Biên khảo by Như Quang

CŨNG MỘT KIẾP TẰM

 Kiếp tằm mà tôi muốn nói đến không phải là kiếp tằm có đôi, có bạn như trong câu ca dao: Đôi ta như thể con tằm. Cùng ăn một kén, cùng nằm một nong. Kiếp tằm đây là kiếp tằm rút ruột nhả tơ, nhả cho đến sức cùng, lực cạn mà chẳng nhận được gì: Thương thay thân phận con tằm. Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.

 Công việc rút ruột nhả tơ này con người cũng làm và những người này được gọi là nhà văn hoặc nhà thơ. Định nghĩa về thơ, một nhà thơ ngoại quốc đã nói rằng: Poetry Is Life Distilled, thơ là đời sống đã được tinh lọc. Khi cầm cây viết nhỏ những giọt thơ xuống đời sống mình, tôi hoàn toàn đồng ý về định nghĩa này về thơ. Tôi làm thơ là chắt lọc lại đời mình. Thơ tôi không phải chỉ có tam độc, tham, sân, si mà còn có cả tứ vô lượng tâm nữa. Và dĩ nhiên, giống như cuộc đời, thơ tôi buồn nhiều hơn vui, nhạt nhoà nước mắt hơn lóng lánh nụ cười.

 I. TĂNG SĨ VÀ THI SĨ

Trong kinh Tương Ưng Bộ, Đức Phật có một chương dành cho thi sĩ gọi là Người Thi Sĩ. Chỉ trong một chương kinh nhỏ, Đức Phật đã an trú thi nhân vào những âm vận, văn tự của các bài kệ:

-Vật gì nhân kệ tụng?
Vật gì làm tự cú?
Vật gì kệ y cứ?
Vật gì kệ an trú?
-Âm vận nhân kệ tụng
Văn tự làm tự cú,
Kệ ý cứ đề danh,
Kệ an trú thi nhân

 

 Nhưng cũng có đôi lúc thi nhân vượt ra ngoài sự an trú của kệ tụng để đắm chìm vào những giòng thơ chảy ra từ trái tim của họ. Theo tôi, thơ là một thứ oan nghiệp mà chỉ có những người chạy trốn cuộc đời mới dính mắc vào. Ngoài nhà thơ ra, tu sĩ cũng là những người từ bỏ cuộc đời để chạy lại với thơ. Một nhà thơ tu sĩ  đã viết những câu thơ bỏng cháy như sau:

 Đời tu là cuộc trốn tìm
Người tu cũng có nửa tim luân hồi

(Hải Thệ)

 Hoặc sư cũng nói về những phút giây thất niệm của mình:

 Sân chùa lá vẫn cứ rơi
Vô tri đâu biết có người bâng khuâng
Ngó lên toà Phật khói dâng
Sư buồn mình lại một lần tình si

(Hải Thệ)

 Người tu dù ở cảnh giới nào, ngay khi đã chết, cũng có những thắc mắc của một nhà thơ đa tình như thiền sư Tuệ Sỹ đã tự hỏi mình:

 Lặng lẽ nằm im dưới đáy mồ;
Không trăng không sao mộng vẩn vơ.
Tại sao người chết, tình không chết?
Quay mấy vòng đời, môi vẫn khô
.

(Tuệ Sỹ)

 Làm một nhà sư đâu phải làm một khúc gỗ. Nửa trái tim luân hồi đôi khi cũng giao động. Nó làm cho nhà sư cũng bâng khuâng vì một chiếc lá rơi, vì một tiếng nam mô thanh thoát, hay đơn giản hơn, một tiếng chuông chiều đưa như tu sĩ Phạm Thiên Thư đã cảm nhận:

 Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông

 Anh khoác áo nâu sòng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

(Phạm Thiên Thư)

 Trong cuộc trốn tìm, tăng sĩ bỗng gặp người đồng cảnh ngộ. Đó là thi sĩ bởi cả hai đều có những điểm tương đồng giữa hai người trốn chạy:

 Đời thi sĩ cũng như đời tu sĩ
Sợ cuộc đời nên trốn chạy nhân gian
Chữ lợi danh… phù phiếm chẳng màng
Bởi danh sắc là vòng dây siết chặt

 Điểm tương đồng dù nhiều, chẳng hạn như cả hai đều là kẻ quay lưng lại với cuộc đời, đều là kẻ ngửa tay nhận của cho nhưng tăng sĩ và thi sĩ cũng có những điểm dị đồng. Trong khi tăng sĩ nuôi mạng bằng một chiếc bình bát, cơm ngàn nhà thì thi sĩ cũng ngửa tay xin và xấu hổ vì mình nghèo khổ đến tội nghiệp, nghèo hơn cả một ông sư:

 Tay ôm bình bát đứng chờ,
Người tăng sĩ tợ như người ăn xin,
Ta, tên thi sĩ thất tình
Thua người tăng sĩ cái bình bát thôi!

