|
Cảm Niệm Phật Đản by Hạt Cát Phật Lịch 2551 Hôm nay, ngày trăng tròn tháng Tư Âm Lịch, là tháng Vesak trong niên lịch Ấn Độ. Ngày trăng tròn này của 2631 năm về trước, một con người vĩ đại đã xuất hiện trên thế gian, con người vĩ đại này, khi xuất hiện ở đời, là cả vũ trụ rung chuyển, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, là bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Sự xuất hiện của người đó là một điều khó gặp được trong cuộc đời một con người, không phải chỉ một kiếp sống mà có thể là trong nhiều nhiều kiếp sống của nhân loại, của trái đất. Khó gặp được, bởi vì, con người vĩ đại đó, đã giáng phàm từ cõi trời Đâu Suất, một cõi mà đời sống ở đó không có phiền muộn khổ đau, không cần phải lo lắng điều chi, không cần phải làm lụng vất vả, muốn ăn ngon lập tức có món ăn ngon hiện ra trước mắt, muốn mặc đẹp, lập tức có y phục đẹp hiện ra trên cơ thể, chúng sinh cõi đó thọ mạng kéo dài đến hàng muôn triệu năm Một chúng sinh ở trên cõi trời này, nếu tham đắm hưởng thụ lạc thú thì không bao giờ nghĩ đến việc rời bỏ cõi này để tái sanh vào một cõi khác nhiều khổ đau hơn trừ trường hợp bất đắc dĩ khi hết phước phải chết và tái sinh theo nghiệp lực dẫn dắt. Nhưng riêng con người vĩ đại mà chúng ta đã xưng tán, đã tôn sùng là Đức Thế Tôn, ở trên cõi trời Đâu Suất, là một vị Bồ Tát với công hạnh Ba La Mật tu tập trải qua 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp, Ngài vẫn có thể tiếp tục tu tập và đắc thành quả vị giải thoát A La Hán mà không cần phải tái sanh vào một cõi nào khác hơn, nhưng Ngài đã không làm như vậy, mà với lời phát nguyện sẽ trở thành một vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác để phổ độ chúng sinh, Ngài ở cung trời Đâu Suất với mục đích là chờ đợi đúng thời đúng lúc để được thỉnh cầu giáng phàm tu tập kiếp chót ở cõi nhân loại để đạt thành quả vị giải thoát của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ôi, quả vị của một Bậc Chánh Đẳng Giác, từ khi là người lái thuyền Màtudàra trở thành 1 vị Bồ-tát, phát nguyện trong tâm trọn 7 A-tăng-kỳ rồi phát nguyện bằng lời, tu tập thêm 9 A-tăng-kỳ cho tới khi được Đức Phật Nhiên Đăng (Dipamkàra) thọ ký và tiên tri cho biết rằng còn 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp quả địa cầu nữa sẽ thành một vị Chánh Đẳng Chánh Giác tên Gotama thì trong nhiều nhiều nhiều, nhiều vô số kiếp để cho tròn đủ 30 pháp Ba La Mật, đã phải bố thí cả thân mạng, vợ, con, vương quốc, bộ phận của cơ thể v.v... từ một con người bình thường, với ý chí sắt đá dũng mãnh, phải trải qua thời gian tu tập trước sau 20 A Tăng Kỳ và 100 ngàn đại kiếp cho đến khi từ cung trời Đâu Suất giáng phàm kiếp chót để hoàn thành lời thệ nguyện, biết bao là khó khăn, biết bao là gian khổ, không bút mực nào tả xiết, không giấy tờ nào có thể chuyển tải cho hết được. Chúng ta có mặt trên thế gian trong kiếp sống hiện tại này, trước sau dài ngắn chỉ chừng 100 năm, so với thời gian phải tu tập của một Bậc Chánh Đẳng Giác tưởng chừng như vô tận ấy, 100 năm của chúng ta, ví như một cái chớp mắt, không cách gì chúng ta có thể mường tượng được. Từ trong vô thỉ luân hồi, từ trong muôn một sát na của kiếp sống trùng trùng duyên khởi, nổi trôi