THỨ BẢY 07 -06- 2008  PL 2551 -    

LỚP  DIỆU PHÁP , Paltalk

 

TIN TỨC PHẬT GIÁO

Tùy Bút by Toại Khanh

CHO MỘT NGƯỜI QUẢN TRANG

            Tôi về thăm Thalwil một ngày nhiều gió. Khu nghĩa trang trước nhà người Phật tử đẹp như một công viên. Tôi đă ngồi mấy tiếng đồng hồ ở đó để một ḿnh trải nghiệm một cảm giác chưa từng có trong đời ḿnh…

            Từ mấy năm qua trong đời ḿnh, tôi đă có nhiều dịp để biết thêm những nghĩa trang đẹp đến mức nh́n qua mà cứ nghe ngậm ngùi cho những  không gian vẫn dành cho người c̣n sống. Những nghĩa trang đầy hoa, với những con đường thiệt nhiều những cội cổ thụ cao vút, tán lá thâm u suốt ngày lộng gió như chứa hết những lời th́ thầm của bao kẻ đă nằm xuống mà chưa đành ḷng ĺa bỏ chút h́nh hài c̣n gửi lại đây.

            Tôi đă ngồi môt ḿnh trên chiếc băng đá cạnh một bia mộ bằng cẩm thạch trắng muốt chạm h́nh thiên thần tuyệt đẹp như vừa lấy ra từ một viện bảo tàng nào đó. Trong làn gió trưa mang theo một tí mùi rong rêu từ bức tường đá nghĩa trang, tôi như ch́m sâu vào cơn đại định của những trầm tưởng thật lạ…

             Mươi năm trước một h́nh hài đỏ hỏn chào đời ở đâu đó trên trái đất này với bao nhiêu là những lạ lẩm, nghi ngờ. Thằng bé ngày đó đă khóc v́ sợ hăi, v́ sự bất kham của cơ thể trước một môi trường mới, những điều kiện sống chưa quen được. Nó đúng là một người khách lạ trên tay người mà nó sẽ gọi là mẹ. Rồi th́ nó lớn lên để một ngày biết yêu những người dưng, về sống ở những miền đất lạ, càng xa lạ càng khoái….Để một đêm khuya hay chiều mưa nào đó trên xứ người, nó chợt nhận ra một điều bao năm qua chính ḿnh chưa từng ngờ tới, nghĩ đến: Th́ ra nó vẫn một đời cô đơn. Nó, hay bao người khác, đều có chung một định phận hắt hiu kiểu đó. Ṿng tay mẹ, rồi ṿng tay người t́nh, trời ạ, h́nh như vẫn chỉ là những ṿng rào ôm lấy một nghĩa trang quạnh hiu, từng luống hoa bao quanh một  ngôi mộ đá lạnh lẽo. Chẵng ai hiểu ai, dù chỉ là một phút, nói chi là tri kỷ một đời.

         Tôi ngẫu nhiên đưa mắt nh́n ra con đường lớn cạnh nghĩa trang. Một bà cụ ăn vận sang trọng đang dắt con chó nhỏ đi ngang. Một h́nh ảnh làm tôi nao ḷng. Hom hem, cằn cỗi, mệt mỏi và cô độc, bà cụ trông như một nghệ nhân điêu khắc đang hoàn tất những đường nét sau cùng cho bức tượng nhân sinh. Bà vẫn đang một bóng trên quăng đường c̣n lại của đời ḿnh. Sau những hẹn ḥ, gặp gỡ rồi th́ ǵ cũng bỏ lại hết sau lưng. Bao nhiêu thân quen, rồi cả yêu đương ǵ đó, chi cũng là những giây phút đến rồi đi. Chẵng hiểu sao, tôi cứ nh́n theo dáng bà cụ rồi tự đoan chắc với ḿnh rằng măi đến tận giờ, bà vẫn giống hệt như hồi c̣n nằm ngo ngoe trên tay mẹ ở chỗ không biết ḿnh là ai và yêu ghét trên đời là ǵ. Có sao sống vậy, được ǵ cầm nấy. Và quan hệ giữa bà với bao người chung quanh chỉ là mối liên lạc hữu cơ rồi cả vô cơ ǵ ấy giữa những cỏ rêu hoa lá trong một nghĩa trang đời để làm nên một chốn đi về của những vong hồn xiêu lạc.