            (Khất Thực)

 II. PHẬT – NGƯỜI YÊU – THI SĨ

 Người làm thơ mơ nhiều hơn sống bởi tâm hồn nhạy cảm của một người làm thơ rất dễ bị trái ý, nghịch lòng. Hình như cuộc đời luôn bày ra những cảnh bất ý để người thơ biến gai nhọn thành vần, biến dao sắc thành điệu, biến những đau thương của riêng mình thành hào quang lóng lánh. Trong khi nhà tu trốn chạy cuộc đời thì nhà thơ cũng chối bỏ cuộc đời tìm về với những trang kinh:

 Đèn khuya lật một trang kinh
Phật đâu không thấy, thấy hình của anh
Kinh ghi mấy chữ rành rành:
Chữ TÂM dâng Phật, chữ TÌNH dâng anh
.

(Kinh Khuya)

 Tuy vậy nhà thơ cũng có được phút giây ngộ đạo ngay trong lúc hôn trầm:

 Mười năm đọc cả ngàn chương kinh điển
Tìm mãi không ra cái muốn tìm
Ngủ quên trên sách, Như Lai hiện:

“Phật ở đâu ngoài một chữ TÂM!”

(Ngộ)

 Tuy người thơ là kẻ luỵ tình, tâm không an, không định, tuy giở trang kinh ra vẫn thấy người yêu chứ không thấy Phật nhưng trong tâm tư người thơ lúc nào cũng muốn quay về với Phật:

 Phật ơi, con cũng là người,
Tham, sân, si cũng một đời tối mê
Lắm phen nẻo Phật tìm về
Lỡ chân vấp ngã bên lề chữ yêu.

(Nẻo Phật)

 Do vậy nên trái tim người thơ lúc nào cũng chạy đi, chạy về giữa Phật và người yêu:

 Anh ơi, Phật ở trong tâm,
Còn anh ở chỗ em nằm, em đi
Em về sám hối quy y
Thấy anh ở chỗ em đi, em nằm.

(Phật và Anh)

 Quả là chúng sanh này quá dính mắc trong tấm lưới mà Đức Thế Tôn gọi là ÁI, là tấm lưới triền khiến cho lưu chuyển rộng ra, bám dính vào và chính do cái ái ấy mà thế giới này bị hoại vong, trói buộc, rối loạn như một cuộn chỉ, rối ren như một ổ kén, quyện lại như cỏ mujia và lau sậy babbaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đoạ xứ, sanh tử. (Tăng Chi Bộ Kinh, chương IV, phẩm Bốn Pháp) Cái lưới tình đó một khi chúng sanh đã vướng vào rồi thì tha nhân không giúp được, chỉ có tự mình giúp mình mà thôi. Cho nên khi một chúng sanh đã rơi vào đoạ xứ rồi thì ngày thoát ra khỏi nơi đoạ xứ rất xa vời, trừ khi chúng sanh đó gắng tâm tu tập để thành Phật:

 Kiếp xưa em lỡ vụng tu
Kiếp này đoạ xứ lao tù tim anh
Chúng sanh là Phật sẽ thành,
Nếu em thành Phật… trả tình lại anh.

(Nếu Em Thành Phật)

 Chuyện trả tình lại anh có lẽ không bao giờ xảy ra vì đâu có dễ dàng gì mà thành Phật. Như vậy là người thơ suốt đời sẽ đoạ xứ lao tù tim anh!

 Tuy chưa có cơ duyên để trả tình lại anh nhưng nhà thơ cũng đã hành theo lời Phật dạy là tấm thân ngũ uẩn là vô thường, cuộc đời là vô thường. Tất cả không ngoài một chữ không:

 Năm mươi năm trái đất quay vòng,
Vòng tay tôi chỉ một chữ không
Không lợi, không danh, không tiền của
Chỉ có trong tay chút bụi hồng
!

(Không)

 Cô cũng không quên quán về sự chết:

 Mỗi ngày tôi đọc tên người chết,
Tự hỏi nằm đâu tên của mình?
Người ta sợ chết, tôi mong chết
Để thấy tên mình trang phân ưu
.

(Cáo Phó)

 Quán cái chết trong khi còn đang sống nên người thơ cũng tự xây cho mình một nấm mộ:

 Tôi xây nấm mộ cho tôi
Để mai qua đó bồi hồi đứng trông
Người ta đèn, nến, nhang, bông
Ngu ngơ lạy cái xác không dưới mồ
!

            (Xây Mộ)

 Rồi những lúc tĩnh tâm muốn cúng dường đến Phật nhưng người thơ lại thấy phân vân vì mình không còn gì xứng đáng để dâng lên Phật:

 Xin thưa, tay đã nhúng chàm,
Phật ơi, có nhận tâm phàm của con?
Muốn dâng lên Phật chỉ còn,
Cái khuôn ngực rỗng, cái hồn oan khiên
!

(Cúng Dường)

 Cuối cùng, người thơ dâng lên Phật trái tim của mình nhưng Phật lại không nhận:

 Trái tim bầm dập, nát nhừ
Đem dâng lên Phật, Phật từ bi khuyên
:
Người thơ còn lắm nghiệp duyên,
Trái tim phải buộc vào thiên vận sầu !