bao đợt trầm luân, như con rùa mù trôi trên biển, 100 năm mới nổi lên một lần mà vớ được bọng cây, trong cái chớp mắt của vô tận thời gian ấy, ta lại tìm thấy, bắt gặp, ta nghe nói về một Đức Phật có thật trong lịch sử, Đức Phật Thích Ca, một con người vĩ đại, một bậc đạo sư vô thượng, từ cõi trời Đâu Suất kia, vào năm thứ 2631 về trước của thế gian, đã thuận theo thỉnh cầu của chư Thiên 10,000 thế giới mà giáng hạ phàm trần hoàn thành chí nguyện để cứu độ quần sanh. Ôi! một con người như Ngài, đâu phải dễ làm được, đâu phải ai cũng làm được, trong kiếp trái đất này trước Ngài có 5 vị và sau Ngài thì chỉ có một vị mà thôi. Trong muôn một của cái khó đó, chúng ta đã được gặp, tuy là không ở ngay vào thời kỳ Đức Phật còn tại thế, nhưng chúng ta vẫn còn may mắn rất nhiều. Gặp Phật ra đời, nghe được chánh pháp còn khó hơn con rùa mù 100 năm mới nổi lên một lần trên mặt biển mà vớ được bọng cây, như vậy giáo pháp mà Ngài đã để lại cho chúng ta chẳng phải là điều vô giá hay sao? Ôi, nhắm mắt lại để tưởng tượng ra một chuỗi thời gian dài vô tận, như một đêm đen minh minh mông mông thăm thẳm của luân hồi ấy, ta có nên rùng mình ghê sợ, nếu rủi như, ở một kiếp sống nào đó trong vị lai, ta lỡ sinh ra làm loài thú, lỡ sinh ra làm người không gặp được chánh pháp, không biết tu tập thì cái đêm đen luân hồi ấy sẽ còn dai dẳng biết đến bao giờ nữa mới chấm dứt đây? Ôi, nghĩ vậymà vui mừng thay cho sự ra đời của Đức Thế Tôn vào một ngày trăng tròn tháng tư 2631 năm về trước. Hôm nay, một lần nữa, mùa trăng tròn Vesak tháng Tư lại trở về với nhân gian, mùa trăng mà theo tôi, là đẹp nhất trong một năm, có ý nghĩa nhất trong mười hai lần trăng tròn của một năm, đẹp, không phải vì ánh trăng vằng vặt chiếu soi bầu trời trong vắt tháng hạ thời Cổ Ấn, mà nó đẹp vì hình ảnh của một con người, con người mang đến ánh sáng tâm linh nhiệm màu cho nhân loại, hình ảnh của Đức Thế Tôn, bậc đạo sư vĩ đại, bậc cha lành bốn cõi, đã xuất hiện trên thế gian vào một ngày trăng tròn tháng Tư, đã oanh liệt chiến thắng Ma Vương, vẹt đi bức màn vô minh tăm tối, mang ánh đạo vàng đến cho nhân loại vào một ngày trăng tròn tháng Tư 35 năm sau đó, và vào một ngày trăng tròn tháng Tư của 2551 năm về trước, chư thiên và nhân loại, cả vũ trụ đã vô cùng bi ai, không đành nhưng cũng phải đành, với cái quyết định sẽ nhập diệt Niết Bàn của Đức Thế Tôn. Sinh diệt, hợp tan là nỗi vô thường không thể nào tránh khỏi của vạn pháp, sinh, già, bệnh chết, Đức Thế Tôn cũng không ngoại lệ, mặc dù Ngài đã làm chủ sinh tử luân hồi, làm chủ sanh già bệnh chết, Ngài có thể kéo dài thọ mạng sau khi đã chứng đắc đạo quả nhưng Ngài đã không muốn đi ngược lại những quy luật thiên nhiên của vũ trụ mà luật vô thường, luật nhân quả là một trong vô số quy luật ấy, và chính vì điểm này mà Ngài đã từ bỏ hết tất cả mọi lạc thú trần gian, cũng trong một đêm trăng, cất bước đăng trình thiên lý đi tầm cầu một lối thoát ra khỏi cuộc luân hồi sinh tử tử sinh, và Ngài đã thành công, hình ảnh một bóng người trong đêm trăng, vì hạnh phúc chân chân thật thật cho chính mình và nhân loại, bỏ cung vàng điện ngọc ra đi, hình ảnh đó không phải là một hình ảnh đẹp hay sao chứ? Hôm nay, trăng lại tròn trên