THỨ BA 15 04 - 2008  PL 2551 -

LỚP  DIỆU PHÁP , Paltalk

 

TIN TỨC PHẬT GIÁO

NỖI BUỒN CỦA BIỂN

Chơn Hữu

Câu chuyện sau đây kể về người phụ nữ mang tên một loài hoa sang trọng và kiều diễm, nàng tên là Cát Lan. Tuy được sinh ra trong một gia tộc luôn được xă hội trân quư và ngưỡng mộ, vậy mà nàng thường đối xử với mọi người quanh ḿnh rất hoà đồng, giản dị chứ không như những kẻ quyền quư khác. Từ ngàn xưa, con người đă phân chia ra những giai cấp khác nhau, để phân biệt sự vinh quang cũng như sự hạ liệt của từng ḍng giống. Trong các giai cấp, Bà-la-môn là giai cấp cao quư nhất trong bốn giai cấp có mặt ở cuộc đời. Truyền thống ấy được ǵn giữ, chấp nhận như những chân lư thiêng liêng do tổ tiên loài người để lại.

Xem tiếp


 

Diễn Viên Hongkong Thuyết Minh KINH PHÁP CÚ

(bản dịch của HT. TMC)

3. "Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi "
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi

- Chuyện lớn xem nhỏ

Chuyện nhỏ như không

5. "Với hận diệt hận thù,
Đời này không có được.
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu ".

- Hồng trần phiền năo, chỉ là phiến hoa thuỷ nguyệt.

Ân oán bụi trần, chỉ là cố chấp hư không.

11. "Không chân, tưởng chân thật,
Chân thật, thấy không chân
Họ không đạt chân thật
Do tà tư tà hạnh

(+  “rối ren thay loài người, cởi mở thay loài thú!” – Trung Bộ Kinh)

- Giang hồ hiểm ác

Ḷng người khó lường

Đi đường cẩn thận

Watch your steps

26. "Họ ngu si thiếu trí,
Chuyên sống đời phóng dật.
Người trí, không phóng dật,
Như giữ tài sản quư."

- Đàn ông có tiền, sẽ trở nên xấu

Đàn bà trở nên xấu, sẽ có tiền.

 48.Người nhặt các loại hoa,
Ư đắm say tham nhiễm,
Các dục chưa thỏa măn,
Đă bị chết chinh phục."

- Trên đầu chữ SẮC, có một con dao!

21. "Không phóng dật, đường sống,
Phóng dật là đường chết.
Không phóng dật, không chết,
Phóng dật như chết rồi."

- Ma, chẳng qua là những người qua đời thôi.

C̣n người (phóng dật), chẳng qua là con ma chưa chết.

41 "Không bao lâu thân này,
Sẽ nằm dài trên đất,
Bị vất bỏ, vô thức,
Như khúc cây vô dụng."

- Lúc tới, không biết từ đâu

Lúc đi, trở về hư vô.

341. "Người đời nhớ ái dục,
Ưa thích các hỷ lạc.
Tuy mong cầu an lạc,
Họ vẫn phải sanh già."

- Tu 10 năm, mới ngồi chung chuyến đ̣

Tu 100 năm, mới nên duyên vợ chồng

Duyên vợ chồng, như môi với răng

... Nhưng đời người, có hai lần thay răng!

100. "Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không ǵ lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc."

&

19- "Nếu người nói nhiều kinh,
Không hành tŕ, phóng dật;
Như kẻ chăn ḅ người,
Không phần Sa môn hạnh."

- Nếu mà anh không nói,

không ai nói anh câm.

… shut up!

20- "Dầu nói ít kinh điển,
Nhưng hành pháp, tùy pháp,
Từ bỏ tham, sân, si,
Tỉnh giác, tâm giải thoát,
Không chấp thủ hai đời,
Dự phần Sa môn hạnh."

- Quyết định vậy đi!

Thuỵ Miên Cốc, 04/04/08 - SCK

- Trích dẫn từ films: Bố Đại Hoà Thượng, Bao Thanh Thiên.

 


PHẬT GIÁO THỜI NHÀ LƯ- NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

Chơn Hữu

Lịch sử luôn là những bài học quư giá và măi măi là tấm gương cho hiện tại. Tiếp cận Phật giáo bằng phương pháp sử quan, chúng ta sẽ nhận thấy Phật giáo là một hệ thống tư tưởng tích cực, nh́n thẳng vào những vấn đề bức xúc nhất của vận mệnh dân tộc, và đă giải quyết những vấn đề ấy theo phương cách tốt nhất. Nh́n lại suốt chiều dài lịch sử, ta sẽ thấy rằng Phật giáo Việt Nam đă luôn sát cánh với dân tộc trong những lúc thăng trầm cũng như trong sự nghiệp kiến tạo và bảo vệ đất nước. Trong phạm vi giới hạn, bài viết này chỉ tŕnh bày khái quát một vài điểm son của lịch sử Phật giáo ở triều đại nhà Lư - triều đại tiêu biểu nhất mở đầu cho một công cuộc kiến thiết quốc gia độc lập, tự chủ.

Để thấy rơ vai tṛ quan trọng và những đóng góp tích cực về nhiều mặt của Phật giáo trong việc xây dựng nền chủ quyền và phát triển đất nước một cách đáng tự hào ở triều đại nhà Lư, trước hết, ta điểm qua vài nét bối cảnh lịch sử đất nước trong giai đoạn trước và sau nhà Lư thành lập.

