp thủ gọi là Tùy Niệm Tướng là cái chuyện không thể xảy ra. Tùy Niệm Tướng ở đây tức là một vị khi tu tập về Vô Tướng Tâm Giải Thoát rồi thì thấy giá trị của tất cả các Pháp đều mang tính tương đối nó không có mang tính tuyệt đối. Và khi mà chúng ta nói Tùy Niệm Tướng ở đây tức là vị đó có sự chấp thủ, chấp thủ đối với một cái tướng nào đó hay là một sự trạng nào đó thì điều đó là điều không thể xảy ra được.

Chúng tôi thưa với qúi Phật tử như vầy, mình nói một chuyện dễ hiểu ở trong đời sống là y phục. Mình hiểu y phục nó thay đổi theo thời theo mùa theo hoàn cảnh theo quốc độ. Ngày xưa ở Việt Nam dưới chế độ của ông Ngô Đình Diệm thì bà Nhu có một lần muốn ra những đạo luật liên quan đến áo dài của phụ nữ thì thời đó nhiều người Việt Nam thấy đạo luật đó có lý lắm nhưng thật ra trong một quốc gia mà đưa ra cái luật lệ liên quan đến áo quần mà dài lớn nhỏ v.v... nó là một chuyện rất khôi hài là tại vì cái đẹp cái giá trị của thời trang nó không có nằm một chỗ, nó không thể là tuyệt đối, tuyệt đối để người ta đặt ra luật định được. Tại vì nhiều thế hệ, rất nhiều thế kỷ trước kia người ta nói cái đẹp của trang phục phụ nữ nó rất khác với chúng ta ngày hôm nay. Ngay cả xe cộ ngay cả đồ đạc mà chúng ta dùng cũng vậy.

Do vậy, một người khi hiểu chuyện này rồi thì đối với tất cả những gì mình có, hay tất cả những gì mình mua, tất cả những gì mình mong cầu, thì nên hiểu rằng: phải, lúc bây giờ, ở trong hoàn cảnh này chúng ta thấy cái đó nó đẹp thấy nó có một giá trị khác mà không thể phủ nhận được, nhưng mà mai hậu khi nó đi qua rồi chúng ta nhìn lại ở trong thời gian đó nó lại đẹp nhất. Chúng tôi lấy ví dụ như là hồi người ta mới ra Iphone 4 có nhiều người xem nó là cái điện thoại mà không có cái nào có thể đẹp hơn không thể nào tốt hơn được, bây giờ người ta sài một thời gian rồi và khi Iphone 5 ra thì mới thấy rằng cái Iphone 4 nó cũng giá trị tương đối thôi.

Thành ra khi mình học Phật và mình hiểu, mình hiểu rằng cái giá trị của một sự vật dù trên phương diện dài ngắn, vuông tròn, cao thấp, nặng nhẹ, đẹp xấu, mà nói về phân biệt ngôn ngữ của Phật giáo là dù quá khứ, hiện tại, vị lai, dù bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng v.v... tất cả những điều đó nó chỉ nằm ở trong chỉ số giá trị rất tương đối và nếu chúng ta lấy chỉ số giá trị tuyệt đối.

Một người mà tu tập làm cho sung mãn Vô Tướng Tâm Giải Thoát thì vị này nên không có Tùy Niệm Tướng tức là không có chấp điều đó.
Một vị phát triển thiền quán, vị này có thể nhìn các sắc để khai triển những thiền tâm nhưng mà rồi các vị sẽ bỏ lại những thứ đó tức là từ sơ thiền đạt nhị thiền vị đó cái tâm thuần thục hơn và phải đủ sức bỏ lại, thí dụ bỏ lại tầm tứ nói theo kinh tạng, hay là từ cái sắc giới qua cái vô sắc v.v... thì những bước đi mà chúng ta tới nó đều phải có khả năng để mà bỏ lại sau lưng những điều mà cái mà chúng ta đã từng hướng đến.

Sau cùng điều thứ sáu mà chúng ta gọi trạng thái tâm, đó là một vị hành giả thường tu tập đối với cái diệt trừ gọi là ngã chấp "tôi là". Như thường thường chúng ta nghe ở trong kinh nói đến ba trạng thái là Ngã, Ngã Sở, và Mạn Tùy Miên - "Đây là tôi", "Đây là của tôi", "Đây là tự ngã của tôi". Thì nhất là vị đó định nghĩa "Tôi là ai". Thì thường thường chúng ta chắp vào một điểm nào đó một vị tu tập mà đã có thể nhận thấy rằng "Cái này không phải là tôi", "cái này không phải là của tôi", "cái này không phải tự ngã của tôi" thì vị đó có khả năng diệt trừ hai thứ gọi là Nghi và Mạn (thường thường chúng ta gọi là Mạn Nghi).