         Ngẩm lại bao phận người, tôi cứ nhớ đến tục lệ gơ mộ t́m chồng của bộ lạc Kabati bên Nam Phi. Đó là một cổ tục hơi buồn, nhưng cũng thiệt đẹp và nhiều ư nghĩa. Những goá phụ Kabati khi không cam tâm cô đơn suốt đời thường dựng lều bên mộ chồng để đêm đêm lấy gậy gơ vào đó cho đàn ông qua đường nghe thấy để họ biết đường mà t́m tới xem mặt. Ưng bụng th́  lấy nhau, nếu chẵng ai ghé vào th́ người goá phụ cứ ngồi đó mà gơ mộ chồng để tiếp tục chờ đợi. Tôi đọc thấy tục lệ kỳ lạ này của Phi Châu mà cứ nhớ lại chuyện người thiếu phụ quạt mồ mà Trang Tử ngày xưa đă gặp. Nhưng ngẩm kỹ th́ đâu phải chỉ có goá phụ mới quạt mồ hay gơ mộ. Ai trên đời lại chẵng có lúc thèm nghe một tiếng ḷng. Rồi cả khi nhận được lời đáp, mỗi người vẫn một cơi riêng, chẵng qua chắp vá cảm xúc mà sống cho qua một kiếp người thiệt nhiều những khoảng trống không sao lấp nổi. Ai cũng cô đơn v́ một đời không tri kỷ. Nhưng thử hỏi chính ḿnh c̣n chưa hiểu nổi bản thân th́ làm sao có thể giao phó chuyện đó cho ai khác chứ !

         Tôi bỗng thấm thía riêng ḿnh với một câu chữ tiếng Anh. Tu học là một hành tŕnh t́m đường (Looking for the way). Một cuộc lên đường để t́m ra một lối đi. Chữ WAY đó hay lắm. Xé nhỏ ra từng chữ cái, W-A-Y, nó c̣n là một hành tŕnh tự vấn. WHO ARE YOU (anh là ai giữa muôn trùng thiên hạ) và  WHERE ARE YOU (anh đang ở đâu trong trời đất bao la này). Nh́n sang mấy chiếc thập giá trên những bia mộ trước mặt, tôi bỗng nhớ đến một câu nói hiếm hoi của Krishnamurti về Công Giáo cho những người đang là hay chưa là một tín hữu Ki-tô: Hăy thánh hoá chiếc thập giá bằng cách hiểu rằng h́nh ảnh thập tự là minh hoạ cho lư tưởng xoá bỏ một cái  TÔI. Hăy viết xuống một chữ I (Tôi) trong tiếng Anh rồi gạch ngang để xoá bỏ nó, ta sẽ có ngay một chiếc thập giá. Đó là một chiếc thập giá cần có cho thế giới hôm nay bất kể châu lục nào, và cho toàn thể nhân loại bất kể anh thuộc tín ngưỡng nào hay không có tín ngưỡng. Chiếc thập giá đó sẽ đem người ta về gần với nhau, để hiểu ḿnh là ai, đang ở đâu và phải làm ǵ. H́nh như là vậy !

                Thalwil ! Tôi bỗng muốn gọi em là người gát cổng nghĩa trang cho tôi làm gă du sĩ ghé về nghỉ chân một ngày. Và dầu chuyện tử sinh ở đâu cũng có, tôi vẫn mong những khi quên mất ḿnh là ai và phải làm ǵ th́ vẫn c̣n đó một nghĩa trang thơ mộng để có thể quay về sống hết ḿnh giữa bao người chết. Xin cảm ơn em, người quản trang Thalwil !

 Moeriken, mưa tháng Sáu 2008

 TOẠI KHANH


Thơ, Thiền

Những đường bay và những chân trời

                                                  

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Hôm tết vừa rồi, anh Đỗ Lai Thúy từ Hà Nội vào, ghé thăm Huyền Không Sơn Thượng và có tặng tôi một tập sách. Nội dung, anh đă phác thảo chân dung học thuật của 17 nhà nghiên cứu. Công tŕnh thật là công phu, khoa học, nhiều thao tác tư duy, nhiều tầng bậc chiêm nghiệm... hàm tàng một sở học nghiêm túc, đa diện và phong phú. Cái đặc thù ở đây là anh đă đào xới những vỉa quặng ngầm, chưa có hoặc ít có người khám phá: cái mặt tĩnh của tư duy, cái lẩn khuất của nội tâm triết học... mà chúng th́ thường lặn ch́m, vô tăm, khiêm hư trước mọi biến động của thời cuộc. Ít khi mà đọc được một quyển sách hay. Tôi đọc giữa hai hàng chữ và cảm nhận được rằng: Có những con người đă có những chân trời của tự do, của sáng tạọ, của khát vọng sự thật và họ yêu mến cái đẹp đến vô bờ! Tuy thế, tôi lại thích cái tựa sách hơn: “Chân trời có người bay”. Cái tựa này, anh Thúy lại lấy ư từ câu thơ cô đơn, hiu hắt, thấm đẫm chất nhân văn của nhà thơ Trần Dần:

-“Tôi khóc những chân trời không có người bay

Lại khóc những người bay không có chân trời”

Và quả thật, đă có thời, có những chân trời không có người bay! Và quả thật, đă có thời, có những người bay không có chân trời!

Nghĩ về thơ, nghĩ về thiền - hốt nhiên, tôi cũng nghĩ đến những đường bay như nhà thơ Trần Dần, như nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy- nhưng là những đường bay không biết có chân trời nào hay không?

I.- Đường bay của thơ:

Thơ Việt Nam kể từ thời Lư Trần, nhiều học giả đă xác định là đỉnh cao của văn học hoặc là ngọn đuốc sáng mở đường cho thời đại tự chủ của dân tộc. Tự bản chất, nó là ḍng hợp lưu: minh triết đông phương và bản sắc văn hóa Việt. Và suốt trong ḍng chảy ấy, trải qua hơn ngàn năm, Phật Khổng Lăo và t́nh tự dân tộc đă hỗn dung và quyện lẫn trong nhau. Và thế là có cái đúng, có cái sai; có cái b́nh dân hóa, có cái tan ḥa với tín ngưỡng dân gian. Thơ ca vào các thời kỳ này, tuy chỉ lập ngôn dị giản như “Văn dĩ tải đạo” hoặc “Thi ngôn kỳ chí”... nhưng chúng đă hướng đến những giá trị phổ quát, đáp ứng được những khát vọng muôn thuở của tâm hồn và cảm xúc thăng hoa của nhiều thế hệ. Chúng ta không cần dài ḍng nói đến những ích dụng đó như thế nào, v́ rơ ràng những nền tảng tư tưởng từ h́nh nhi thượng đến h́nh nhi hạ của Phật Khổng Lăo đă được chiết trung, tinh lọc, biến cải cho phù hợp với bản sắc văn hóa Việt. Và như vậy chứng tỏ ǵ? Chứng tỏ thơ vào các thời kỳ này có định hướng. Có định hướng tất có đường bay. Các giá trị tại thế, nhân văn, mỹ học... theo đó, chẳng có ǵ phải bàn luận nhiều, nhất là thi ca.

Măi cho đến khi tiếp thu nền học thuật của phương Tây th́ diện mạo thơ Việt mới bắt đầu đổi khác. Các trường phái lăng mạn, ấn tượng, tượng trưng, siêu thực... như những ngọn gió lạ thổi qua b́nh nguyên yên ả của tâm linh thơ Việt. Cổ súy cho phong trào thơ mới là Phan Khôi với bài thơ “T́nh già”, được coi là sớm nhất. Sau đó, các thanh niên thi sĩ tân học, với sinh lực trẻ trung lần lượt xung trận như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Vũ Đ́nh Liên, Trương Tửu... đă tŕnh diện thi đàn những bài thơ đi ra ngoài truyền thống, thoát ly vóc dáng cổ điển. V́ mới thể nghiệm nên không tránh khỏi “Tây quá” hoặc hoa lẫn với rác nhưng lại thích hợp với xu thế tâm hồn lớp trẻ hănh tiến của thời đại.

Đi theo phong trào cải cách, canh tân này có thể lên đến con số 80 tác giả, trong đó, số nữ lưu anh kiệt như Ngân Giang, Anh Thơ, Mộng Tuyết, Hằng Phương... có chừng trên dưới 10 người. [1]