Từ thuở Hùng Vương, đất nước chúng ta đă phải chịu rất nhiều cuộc áp bức vô cùng tàn bạo và đau đớn của người phương Bắc. Nhưng với tinh thần bất khuất, đất nước ta đă xuất sinh những anh hùng hào kiệt kiên cường mà ngày nay dân tộc Việt Nam có quyền tự hào và hănh diện bởi chí khí oai hùng của cha ông ḿnh.

Với chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy năm 938, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa. Dân tộc ta bên trong đă dẹp yên được nghịch thần, bên ngoài đă phá tan được cường địch, anh dũng chặt đứt xiềng xích nô lệ đầy tủi nhục kéo dài hơn ngàn năm Bắc thuộc. Một ngàn năm Bắc thuộc là một ngàn nhát dao cắt vào tâm khảm của dân ta, như một giấc ác mộng mà tất cả người Việt chúng ta c̣n nhắc nhở nhau để ghê tởm và kinh hăi! Nhưng vừa thoát khỏi nạn ngoại thuộc th́ dân ta lại phải đương đầu với một loạt những quốc nạn khác. Người anh hùng dân tộc Ngô Quyền chỉ trị v́ được sáu năm rồi mất năm 944. Từ đó xảy ra nạn Thập nhị sứ quân, tranh giành xâu xé, tạo ta cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn kéo dài suốt 20 năm (945 – 967), đă gây ra không biết bao nhiêu tổn thất về nhân mạng và tài sản, đẩy nhân dân đến chỗ lầm than, cơ cực tận cùng. Măi đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh mới phất cao ngọn cờ vạn thắng, đánh tan tất cả sứ quân, khôi phục hoà b́nh và thống nhất cho đất nước. Nhưng chỉ được 3 năm, Đinh Bộ Lĩnh và con trưởng Đinh Liễn bị ám sát chết (980); đế quốc Trung Hoa lại ồ ạt xâm lăng nước ta. Lúc bấy giờ, người anh hùng cứu quốc Lê Hoàn xuất hiện, dẫn đạo hùng binh ra trận, thần tốc đánh tan quân xâm lược nhà Tống (980), mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Tưởng đâu đất nước đă được yên b́nh sau hai mươi năm nội chiến và cuộc kháng chiến oai hùng với giặc cướp ngoại xâm Trung Hoa, nhưng giông băo vẫn tiếp tục phủ xuống, nghịch cảnh vẫn chưa ngừng buông tha. Vị minh quân Lê Đại Hành là người anh hùng cứu quốc, ông mất vào tháng 3 năm 1005. Khi vua cha vừa nằm xuống th́ các con kịch liệt tranh nhau ngôi báu, măi đến tháng mười năm 1005, Lê Long Việt lên nối ngôi. Đăng quang mới được ba ngày, Lê Long Việt bị người em là Lê Long Đỉnh cho người ám sát rồi cướp ngôi. Lúc này triều thần sợ hăi chạy tán loạn, duy chỉ có Lư Công Uẩn ở lại ôm xác vua Trung Tôn (Lê Long VIệt) mà khóc. Long Đỉnh thấy vậy khen là trung thần nên sau khi lên ngôi liền phong Lư Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Long Đỉnh là một ông vua hôn mê, rất tàn ác và hoang dâm vô độ, đến đỗi mới hơn hai mươi tuổi đă không ngồi dậy nổi, mỗi khi lâm triều, y phải nằm trên giường nên sử sách, dân gian mỉa mai gọi y là Lê Ngoạ Triều. Bản tính Long Đỉnh cực kỳ tàn bạo và ác độc, sau khi đă gây ra tội ác giết anh cướp ngôi y lại càng tàn bạo hơn.

Xem tiếp


Tùy bút by Toại Khanh

AI CHẲNG LÀ DÂN VIỆT

             Khuya. Một ḿnh. T́nh cờ đọc thấy một bài viết kỳ thú trên báo Tuổi Trẻ của Việt Nam mà nghe nao cả ḷng. Bài báo viết về một chuyến du khảo tháng 10/2007 của nhóm phóng viên tờ Tuổi Trẻ trên Con đường Tơ Lụa, bắt đầu từ Tây An rồi th́ sau đó Đôn Hoàng, Cao Xương,..với khoảng 8000 cây số đi về.

            Đọc chưa hết bài báo mà ḷng cứ nghe dậy lửa, thứ tâm hoả hừng hực của một gă du tử tạm thời đang bị trói chân chưa thể lên đường. Rồi bỗng đâu đó trong sâu thẳm trí nhớ, một câu hỏi thật lạ : Ô hay, trước cả cuộc di tản lừng danh của hàng triệu dân Việt trên rừng sâu dưới biển cả mấy mươi năm trước, đời nào mà chẳng có những bước chân phiêu linh  biệt xứ chứ ? Các ngài Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh, Bồ Đề Đạt Ma, rồi Phật Âm, Giám Chân đă chẳng là những tăng sĩ vuợt biên đường thủy đó sao…Rồi các ngài Huyền Trang, Tôn Khách Ba, A Đề Xá đă chẳng vượt biên đường bộ đó sao. Rồi th́ những người vượt biên tại chỗ. Thân tại quê hương mà ḷng đă nằm ngoài muôn dặm tự bao giờ. Cứ theo chữ nghĩa mà nói, ai lại chẳng là người Việt, ai lại chẳng vượt qua và bỏ lại cái ǵ đó sau lưng để mà vượt qua chính ḿnh. Phải mà. Phải đi để mà lớn. Đi để mà nâng cao tầm nh́n, mở rộng phương trời, sống nhiều một đời ngắn, sống vui một kiếp buồn !