Thì hoài nghi tức là sự lưỡng lự phân vân cái trạng thái tâm lưỡng lự phân vân
và mạn ở đây tức là một trạng thái so đo giữa cá nhân này và cá nhân khác giữa chúng sanh này và chúng sanh khác.

Thì nói chung là một vị mà đã hiểu được và đã thường tu tập để mà không có chấp thủ cái thân kiến thì vị này không thể có những trạng thái mạn và nghi như vậy.

Bây giờ chúng ta nói như vầy, một chuyện dễ hiểu trong đời sống, người ta nói rằng "sông có khúc người có lúc". Có nhiều khi trong nền văn hóa nào đó họ xem thường những người lớn tuổi, có khi họ cười người lớn tuổi chậm chạp, hay là khi mình lái xe thấy bà cụ lái xe mình nói "già rồi mà lái xe chậm thế này thế kia" nhưng khi chúng ta có cái ý nghĩ là mình trẻ mình nhanh lẹ, mình bén nhạy, mình giỏi hơn vị lớn thế này thế kia thì sự kiêu mạn đó nó không có đi đến cái ý thức rất là sáng suốt, đó là những người già đó sẽ là mình ở trong một thời gian nào ở tương lai nếu mình có may mắn như vị đó mà sống lâu. Nói một cách khác là một người trẻ mà quá tự hào quá hách dịch coi thường người lớn tuổi thì người đó hoàn toàn không hiểu là rồi mình cũng sẽ như vậy .

Cái đặc biệt khi chúng ta quán sát về cái "Tôi là" thì thường thường nếu chúng ta đọc kinh Vô Ngã Tướng chúng ta thấy được cái vô thường và cái bất toại và cái vô ngã. Cái vô thường là nó thay đổi, sắc thọ tưởng hành thức nó thay đổi, cái gì cũng thay đổi hết. Và khi nó thay đổi thì cái giá trị mà mình đang có bây giờ, thí dụ mình là người rất là thành công và mình ở cái tâm rất là kiêu mạn "tôi là một người hay ho, tôi là một người thành công" thì cái sự vỗ ngực xưng tên và cái sự cao mạn đó nó chỉ là sự nông nỗi nhất thời thôi. Thật ra thì một người sống mà có sự tu tập hiểu là không có cái gì mà nó bền vững hoài không có cái gì nó nằm một chỗ, mình ở cái cao điểm nào đó rồi mình sẽ tụt xuống sẽ đi xuống, mình lên một ngọn đồi lên đến đỉnh đồi rồi mình sẽ đi xuống, mình trẻ rồi phải già, ví dụ thế, mình đang trẻ mạnh có những lúc đau ốm, mình sống có những lúc thành công lúc thất bại, có những lúc được có những lúc mất, và những điều đó nó không cho chúng ta một cái ảo tưởng là mình sống giá trị miên viễn giá trị vĩnh cửu, và luôn luôn nó phải như vậy không thể khác.

Và như vậy là mình diệt được Mạn và Nghi.