Họ kết án thơ cũ với vần, niêm, luật g̣ bó, chật chội, không thể đáp ứng nổi những tư duy, tâm t́nh, cảm xúc đa phức trước trào lưu mới. Một phần nào đó họ có lư. Họ có lư nên họ đă thành công. Tuy nhiên, nếu hiện đai chủ nghĩa quá, nghĩa là tượng trưng và siêu thực quá như nhóm “Xuân thu nhă tập”của Nguyễn Xuân Sanh... th́ thất bại. Phá bỏ vần luật, niêm đối để cho thơ chắp cánh tự do, phiêu bồng bay, thênh thang bay trong không gian nghệ thuật với h́nh tượng, tu từ mới mẻ th́ thơ sẽ tăng trọng cảm xúc, lung linh nhiều vẻ đẹp, ẩn mật, đa tầng và đa nghĩa. Nhưng chủ trương phá bỏ ư thức, phá bỏ cả quy tắc ngữ pháp, phá bỏ những thông tin thường ngữ, thường nghĩa... th́ chỉ c̣n cái vỏ âm thanh khô rỗng, ú ớ, bập bẹ, phều phào... chẳng rơ trao gởi thông tin ǵ! Sự mă hóa ngôn ngữ ấy như là ẩn số bí hiểm, mà đôi khi chính tác giả cũng quên, không biết ḿnh nói ǵ! May ra chỉ có Thượng đế mới hiểu.[1]

Những thi gia kiện tướng như  Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đ́nh Hưng, Hoàng Hưng... măi cho đến tận bây giờ, công phu tế bào năo của họ vẫn chưa đến được với tâm hồn người đọc, nếu không muốn nói là tạo nên một không gian dị ứng . Như vậy, loại thơ hiện đại chủ nghĩa này có chân trời nào để bay không? Hay là không có chân trời mà vẫn bay? Và đường bay này cũng đă được mă hóa trong cơn mê man bội thực hoặc èo uột, thiếu ăn của các con chữ ?  Cho nên, đă rất nhiều người phê phán loại thơ này một cách gay gắt, không khoan nhượng tí nào. Ví như có người đă bực bội hạ bút:”Đó chỉ là các chuỗi kết hợp từ gần như vô thức, thể hiện sự lao động thiếu nghiêm túc của người cầm bút. Chẳng những nó là kết quả của sự nghèo nàn về vốn từ ngữ dân tộc ở một số tác giả mà c̣n là những dấu hiệu của một bệnh trạng tư duy. Đọc những câu thơ ấy, người đọc chỉ thấy đó là một mớ hổ lốn ngôn từ không có giá trị biểu đạt tư tưởng- tức là sự nhận biết và khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng thuộc thế giới xung quanh. Bản chất của hiện tượng thơ này hoàn toàn xa lạ với sáng tạo nghệ thuật đích thực. Nó chỉ tác hại và làm vẩn đục ngôn ngữ, làm méo mó tư duy của người Việt hiện đại mà thôi.[1]

Không biết nói như thế có hơi quá hay không? Có hơi quy phạm, hàn lâm hoặc mẫu mực quá hay không? Ta hăy chờ xem!

Xem tiếp


Ván cờ sinh tử

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Lời vào truyện.

Có bao giờ chúng ta nghe từ miệng một vị thiền sư dạy Đạo cho môn sinh như thế này chưa:

“- Này chư tử! Thuở c̣n trai trẻ, làm kiếm khách áo trắng, ta ít khi rút kiếm ra khỏi bao, rút ra là phải chém. Hàng tục sĩ gọi ta là Kiếm vương.

Này chư tử! Thuở c̣n trai trẻ, làm giang hồ kỳ thủ, ta ít khi chơi cờ. Khi đă chơi, một quân cờ đặt xuống - trọng lượng một quả núi - sẽ kết thành định mệnh. Định mệnh không lập lại hai lần. Ḍng sông đă chảy, vậy th́ những quân cờ kế tục đi đến chung quyết. Không do dự. Không ngập ngừng. Người đời gọi ta là Kỳ vương.

Xem tiếp


MỘT NGÀY TỐT ĐẸP THEO PHẬT GIÁO

(Edmonton Journal, số ra ngày 24 tháng năm, 2008 – A Good Day According to Budhism – Như Quang lược dịch)

Khi chúng ta chúc một người nào “Hăy có một ngày tốt đẹp,” chúng ta thực sự muốn chúc ǵ? Chúng ta có biết được điều ǵ làm cho ngày của một người tốt đẹp?

Ư nghĩa của một ngày tốt đẹp không cố định. Đối với một thương gia, một ngày tốt đẹp có nghĩa là nhiều thương vụ, giá thị trường chứng khoáng lên cao. Đối với một người làm công, một ngày tốt đẹp có nghĩa là ít bận rộn, ít căng thẳng, hoặc được tăng lương. Đối với một học sinh, một ngày tốt đẹp có nghĩa là bài thi được điểm cao, hiểu thấu đáo một môn học khó, hay niên học đă hoàn tất.