       Bài báo được viết tài hoa, duyên dáng và nói theo người trong nước là có nhiều thông tin. Đọc để thấy ḿnh phải lên đường. Đọc để thấy ngồi yên một xó là bi kịch nhân sinh. Đọc để thấy ḿnh phải là dân Việt đến suốt đời. Đọc để hiểu v́ sao Phật xưa kêu gọi môn đệ một đời vô trụ xứ !

           Tinh thần Việt tộc ǵ ấy thực ra đă được nhắc tới trong kinh điển Pàli từ mấy ngàn năm trước. Theo giáo lư A-Tỳ-Đàm, đời sống tâm linh của chúng sinh từ muôn thuở là một ḍng chảy bất tuyệt của những sát-na ư thức ngắn ngủi. Và bao đời nay trên ḍng chảy ấy trước sau chỉ gồm hai thứ tâm thức căn bản là Nhân hiệp thế và Quả hiệp thế. Cao th́ về các cơi nhân thiên, thấp th́ đi về 4 nẻo đọa theo quy luật nhân quả tương ứng. Trong trường hợp có  ai đó chứng đắc thiền định hay đạo quả th́ trên ḍng tâm thức kia trước hết sẽ xuất hiện một sát-na tâm có tên gọi là Gotrabhù, nghĩa đen của thuật ngữ này có thể dịch là Đổi Đời, nghĩa bóng là đương sự hiện đang bỏ lại cái gốc gác thấp kém của ḿnh trước đây để góp mặt vào một gia tộc cao quư hơn. Rồi nh́n lại nhân gian, như chúng tôi đă bao lần thưa chuyện, cuộc nhân sinh là thân phận một chiếc lá hay một con đ̣ trên ḍng. Không có ǵ trên ḍng nước lại có thể muôn kiếp đứng yên một vị trí: Hoặc tới, hoặc lui, hay phải ch́m xuống.  Có một dịp nào rỗi rảnh, độc giả có thể t́m đọc bài kinh đầu tiên của Tương Ưng Bộ (Samyuttanikàya) để thấy ra vấn đề đang được đề cập ở đây. Nếu cảm thấy chánh kinh mơ hồ tối nghĩa, ta có thể t́m vào Sớ Giải của bộ kinh này (Sàratthapakàsiń) để thấy rằng chỉ riêng việc làm sao có thể tồn tại trên sóng nước  là cả một nghệ thuật, và cái lư tưởng tối hậu của kẻ trên ḍng chính là hai chữ Vượt Qua (oghamtara). Ch́m xuống (samśdati) hay trôi giạt (nibbuyhati) vô định đều phải bị xem là tai nạn (Sớ nói, tham ái là ch́m xuống và tà kiến là trôi giạt, Thường kiến là ch́m xuống và Đoạn kiến là trôi giạt, lười biếng là ch́m xuống và phóng dật là trôi giạt, lợi-dưỡng là ch́m xuống và khổ hạnh là trôi giạt, ác pháp hiệp thế là ch́m xuống và thiện pháp hiệp thế là trôi giạt). Hết bến bờ này, sang đến bến bờ khác, ǵ cũng phải bỏ lại sau lưng. Cho đến một ngày không c̣n ǵ để làm, không c̣n ǵ để học, không c̣n ǵ để vượt qua hay bỏ lại. Tôi nhắc lại, anh có là ai, cái anh có được là ǵ, anh đang có mặt ở đâu, chuyện đó không quan trọng  bằng hành tŕnh trước mặt của anh sẽ dẫn về đâu.

       Anh theo đuổi một lư tưởng chính trị và bây giờ nắm được vận mệnh cả quốc gia trong tay, nhưng dân chúng của anh đói nghèo và quốc gia của anh lạc hậu, th́ cái mà anh phải nhắm tới chính là một ngày mai tốt đẹp hơn bữa nay chứ không phải suốt ngày trùm mền nhắc lại chuyện hôm qua để tự khen thưởng bản thân. Anh phải biết tự vượt qua chính ḿnh để lư tưởng chính trị của anh không bị đời sau xem là một chỗ bê bối của lịch sử.