nền trời trong vắt, nhân thiên trên quả địa cầu đang nô nức hân hoan chào đón kỷ niệm Ngài. Năm châu bốn bể nhân loại, đâu đâu cũng treo đèn kết hoa cùng nhau nhắc nhớ đến Ngài. Nhân loại, ngày càng nhiều người hơn, đã nhận chân được giáo pháp mà Ngài để lại cho chúng ta, là một liều thuốc chữa bệnh tâm linh vô cùng hiệu quả, điều quan trọng là liều thuốc này linh nghiệm không phải là vì nó được kê toa bởi một đấng thần linh nào đó mà con người phải cầu xin van vái, mà nó linh nghiệm vì nó, là kinh nghiệm của một bậc vĩ nhân hơn cả thần linh, nhưng không có chút gì gọi là huyền bí, linh nghiệm vì bệnh nhân khi dùng đến liều thuốc này phải tự mình nỗ lực, tự mình chấn chỉnh vươn lên hành trì thì sẽ có thành tựu, sẽ dứt trừ được căn bệnh khổ đau phát sinh bởi vô minh tăm tối, không phải là ngồi chờ đợi thần linh nào ban phước giáng hoạ cho mình. Đức Phật của chúng ta, với lòng bi mẫn bao la, với trí tuệ tuyệt vời, với giáo pháp mà Ngài đã khổ công khám phá, đã được chư Thiên và nhân loại, tôn sùng quý kính không chỉ từ thưở xa xưa mà với tình trạng hỗn loạn như hiện nay của xã hội, nhiều học giả, chính trị gia tiếng tăm đã nhận định rằng chỉ có giáo pháp bất bạo động của Đức Phật đã đề xuất thì mới có thể giải toả được vấn đề, mới có thể mang đến cho nhân loại một nền hoà bình thật sự, than ôi, vậy mà, vẫn còn rất nhiều, rất nhiều chúng sinh kém may mắn, thiếu duyên lành để được nghe, thấy, biết đến hành trạng của một Đức Phật có thật trong lịch sử nhân loại rất gần gũi với thời đại của chúng ta. Ôi! Đối với ân đức bao la của Ngài, chúng ta phải làm gì đây, để được xứng danh là một người con Phật. Thật ra Đức Phật không cần chúng ta phải làm gì cho Ngài, có làm gì chăng thì cũng chỉ là vì bản thân của riêng chính chúng ta. Quý kính Ngài, chúng ta không chỉ có tôn sùng lễ bái, mà phải chí chí thành thành thực hành áp dụng lời dạy của Ngài trong đời sống hằng ngày để góp phần xây dựng một bộ mặt gia đình, xã hội tốt đẹp hơn, để sớm đoạn tận khổ ưu, sớm thoát ra khỏi đêm đen luân hồi mờ mịt. Trong Kinh Đại Niết Bàn, khi Đức Phật nhìn thấy những cây long thọ trổ bông, và thấy bao nhiêu người lễ bái và tôn sùng Ngài, Đức Phật kêu gọi chư đệ tử như sau: "Này Ananda, không phải như vậy là tôn trọng, kính cẩn, sùng bái, làm vẻ vang Như Lai đâu. Bất luận vị tỳ khưu nào, bất luận vị tỳ khưu ni hay thiện nam, tín nữ nào hành đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, đời sống chân chính, là người tôn trọng, kính cẩn, sùng bái và làm vẻ vang Như Lai theo cách cao thượng nhất. Như vậy, này Ananda, con phải chuyên cần tu tập, hành đúng theo Giáo Huấn, phẩm hạnh trang nghiêm, sống đời chân chính."Lời giáo hoá của Đức Phật cho Ngài Ananda hơn 2551 năm về trước chính là một trong những lời giáo hoá sau cùng mà Ngài đã để lại cho chúng ta. Đón mừng kỷ niệm ngày Đản Sanh, kỷ niệm Ngày Thành Đạo, Ngày nhập diệt Niết Bàn của Đức Phật, chúng ta cùng nhau nhắc nhở đến Ngài, cùng nhau noi theo tấm gương hạnh nguyện của Ngài, cảm niệm ân đức của Ngài, không gì hơn cách thức cúng dường cao thượng là hành trì chánh pháp như lời mở đầu trong bài Kinh Giải Thoát Giáo Ovadàpatimokkha. "Ai hành trì chánh Pháp Hạt Cát
- --—Øv×–--- |
|
|
|