Đối với một bệnh nhân, một ngày tốt đẹp có nghĩa là họ có thể rời giường bệnh để ra đón ánh nắng, hít thở không khí trong lành, nh́n trăm hoa đua nở nhân khi thuốc giảm đau giúp họ không phải chịu đựng sự đau đớn. Đối với một vị cao niên, một ngày tốt đẹp có nghĩa là các khớp xương không bị đau nhức, ngủ ngon, hoặc có những cuộc viếng thăm bất ngờ của con cái, thân nhân, hay bè bạn.

Ư nghĩa của một ngày tốt đẹp tùy thuộc vào sự mong mỏi của từng cá nhân. Trong Phật giáo, ư nghĩa của một ngày tốt đẹp rất là đặc biệt. Đức Phật dạy chúng ta rằng ai trong ngày thân làm điều lành, nghĩ việc lành, nói điều lành th́ ngườiI ấy có một ngày tốt. Một ngày tốt đẹp theo Phật giáo không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ấy mà c̣n ảnh hưởng đến cả những người chung quanh. Ngày tốt đẹp của Phật giáo có thể kiểm soát được v́ chúng ta có thể biết trước ngày của chúng ta tốt hay xấu tùy theo hành động của chúng ta. Chúng ta có thể làm cho ngày của chúng ta tốt đẹp và biết rơ điều ấy. Một Phật tử truyền thống giữ ǵn ngũ giới sẽ cố ư tránh xa sự sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu. Qua việc thọ tŕ ngũ giới, người ấy đem sự an lành đến cho những người chung quanh. Những người chung quanh họ sẽ cảm thấy an lạc, dễ chịu. Họ không phải lo lắng bị sát hại, mất mát tài sản, bị phản bội bởi người phối ngẫu hay người yêu hoặc lo sợ bị thương vong bởi kẻ say sưa.

Bởi người Phật tử nói điều lành, những người chung quanh họ không bị tổn thương hoặc bị xúc phạm và có thể t́m được những lời khuyên hữu ích nhờ chánh ngữ của Phật tử ấy. Bởi người Phật tử nghĩ điều lành, họ không âm mưu hăm hại, gây đau đớn cho kẻ khác và mở ḷng ra để hiểu những khó khăn của người khác, cảm thông với những hành vi của kẻ khác và không sân hận đối với kẻ khác. Tất cả những điều ấy khiến người Phật tử là một người vui vẻ, đáng gần gủi, một bờ vai dựa để khóc, hay nơi nương tựa cho một trái tim tan vỡ. Một người hành theo ngày tốt đẹp của Đức Phật sẽ được mạnh khoẻ, an lạc và những điều này có thể chia sẻ với thân nhân. Điều Phật dạy này được t́m thấy trong Tăng Chi Bộ Kinh, Anguttara Nikaya I, câu số 150:

 Vầng sao lành, điều lành

Rạng đông lành, dậy lành

Sát-na lành, thời lành

Cúng dường bậc Phạm hạnh

Thân nghiệp chánh, lời chánh

Ư nghiệp chánh, nguyện chánh

Làm các điều chơn chánh

Th́ được lợi an lạc

Lớn mạnh trong Phật giáo

Hăy không bệnh an lạc

Cùng tất cả bà con.

Trong ư nghĩa này, một ngày tốt đẹp là kết quả của hành vi tốt đẹp của một cá nhân. Nó không được trao tặng bởi một ai hay bởi một thần lực nào. Trong khi một ngày tốt đẹp của thế tục chỉ có ích cho một người th́ ngày tốt đẹp của Phật giáo có thể chia đến thân bằng quyến thuộc cùng những người chung quanh. Nếu có nhiều người thực hành ngày tốt đẹp theo Phật giáo th́ thế giới này sẽ là nơi an vui để sống và mỗi ngày đều là một ngày tốt đẹp.

Cầu chúc mọi người một ngày tốt đẹp theo Phật giáo.