        Thế giới văn hoá h́nh như cũng vậy. Nghe đâu một  chàng Thôi Hiệu từ sau lúc làm được bài thơ Hoàng Hạc Lâu đă một đời sợ hăi bút mực với chút lư do thực khó tin. Chàng không đủ sức vượt qua cái hào quang của bài thơ được xem là thần bút kia của ḿnh. Kể cả những khi muốn làm thơ tả sông, tả núi, tả cỏ tả cây, cứ bày giấy mực là lại nh́n thấy một cánh hạc chập chờn ngay trước mắt và bên tai lại văng vẳng mấy câu thơ càng lúc càng dễ ghét: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, bạch vân thiên tải không du du…! Mấy câu thơ đó là của chính chàng đó chứ, nhưng Thôi Hiệu không ngờ là chúng đă báo hại đời ḿnh thê thảm đến vậy: Người ta tán thưởng bài thơ Hoàng Hạc Lâu ghê quá, làm bài thơ khác không hay bằng th́ có phải khó ăn nói hay không chứ ? Đă vậy, cái bóng dáng của lầu Hoàng Hạc kia đă che khuất tất cả mọi cảm xúc của Thôi Hiệu: Không nhà cửa nào đẹp bằng lầu Hoàng Hạc, không loài cầm thú nào đẹp bằng chim hạc, không thời khắc nào  trong trời đất tuyệt vời bằng buổi chiều trên sông, và con sông ấy phải là con sông Hán Dương với một cái cù lao Anh Vũ mắc toi ấy. Tội nghiệp, cái thiên tài đáng lẽ thuộc hàng thi bá ấy ai ngờ lại bị d́m chết không bởi một đối thủ nào ghê gớm, mà chỉ v́ một bài thơ non chục câu của chính ḿnh. Đúng là chết oan ức hơn cả Từ Hải đời sau. Không vượt qua được cái hàng rào của xó vườn nhà ḿnh, th́ người ta không thể ra được tới chỗ gọi là thiên hạ.

        Về đạo học ư ? Trong kinh Trung Bộ (Majjhimànikàya) có một bài kinh Lơi Cây (sàrùpamàsutta) ǵ ấy, nội dung nói toàn những ǵ vừa được đề cập ở đây. Theo đó, cuộc tu là một hành tŕnh gạn lọc và chọn lựa thông minh. Anh vừa ḷng quá sớm với cái ḿnh có, không vượt qua được những ngọt ngào trước mắt ? Anh chết thẳng cẳng ngay. Từ một nếp sống sung túc lợi danh, tới một nếp sống giới hạnh trong suốt như pha-lê, một khả năng thiền định thần thông quán thiên địa, một tŕnh độ tri kiến suưt soát thánh nhân, tất cả đều chỉ là những quán trạm qua đêm. Nếu anh chưa là thánh nhân th́ con đường phía trước vẫn c̣n dài lắm. Anh nổi hứng dừng lại ở đâu đó, trong Tăng Chi Bộ (Anguttaranikàya) đức Phật gọi là t́nh huống một khúc gỗ bị mắc cạn. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ (D́ghanikàya), đức Phật trước khi viên tịch cũng đă nhắc lại lư tưởng này trong các pháp Bất Thối (aparihàniyadhamma): Cho đến bao giờ c̣n có các tỷ kheo không dừng lại nửa chừng (antaravosànam àpajjati) trong công phu tu học th́ ngày đó tăng đoàn vẫn c̣n hùng mạnh, chưa bị suy giảm.

          Ngó ra thiên hạ, từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, người Đức rồi người Nhật, Nam Hàn, Do Thái đă biết vuợt qua những khốn khó ngất trời của thời hậu chiến để bây giờ, hầu hết những dân tộc c̣n lại khi nói về họ đều phải ngưỡng mộ hoặc ghen tỵ. Tôi muốn gọi họ là những người biết vượt biên. Rồi th́ những mảnh đời của từng cá nhân, bất kể thuộc dân tộc nào, chỉ cần biết bỏ lại sau lưng một quá khứ buồn để có được một hoàn cảnh đủ sức tự lợi và lợi tha, đó cũng là những kẻ vượt biên. Và bất cứ ai từng vượt biên đều có thể được gọi chung là người Việt, kẻ vượt qua một biên giới nào đó. Nếu nói vậy, đồng bào của tôi không chỉ là những người sinh trưởng trong cái bản đồ có h́nh chữ S nằm bên bờ Đông Hải, mà c̣n là tất cả những ai từng trải qua những hành tŕnh ngoạn mục để vượt qua chính ḿnh ngày cũ để trở thành một cái ǵ mới mẻ và hữu ích..

Nói đời là biển khổ th́ không sai, có điều là buồn quá. Nhưng đổi lại, có thể gọi cuộc đời là một ḍng sông, một hành tŕnh, với những bến bờ để vượt qua, những trạm ghé qua đêm để bỏ lại …th́ rơ ràng là vẫn c̣n có chút ǵ để nhớ để thương !

 


Tùy bút by Toại Khanh

 MỘT V̉NG TAY CHO THANH TẠNG

 

            Tôi là một người có đến 1001 lư do để không thể và không nên trở thành một tay du lịch chuyên nghiệp, nhưng thiệt t́nh trong bụng vẫn tự nhủ sẽ t́m dịp thăm viếng một vài nơi trước khi giũ sạch những giấc mơ xê dịch để yên ḷng lên non t́m động hoa vàng nào đó mà đánh giấc thiên thu. Một trong những nơi chốn mộng mơ đó chính là Machu Picchu ở tận xứ Peru. Chỉ là một di tích đổ nát, cũ kỹ thôi, nhưng nó có thể được coi là một Angkor hay Binh Mă Dũng ở Nam Mỹ.