Trạng thái hoài nghi lưỡng lự phân vân nó là một trạng thái bắt mình đề xuất ra một câu trả lời dứt khoát rõ ràng cố định là tương lai phải như vậy, quá khứ phải như vậy, hiện tại phải như vậy, chúng ta không chấp nhận cái biến dịch muôn màu muôn dạng của cuộc sống và bởi vì chúng ta không chấp nhận sự biến dịch muôn màu của cuộc sống đôi khi mình ngờ ngợ không biết là mình phải làm gì, mình phải đi về đâu, đôi khi người ta hay tin vào những giá trị tưởng tượng, ví dụ như một cái bảo hiểm nào đó nó làm cho chúng ta yên tâm hoàn toàn hay một người bạn thân nào đó làm chúng ta tin tưởng một trăm phần trăm hay một kế hoặch tài chánh khả dĩ cho chúng ta an ổn suốt cuộc đời này bằng cách bảo đảm chắc thật. Khi mà chúng ta đặt để cho mình những cái thế gọi là những giá trị mà phải là như vậy đó thì chúng ta quên đi rằng cuộc sống nó có muôn ngàn ngã rẽ và cái muôn ngàn ngã rẽ đó nó không có gì chắc chắn là nó phải thế này nó phải thế khác, chúng ta phải nhìn lại chúng ta ngày hôm nay và cái nhìn của mười năm trước có bao nhiêu điều xảy ra hôm nay mà chúng ta không biết được, có những người đã từng ghét mình bây giờ họ thương mình, có những người thương mình bây giờ họ ghét mình, có những người họ nghĩ rằng họ sống rất lâu bây giờ họ đã ra đi thành người thiên cổ. Chúng ta cứ nhìn những cái thay đổi liên tục ở trong cái thể chế chính trị ở trên thế giới này có bao nhiêu điều chúng ta không ngờ được, có những quốc gia một thời có những quốc gia rất là nghèo bây giờ giàu có, rồi những quốc gia cơ hồ giống như là những chế độ độc tài đảng trị hay là nó thiên thu ở đó rồi bây giờ thay đổi như các quốc gia Ả Rập, hoặc giả là có một thời mà chúng ta nghĩ là có những chủ nghĩa những chế độ không ai có thể dám nghĩ rằng nó có thể thay đổi ở trong khi mà chúng ta còn sống trên cuộc đời này. Nhưng mà quả thật nó thay đổi. Đời sống có trăm muôn ngàn thứ, không phải chỉ bên ngoài mà riêng với chúng ta. Và khi mà chúng ta hiểu điều đó thì chúng ta không có chuyện gì phải phân vân không có chuyện gì phải lưỡng lự. Tại vì sao, chúng ta chấp nhận với vô thường đó chúng ta không để sự vô thường bấp bênh đó đặt để chúng ta vào trạng thái trông coi lưỡng lự không có bước đi, nên làm thì cứ làm hành động thì cứ hành động nhưng đừng bao giờ đinh ninh rằng nó 100% nó như vậy. Thành ra khi mà chúng ta sống và thấy được thân của mình và tâm của mình cũng vậy tất cả đều là vô thường đều vô ngã tất cả điều đó đều biến dịch thay đổi thì nó trả chúng ta vào trạng thái là bớt đi cái kiêu mạn, bớt đi sự nghi hoặc.

Thì sáu trạng thái này chúng ta gọi là sáu lãnh vực giải thoát. Sáu lãnh vực giải thoát đó khẳng định cho chúng ta thấy rằng có những trạng thái gọi là đối nghịch, có cái này không thể có cái kia.
- Tâm từ phát triển đầy đủ thì không thể trộn lẫn với tâm sân.
- Tâm bi đầy đủ thì không thể trộn lẫn với hại tư duy.
- Tâm hỉ đầy đủ nó không thể trộn lẫn với bất lạc.
- Tâm xả đầy đủ nó không thể đi với sự chấp thủ tham luyến cực đoan.
- Vô tướng tâm giải thoát đầy đủ thì nó không thể đi với sự chấp thủ tùy niệm tướng
- Và những sự tu tập mà thấy được "đây là tôi", "đây không phải là tôi", "đây không phải là của tôi", "không phải là tự ngã của tôi" được tu tập đầy đủ thì cái ngã chấp và đặc biệt là mạn và nghi nó không có cơ sở để tồn tại. Nó có cái này thì không thể có cái kia.

Thì những pháp đó nó không hẳn chỉ là những bài nói về sự giải thoát hoàn toàn của những vị đạt đến cảnh giới đó mà chính chúng ta trong đời sống tu tập hàng ngày chúng ta phải nghiệm được ở trong lòng mình nó có cái gì, nó có cái này thì nó phải có cái kia, nhưng mà nếu cái kia nó nhiều quá thì mình chưa vững.

Chúng tôi lấy ví dụ có những người đời sống lúc nào cũng phiền não lúc nào cũng bất an, nghĩ đến các con các cháu đến xã hội đến cuộc đời nhưng vấn đề đơn giản là mình không có tâm hỉ, nếu mình có tâm hỉ thì có lẽ là có nhiều điều để cho mình vui, vui về sự thành tựu, vui về những cái gì mà những người chung quanh có, nhưng mà có người suốt đời không bao giờ vui hết.

Thì khi mà mình hiểu là, tại sao đời sống mình không vui, tại sao đời sống mình không được quân bình, tại sao đời sống mình luôn luôn có cái ác ý với người khác, tại sao đời sống mình luôn luôn sân hận, tại sao đời sống mình luôn luôn bị dính mắc vào điều này điều khác thì bài học này cho chúng ta những gợi ý và những gợi ý này rất là tốt và từ những lợi ý đó chúng ta có niềm tin mạnh mẽ rằng có luân hồi phải có giải thoát, có khổ đau thì phải có sự hạnh phúc. Tại vì sao vậy, nó có những chất liệu, nó có những trạng thái, mà thật ra nó đối nghịch lẫn nhau, và ở đó là niềm tin, đó là hướng đi và đó là điều mà người Phật tử có thể nhắm tới./.