Như Quang


HOA SEN GIỮA TRẦN GIAN

Kính Mừng Vesak 2552- 2008

Chơn Hữu

Mỗi mùa hoa sen nở, khắp nơi trong hư không như phảng phất mùi hương dịu dàng thanh khiết. Trong không khí tuyệt diệu đó, những Phật giáo đồ khắp nơi trên trái đất hân hoan đón chào đại lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản sanh. Theo tinh thần Kinh điển Phật giáo Nguyên thuỷ, rằm tháng tư, ngoài ư nghĩa Đức Phật đản sanh, c̣n mang hai ư nghĩa trọng đại khác: ngày Đức Phật thành đạo và ngày Đức Phật Đại bát Niết bàn. (Xem tiếp)

 


 

Khóm Mặc Lan

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Sáng nay, thức dậy lúc sao mai chếch xế nóc nhà, ông giáo già lụi cụi nấu nước sôi, chế trà rồi độc ẩm, thưởng trà cùng với sương sớm. Ông ngồi xếp bằng thế hoa sen, thẳng lưng, bưng chung trà cả hai tay, xoay xoay rồi nhắp từng ngụm nhỏ. Chậm răi, cẩn trọng... ông uống trà, đồng thời, ông uống luôn cái vị, cái khí, cái không gian thanh b́nh, tĩnh lặng của miền quê cố đô yên ả... Mùa đông mà trời lạnh nhẹ, khá khô ráo, cũng lạ. Thời tiết đất Thần Kinh mấy năm nay thay đổi khá thú vị; cái mưa dầm thối đất, sụt sùi, sũng nước, không biết nó đă di trú nơi nào, hay đă theo chân mù phương những người xa Huế? Cũng nhớ...

Ông đă qua b́nh trà thứ hai. Cái trà Phổ Nhĩ Vân Nam này, vị không đậm mà ngọt hậu. Cũng rứa thôi, cũng như Thiết quan âm, Ô long, chẳng ngon ǵ! Ông đă quen với trà tuyết, lại thích chè xanh cây nhà lá vườn hơn. Vị nể ông bạn lai Tàu nên mua uống thử. Trà nào mà không thanh nhiệt, lợi tiểu, sáng mắt...! Bày đặt quảng cáo, sinh ra dị ứng tất thảy! Nhưng khóm mặc lan được mang về từ đó - học tṛ ông biếu tặng - hoa đang nẩy chồi, là một giống lạ; nó không có hai đường chỉ trắng trên mép lá, trông khác với mặc lan cổ xưa Huế; có lẽ ta nên dành để dâng thầy thưởng xuân... Ông cúi đầu xuống, ḷng rưng rưng...Xem tiếp

 


Nỗi ḷng của biển

Câu chuyện sau đây kể về người phụ nữ mang tên một loài hoa sang trọng và kiều diễm, nàng tên là Cát Lan. Tuy được sinh ra trong một gia tộc luôn được xă hội trân quư và ngưỡng mộ, vậy mà nàng thường đối xử với mọi người quanh ḿnh rất hoà đồng, giản dị chứ không như những kẻ quyền quư khác. Từ ngàn xưa, con người đă phân chia ra những giai cấp khác nhau, để phân biệt sự vinh quang cũng như sự hạ liệt của từng ḍng giống. Trong các giai cấp, Bà-la-môn là giai cấp cao quư nhất trong bốn giai cấp có mặt ở cuộc đời. Truyền thống ấy được ǵn giữ, chấp nhận như những chân lư thiêng liêng do tổ tiên loài người để lại.

Xem tiếp


 

 

 

GÁNH NẶNG

Giảng  sư: ĐĐ Pháp Tân

Điều Hợp : TT Giác Đẳng

GÁNH NẶNG

(Chánh Kinh: Như Quang  biên sọan)

(Bản Anh ngữ: The Burden, trích từ Some Sayings of the Buddha (S.N. iii. 25) dịch giả Woodward, F.L. Bản Việt ngữ của Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Nguồn:

http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22b.htm)

Tập III Thiên Uẩn, Chương I, Tương Ưng Uẩn (b) III Phẩm Gánh Nặng, I. Gánh Nặng (Tạp, 2.3, Trọng Đởm. Đại 2,19a) (Tăng 25.4, Đại 2,631c) (S.iii,25)

-2) Ở Sàvatthi...

3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về gánh nặng, mang gánh nặng lên, đặt gánh nặng xuống. Hăy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ giảng.

4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là gánh nặng.

5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là kẻ mang gánh nặng? Người là câu trả lời. Vị Tôn giả này có tên như thế này, ḍng họ như thế này. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ mang gánh nặng!