            Tôi biết đến địa danh này qua một bài viết trên Internet có tựa đề 1000 Places-To-See-Before-You-Die giới thiệu những nơi chốn đáng viếng trong một đời người phù vân. Tôi đă bàng hoàng khi ngắm qua mấy chục tấm ảnh chụp ở Machu Picchu để lại giật ḿnh khi được biết rằng nó sở dĩ c̣n nguyên vẹn như vậy là nhờ toạ lạc ở một vị trí cực kỳ hẻo lánh, nằm ngoài khu vực đi lại của những người Tây Ban Nha thực dân mấy thế kỷ trước, tránh được chuyện bị họ đào xới t́m vàng. Theo các sử liệu, công tŕnh này được người Inca thực hiện vào khoảng năm 1450, hơn một thế kỷ trước khi thực dân Tây Ban Nha (conquistador) t́m sang Nam Mỹ và lật tung thế giới của người Inca để moi vàng rồi thiêu hủy gần như trọn vẹn nền văn minh rực rỡ của họ. Theo tôi, nếu chẳng kể đến lĩnh vực minh triết, nền văn minh Inca đáng được xếp vào vài ba chiếc nôi văn minh đáng nể nhất của trái đất xưa giờ.

            Tôi dĩ nhiên chẳng có nhiều thời gian hay kiến thức để nói nhiều về một di tích du lịch nào hết, nhưng câu chuyện về Machu Picchu cứ khiến tôi suy nghĩ nhiều về vài điều liên tưởng. V́ sao Machu Picchu không bị giày xéo ? Phải chăng mọi thứ trên đời đôi lúc cũng cần đến những bối cảnh thích hợp để tự bảo toàn. Ở đây tôi muốn dùng chữ Cơi Riêng. Có phải đó cũng là lư do ngày xưa đức Phật đă từng đề nghị các đệ tử của Ngài đừng tung tăng trong Ma Giới, chỉ nên văng lai trong cảnh giới Chánh Pháp. Một bước rong chơi sa đà là khó có dịp quay đầu. Xưa nay biết bao người đă chết thảm chỉ v́ bắt chước thiên hạ nói năng kiểu thánh hiền như cư trần bất nhiễm, hay vào địa ngục cứu người rồi th́ an ḷng lăn xả vào tục lụy ngay khi chưa kịp có đủ khả năng tự vệ. Tôi nhớ báo chí trong nước khi nói về sự cố sập cầu ở Cần Thơ năm ngoái , đă cho hay hai nhịp cầu khổng lồ kia bị đổ chỉ v́ giàn giáo quá yếu không chịu nổi sức nặng hàng ngàn tấn của phần bê-tông chưa kịp khô, chưa đủ cứng.

              Từ hơn một năm nay, gần như toàn bộ các nguồn thông tin của Trung Quốc đều đổ dồn một phía để đánh bóng sự kiện Olympic vào tháng 8 năm 2008. Ai có thường theo dơi CCTV9 của Trung Quốc hẳn đă thấy như vậy. Người ta đă bằng mọi cách kích thích sự chú ư của thiên hạ bằng những quảng cáo rầm rộ và điêu luyện. Vậy mà chỉ trong non một tuần nay, hào quang của Olympic Bắc Kinh 2008 đă có nguy cơ bị đẩy lùi sau một loạt tin tức về những cuộc biểu t́nh đẫm máu ở Tây Tạng, và hôm qua, làn sóng xuống đường đă lan rộng đến Tứ Xuyên, nơi có một phần lănh thổ của Tây Tạng ngày truớc. Tôi đă bàng hoàng khi nh́n thấy trên TV rồi Youtube trong Internet, những h́nh ảnh đổ máu của người dân Tây Tạng trong mấy ngày qua. Ai khổ tôi cũng thương, nhưng ở đây, c̣n có thêm một chút t́nh đồng đạo. Dân tộc đang lâm nạn kia cũng là những người thờ Phật như tôi.

      So với những chủ nhân ông của nền văn minh Inca ở Mỹ Châu mà tôi vừa nhắc ở trên, dân Tây Tạng có nhiều điểm đồng dị rất đáng lưu ư. Cũng đều có một lănh thổ nằm xa khuất cuối trời, cách ly hẳn những miền đất ồn ào nhất của hành tinh. Cả hai đều sở hữu một nền văn hoá độc đáo và hiện nay, cả hai đều bị thôn tính. Đó là những điểm giống nhau. C̣n về chỗ khác nhau ? Dấu vết c̣n lại của nền văn minh Inca bây giờ có lẽ chỉ là cái di tích Machu Pichu đáng gọi là kỳ quan kia. Trong khi đó, người Tây Tạng h́nh như có may mắn hơn một chút. Ngoài 6000 tự viện bị thiêu hủy sau năm 1959 với hàng trăm ngàn tu sĩ bị giết chết, họ đă kịp có một cuộc di tản đáng nể: Người thủ lănh tâm linh của họ là đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn c̣n đó ở xứ người với một chính phủ lưu vong và bước chân hoằng pháp của tăng sĩ Tây Tạng cũng đă theo đời lưu lạc của họ mà in dấu khắp mọi châu lục, thậm chí thành công hơn cả tăng ni Việt Nam hải ngoại. Tôi nhớ đă đọc ở đâu đó một ư kiến rằng việc Trung Cộng đánh chiếm Tây Tạng không hẳn là cái hoạ cho xứ sở này. Tôi không dám có ư kiến trong chuyện đó, chỉ thấy rằng quốc vận của Tây Tạng đă cho tôi nhiều bài học vô giá. Và một trong số đó chính là cái ư tưởng mà tôi đă nêu ở phần đầu của bài viết này.

       Người Tây Tạng nhờ có một vị trí địa dư hẻo lánh, nên đă được an toàn trong một thời gian dài. Trong khi Trung Hoa hùng mạnh là vậy mà từ ngàn xưa vẫn phải liên tục khổ ải với các dân tộc láng giềng phía bắc. Thứ đến, với kiểu hành tŕ khép kín của Phật giáo Tạng Truyền, đạo Phật của người Tây Tạng tuy không phải là nguyên thủy so với thời Phật nhưng xưa giờ vẫn không có nhiều lắm những xáo trộn biến tướng so với thời kỳ của các ngài Atisa, Padmasambhava, Marpa, Naropa, Milarepa…. Thậm chí đến tận hôm nay, có lưu lạc ở đâu, Phật giáo Tây Tạng gần như vẫn giữ lại được hầu hết những nét riêng xưa giờ của ḿnh. Có thể nói đó cũng là sự thành công đáng nể của dân tộc vong quốc này.

        Tâm điểm của bài viết này chỉ quẩn quanh một ư: Dầu có phải tiếp cận với thiên hạ để phát triển và học hỏi, anh phải có một góc riêng để mà quay về. Bởi ăn nhờ ở đậu trên chỗ của người khác th́ không làm sao lâu bền được. Và phương trời riêng tư đó của anh chỉ có thể an toàn vững chắc khi chính anh có được khả năng tự cố. Người c̣n của c̣n, người mất th́ của cũng mất. Dân Inca hôm nay chỉ c̣n lại một di tích vật chất, thế là trang sử vàng của nền văn minh đó chỉ c̣n chờ ngày mục ră. Ở người Tây Tạng th́ t́nh h́nh có khác. Cái họ giữ được không chỉ là những ǵ có thể sờ chạm. Cơi riêng của họ sâu thẳm hơn nhiều. Thậm chí nếu cả cao nguyên Thanh Tạng có  biến mất như một làn khói, th́ dấu vết của người Tây Tạng và Phật giáo xứ này c̣n có biết bao nhiêu là những vùng đất mênh mông để mà   tiếp tục tồn tại. Đời sống, rồi cuộc tu của mỗi cá nhân h́nh như cũng vậy: Anh phải có được một cơi riêng thật sự là máu thịt của ḿnh, để mai này trời có sập xuống, th́ anh vẫn cứ thanh thản tự tại. Trong hoàn cảnh nào, màu áo nào, anh vẫn tiếp tục là một hành giả, một Bồ-tát, một Vô Vị Chân Nhân.

        Chiều nay tôi vào www.flickr.com như một thói quen trong những khi mệt mỏi. Và thật ngẫu nhiên tôi đánh chữ Tibetan Monk để rồi bắt gặp mấy tấm ảnh nh́n qua mà cứ nao ḷng. Một khoảng trời xanh ngắt in đậm đỉnh núi tuyết cao ngất đâu đó thật xa và đôi ba nhà sư Tây Tạng bên con đường ṃn chân núi đang ngồi nh́n về cuối trời như đang chờ đợi mỏi ṃn một ngày về xa xôi của dân tộc. Họ bây giờ mất hết rồi. Một  vùng đất cao nguyên với những hồ nước trong xanh ngàn đời, những thảo nguyên bốn mùa lộng gió, những tu viện ŕ rầm tiếng kinh cầu, những lối ṃn chân núi vàng rực với màu vàng hoa cải, những đoàn du mục lâu rồi không biết ǵ đến chiến chinh,…Không c̣n ǵ nữa. Họ đă im lặng suốt nửa thế kỷ, và mấy ngày qua, niềm im lặng đó đă tràn bờ và cái giá mà họ phải trả sao mà đắt. Máu họ đă chảy, họ đă ngă xuống cho một lối về của quê hương. Quê hương vẫn ngh́n trùng, và họ th́ lại phải đi xa ngay lúc này. Phải rồi, với họ, cái chết chỉ là một cuộc đi.

       Viết tới đây tôi lại nhớ đến một đoạn phim buồn trên Youtube. Một người Tây Tạng bị bắt đứng úp mặt vào bức tường tu viện, và cảnh sát Trung Quốc đă nổ súng. Làn khói súng tan đi, xác người Tây Tạng  ngă vật xuống, và vệt máu trên vách tường nơi anh vừa đứng đă ngẫu nhiên đọng lại một chữ VĂN trong Hán Ngữ, chữ Văn viết theo lối cách điệu và đă được chọn làm biểu tượng cho Olympic Bắc Kinh 2008 !

     Bài viết này như một lời nguyện cầu, một ṿng tay hướng về cao nguyên Thanh Tạng, nơi có hàng triệu trái tim đang có cùng một giấc mơ. Giấc mơ đó, thật lạ, h́nh như cũng là giấc mơ của  bao nhiêu người dân Việt !

Onceland, March/22/08

Toại Khanh


 

 

KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC

Giảng Sư:

Điều Hợp : 

Chánh Văn Bài Kinh (Như Quang soạn)

KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC

(Bản Anh ngữ: The Sickness, Death, and Apparition of Anathapindika, trích từ Some Sayings of the Buddha (M.N. iii. Chap. 143), dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-trungbo/trung143.htm)

(Kinh Trung Bộ, chương 143, Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc)

Một thời, Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana, (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).

Lúc bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc nhờ người đến đảnh lễ chân Đức Thế Tôn và bạch rằng cư sĩ đang lâm trọng bệnh. Sau đó hăy thỉnh ngài Sariputta đến trú xứ của cư sĩ.