6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là mang gánh nặng lên? Chính là tham ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, đi t́m hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là mang gánh nặng lên.

7) Này các Tỷ-kheo, thế nào là đặt gánh nặng xuống? Đây là sự ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn, sự từ bỏ, sự xả ly, sự giải thoát, sự không chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đặt gánh nặng xuống.

8) Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người;
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
C̣n đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ,
Đặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không c̣n đói và khát,
Được giải thoát tịnh lạc!


  • Cách Cài Đặt Paltalk

  • Bài Thu Âm Lưu Trữ.

  • Trang Chính Lưu Trữ.

  • Lịch giảng tuần lễ từ 02 đến 07tháng 06, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 26 đến 31 tháng 05, 2008

  • Đề  Án  Mùa Vesak 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 12 đến 17 tháng 05, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 05 đến 10 tháng 05, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 28 tháng 04 đến 03 tháng 05, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 21 đến 26 tháng 04, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 14 đến 19 tháng 04, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 31 tháng 03  đến 05 tháng 04, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 24 đến 29 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 17 đến 22 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 10 đến 15 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 03 đến 08 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 25 tháng 02 đến 01 tháng 03, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 19 đến 02 tháng 02, 2008

  • Chương tŕnh đặc biệt 10 ngày "Đón Mừng Xuân Mậu Tư"

  • Lịch giảng tuần lễ từ 28 tháng 01  đến 02 tháng 02, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 21 đến 26 tháng 01, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 14 đến 19 tháng 01, 2008

  • Lịch giảng tuần lễ từ 07 đến 12 tháng 01, 2008.

  • Lịch giảng năm 2007

  •  

     


    Thư Kêu Gọi Góp Phần Chỉnh Trang Chánh Điện Chùa Pháp Luân

    Chùa Pháp Luân vốn là một ngôi nhà thờ tin lành được tạo măi biến thành cảnh chùa Phật giáo. Nhiều năm qua tất cả những nỗ lực chỉnh trang đều nhằm vào việc xây dựng Tăng xá, thư viện, thiền pḥng. Trong nguyện vọng chung của toàn thể Phật tử là tái tạo ngôi chánh điện mang đường nét Phương Đông. Hiện có nhiều nhân duyên cho phép khởi sự công tŕnh nầy.

    Đề án chỉnh trang bao gồm việc xây dựng một tiền đường chánh điện và cổng tam quan. Kinh phí tổng cộng là 250,000.00 (hai trăm năm mươi ngàn Mỹ Kim). Dự trù hoàn tất trong năm 2008. Đây là phần sau cùng hoàn tất việc xây cất tổng thể ngôi chùa. Sau khi hoàn tất, ngôi chùa sẽ có một mặt tiền khang trang, hợp nghệ thuật truyền thống của Phật giáo.

    Mong nhận được sự phát tâm hỗ trợ của quí đồng hương, đồng bào Phật tử xa gần. Đề án xây cất nầy sẽ là một thành tựu đáng quí trên cả hai phương diện đạo giáo và văn hoá. Nguyện cầu cho tất cả chúng ta luôn dơng mănh trong chí nguyện phụng sự đạo và đời.

    Trụ Tŕ

    Tỳ Kheo Giáo Đẳng

    _(())_

    Tiệc gây quỹ
    Xây cất chánh điện và cổng Tam Quan

    Chùa Pháp Luân
    Ngày Chủ Nhật 13 tháng 7 năm 2008
    lúc 4 giờ chiều tại
    Nhà hàng Kim Sơn
    10603 Bellaire Blvd., Houston, Texas 77072
    Tel: 281-598-1777

    Chương tŕnh:

    - Sen thiêng tịnh thổ
    - Pháp thoại: Đạo Phật và những ngôi chùa lịch sử
    - văn nghệ
    - Cơm chay.

    _(())_

     


    TÓM LƯỢC .

    Tượng Phật Nằm Lớn Nhất Campuchia đă được sửa chữa hoàn tất !Xinhua, June 4, 2008. PHNOM PENH, Cambodia --Cam Bốt: Tượng Phật trong tư thế nằm lớn nhất tại Cam Bốt thuôc chùa Baphuo, 1 ngôi chuà trong khu kỳ quan thế giới Angkor tĩnh Xiêm Riệp đă được tu chĩnh hoàn tất và triễn lăm công cộng, theo nhật báo Mekong vào ngày thứ tư 4 tháng 6 năm 2008.