Được thỉnh mời, Tôn giả Sariputta im lặng nhận lời. Rồi Tôn giả Sariputta đắp y, cầm y bát, cùng với Tôn giả Ananda là thị giả, đi đến trú xứ của cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi đến liền ngồi lên chỗ đă soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sariputta nói với cư sĩ Cấp Cô Độc.

kham nhẫn; Ta mong rằng Ông có thể chịu đựng. Ta mong rằng khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, sự giảm thiểu được rơ rệt, không có gia tăng.

Cư sĩ Cấp Cô Độc bạch với Tôn giả Sariputta rằng ông không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Sự khổ thống của con gia tăng, không có giảm thiểu; sự gia tăng rơ rệt, không có giảm thiểu. Nỗi đớn đau như bị người đồ tể thiện xảo cắt ngang bụng với một con dao cắt thịt ḅ sắc bén hoặc giống như bị thiêu đốt trên một hố than hừng.

Nghe vậy ngài Sariputta dạy cư sĩ hăy học tập như sau:

- Tôi sẽ không chấp thủ con mắt, và tôi sẽ không có thức y cứ vào con mắt. Tôi sẽ không chấp thủ tai, và tôi sẽ không có thức y cứ vào tai.  Không chấp thủ mũi... y cứ vào mũi... Không chấp thủ lưỡi... y cứ vào lưỡi.... Không chấp thủ thân... y cứ vào thân... Không chấp thủ ư... y cứ vào ư...

- Tôi sẽ không chấp thủ h́nh dạng, và tôi sẽ không có thức y cứ vào h́nh dạng. Không chấp thủ tiếng... y cứ vào tiếng... Không chấp thủ hương... y cứ vào hương... Không chấp thủ vị... y cứ vào vị... Không chấp thủ xúc... y cứ vào xúc... Tôi sẽ không chấp thủ pháp, và tôi sẽ không có thức y cứ vào pháp.

- Tôi sẽ không chấp thủ nhăn thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhăn thức. Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ thức... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ thức... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt thức... Tôi sẽ không chấp thủ thân thức... Tôi sẽ không chấp thủ ư thức, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ư thức".

 - Tôi sẽ không chấp thủ nhăn xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào nhăn xúc. Tôi sẽ không chấp thủ nhĩ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ tỷ xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thiệt xúc... Tôi sẽ không chấp thủ thân xúc. Tôi sẽ không chấp thủ ư xúc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào ư xúc.

- Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhăn xúc sanh khởi, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do nhăn xúc sanh khởi. Tôi sẽ không chấp thủ thọ do nhĩ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do tỷ xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thiệt xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do thân xúc sanh khởi... Tôi sẽ không chấp thủ thọ do ư xúc sanh khởi và tôi sẽ không có thức y cứ vào thọ do ư xúc sanh khởi.

- Tôi sẽ không chấp thủ địa giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào địa giới. Tôi sẽ không chấp thủ thủy giới... Tôi sẽ không chấp thủ hỏa giới... Tôi sẽ không chấp thủ phong giới... Tôi sẽ không chấp thủ hư không giới... Tôi sẽ không chấp thủ thức giới, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới.

- Tôi sẽ không chấp thủ sắc, và tôi sẽ không có thức y cứ vào sắc. Tôi sẽ không chấp thủ thọ... Tôi sẽ không chấp thủ tưởng... Tôi sẽ không chấp thủ hành... Tôi sẽ không chấp thủ thức và tôi sẽ không có thức y cứ vào thức giới.

- Tôi sẽ không chấp thủ Hư không vô biên xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Hư không vô biên xứ. Tôi sẽ không chấp thủ Thức vô biên xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Vô sở hữu xứ... Tôi sẽ không chấp thủ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tôi sẽ không có thức y cứ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

 - Tôi sẽ không chấp thủ thế giới ở đây và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới ở đây. Tôi sẽ không chấp thủ thế giới khác, và tôi sẽ không có thức y cứ vào thế giới khác.

- Tôi sẽ không chấp thủ những ǵ được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ư, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên).

Khi nghe nói vậy, cư sĩ Cấp Cô Độc khóc và chảy nước mắt. Rồi Tôn giả Ananda nói với cư sĩ Cấp Cô Độc:

- Này Cư sĩ, Ông đang gượng lên mà sống, hay ch́m xuống (cơi chết)?

Cư sĩ Cấp Cô Độc cho biết ông đang ch́m xuống cơi chết và bày tỏ sự hoan hỷ v́ chưa từng được nghe một thời thuyết pháp như vậy. Tôn giả Sariputta trả lời rằng thời pháp như vậy chỉ thuyết cho các hàng xuất gia. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc thỉnh cầu ngài hăy thuyết pháp cho hàng cư sĩ áo trắng nghe để họ hiểu được chánh pháp.

Rồi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda sau khi giảng dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc với bài thuyết giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi cư sĩ Cấp Cô Độc, sau khi Tôn giả Sariputta và Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, thân hoại mạng chung, và sau khi thân hoại mạng chung liền sanh lên cơi Tusita (Đâu-suất thiên).

Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc, khi đêm đă gần măn, sau khi chói sáng toàn cảnh Jetavana (Kỳ-đà-Lâm) với dung sắc thù thắng đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Độc nói lên với Thế Tôn bài kệ sau đây:

Rừng Jetavana,

Tốt đẹp phước lành này,

Được chư Thiên, chúng Tăng,

Thường lui tới an trú,

Được Pháp Vương trú tŕ,

Ban hoan hỷ cho ta.

Nghiệp, minh và Chánh pháp,

Giới, tối thượng sanh mạng,

Chính nhờ các pháp trên,

Khiến chúng sanh thanh tịnh,

Không phải do giai cấp,

Không phải do tài sản.

Do vậy bậc Hiền giả,

Thấy rơ mục đích ḿnh,

Suy tư pháp chân chánh,

Được thanh tịnh ở đây.

 

Như Sariputta,

Về tuệ, giới, tịch tịnh,

Bất luận Tỷ-kheo nào,

Đă tới bờ bên kia,

Hăy đạt được tối thắng

Trong những pháp kể trên.

Thiên tử Cấp Cô Độc nói như vậy. Bậc Đạo sư tán đồng. Rồi Thiên tử Cấp Cô Độc suy nghĩ: "Bậc Đạo sư tán đồng ta." Sau khi đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

Rồi Thế Tôn, khi đêm ấy đă măn, gọi các Tỷ-kheo và lặp lại bài kệ của Thiên Tử Cấp Cô Độc. Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

 - Bạch Thế Tôn, có phải vị ấy là Thiên tử Cấp Cô Độc chăng? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Cấp Cô Độc có ḷng tịnh tín bất động đối với Tôn giả Sariputta.

- Lành thay, lành thay, Ananda! Những ǵ có thể thành đạt được bởi suy tư đă được đạt đến, này Ananda. Chính Cấp Cô Độc là vị Thiên tử ấy, không một ai khác.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.


  • Bài Thu Âm Lưu Trữ.

  • Trang Chính Lưu Trữ.

  • Lịch giảng tuần lễ từ 14 đến 19 tháng 04, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 31 tháng 03  đến 05 tháng 04, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 24 đến 29 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 17 đến 22 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 10 đến 15 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 03 đến 08 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 25 tháng 02 đến 01 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 19 đến 02 tháng 02, 2008

  • Chương tŕnh đặc biệt 10 ngày "Đón Mừng Xuân Mậu Tư"

  • Lịch giảng tuần lễ từ 28 tháng 01  đến 02 tháng 02, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 21 đến 26 tháng 01, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 14 đến 19 tháng 01, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 07 đến 12 tháng 01, 2008.

  • Lịch giảng năm 2007

  •  

     


    TÓM LƯỢC .

    Khủng Hoảng Tây Tạng,Trung Quốc nhất quyết không nhượng bộ !Trung Quốc cương quyết không nhượng bộ và nhất quyết dập tắt những cuộc biểu t́nh tại Tây Tạng về dân chủ nhân quyền dù trước sự phản đối kịch liệt của thế giới và cho rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma là kẻ thù thật sự thay v́ là một người lănh đạo tối cao tâm linh của Tây Tạng chỉ mong muốn đàm phán trong hoà b́nh và bất bạo động.

    Ái Nhĩ Lan ủng hộ Tây Tạng.  Mon, 14 Apr 2008 09:36:10 GMTEurope World NewsDublin -Bộ trưởng bộ Môi Trường Ái Nhĩ Lan, John Gormley, giữ vững lập luận về Tây Tạng mà ông đă phát biểu tại một phiên họp khiến ông đại sứ Trung  Quốc tức giận bỏ đi, các nguồn tin cho biết hôm thứ Hai.

    Ấn Độ phúc đáp Trung cộng: Không thể cấm dân Tây Tạng biểu t́nh. NEW DELHI • 4/13/2008 - Ấn Độ hôm qua thứ Bảy 12 tháng 04, 2008, đă phúc đáp cho Trung cộng rằng không thể cấm đoán những cuộc biểu t́nh của người dân tị nạn Tây Tạng nhưng hứa sẽ bảo vệ cho cuộc rước đuốc Olympic được hoàn tất chặng đường Ấn Độ của nó, các nguồn truyền thông Ấn Độ tường tŕnh như trên.

    Cư dân Tây Tạng Úc Châu chuẩn bị kế hoạch biểu t́nh lớn phản đối rước đuốc.Friday 11th April, 2008. Canberra- Úc Châu- Một kế hoạch biểu t́nh lớn lao ,đang được người Tây Tạng và các nhà ủng hộ chuẩn bị, để sẵn sàng cho cuộc rước đuốc Olympic lộ tŕnh Úc châu tại Canberra vào ngày 24 tháng 04, nhằm mục đích thúc đẩy Trung cộng thương lượng với Đức Đạt Lai Lạt Ma,

    Anh Quốc: Thủ Tướng Gordon Brown sẽ không tham dự lễ khai mạc Olympic.Thứ Năm 10 tháng 04, 2008Anh Quốc - Thủ Tướng Anh Quốc, Gordon Brown, sẽ không tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008  vào tháng 08 tới, tuy nhiên, ông sẽ tham dự lễ bế mạc.

    Ấn Độ: Thêm một người từ chối cầm đuốc. NEW DELHI: Một cựu sĩ quan nữ cảnh sát bậc nhất Ấn Độ ngày hôm qua  nói rằng bà đă rút tên ra khỏi danh sách của những người cầm đuốc trong lộ tŕnh Ấn Độ sẽ được tổ chức tại New Delhi.</