            (Nghiệp)

 Thường thì chúng sinh chỉ có tam nghiệp. Riêng nhà thơ thì gánh vác thêm cái nghiệp thứ tư, đó là nghiệp làm thơ! Theo thuyết nghiệp quả, không phải nhà thơ chỉ làm thơ trong hiện kiếp mà thôi. Thực ra họ đã làm thơ từ năm trăm kiếp trước, kiếp này chỉ lặp lại như một thói quen. Họ thường ca cẩm về sự khổ não của mình nhưng không biết rằng cái khổ đó là cái khổ tự tạo như lời Phật đã dạy trong kinh Tương Ưng Uẩn, phẩm Gánh Nặng:

 Năm uẩn là gánh nặng
Kẻ gánh nặng là người
Mang lấy gánh nặng lên,

Chính là khổ ở đời
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc, không khổ.

 Với cái gánh nặng oằn vai như thế, mãi miết lặn hụp trong biển đời mê muội như thế, một hôm giật mình tỉnh mộng, người thơ thấy mọi người đã sang hết bờ bên kia, chỉ còn mình mình trên bến vắng nên hoảng hốt kêu lên: bậc trí đã qua sông!

 Đò sang bờ giác xa rồi,
Bên này bỉ ngạn mình tôi đứng chờ,
Một mình giữa cõi bơ vơ
Chiều hôm rả mộng… xé thơ làm đò!

(Lỡ Đò)

 Ai có từng đi đò mới biết cảm giác hụt hẫng của người bị lỡ đò. Chuyến đò cuối cùng sang bên kia bờ giác đã tách bến, người thơ giờ đã lỡ cơ hội sang bờ! Chiếc đò làm bằng những trang thơ xé nát không biết có đủ sức đưa cô đến bờ bình an? Dù ở bên này hay bên kia bờ bỉ ngạn, người bạn đường của cô chỉ là những câu thơ trĩu đầy tâm sự!

 III. TÂM SỰ NGƯỜI THƠ:

 Tôi đến với cuộc đời này như một sự lỡ bước. Hình như chốn này không phải của tôi. Để đỡ cực lòng, tôi như cô Tấm chui ra, chui vào quả thị:

 Em từ thơ hoá thân ra,
Nói năng, động, tịnh, như là chiêm bao
Trần gian hệ luỵ, xôn xao
Tan mơ, em bước trở vào trong thơ.

(Hoá Thân)

 Có nhiều người thắc mắc tại sao tôi làm thơ dễ dàng như thở và tại sao thơ của tôi toàn là thơ buồn, thơ thất tình, não nuột. Chính tôi cũng không biết trả lời ra sao nên ậm ờ giải thích:

 Tôi đùa với chữ cho vui,
Làm thơ rồi đọc, ngậm ngùi mình nghe
Một mình trong cõi u mê,
Một mình với những bộn bề trong tâm

(Làm Thơ)

 Mà đùa với chữ đâu phải lúc nào cũng vui. Làm thơ đôi lúc cũng buồn vì thơ làm thì nhiều mà không ai đọc nên chĩ có cách là đem đi dấu và chỗ dấu an toàn nhất là trái tim của mình:

 Thơ làm chẳng biết gửi ai,
Hay là em cứ cất hoài trong tim
Lỡ mai anh nhớ… đi tìm
Xé tim… anh đọc nỗi niềm đắng cay.

(Dấu Thơ)

 Cũng có nhiều bài thơ viết xong, lại xé đi vì sợ mình đọc lại sẽ đau lòng hoặc làm đau lòng kẻ khác

Bài thơ vừa mới xé ra,
Ô hay, xé chữ, sao mà ta đau?
Thơ và ta cũng như nhau
Xé ra thì cũng máu trào trong tim.

(Xé Thơ)

 

Mỗi một giọt thơ viết ra là một giọt sống mà người thơ gom góp để làm vui cho mình, cho đời:

 Nhả bao nhiêu giọt thơ nồng
Là bao nhiêu giọt máu hồng cùng rơi
Máu, thơ, trộn với bụi đời
Đắng cay trộn với những lời kim châm

(Giọt Thơ)

 Cũng có người hỏi tôi làm thế nào để có những vần thơ xao lòng người đọc như thế, tôi đã chia xẻ cái công thức của mình:

 Nhỏ thêm vài giọt máu hồng
Vào giòng chữ vụng sẽ thành câu thơ
Đem đời trộn với giấc mơ
Thấy thân giả tướng trên tờ giấy hoa.

(Giả Tướng)

 Khi thổi đời sống vào những con chữ vô tri, người làm thơ cũng đớn đau như người mẹ lúc đưa đứa con của mình vào đời. Mà cuộc đời vốn khó tính, có những đứa con được đời nồng nhiệt đón nhận, có những đứa con bị chê bai, hắt hủi. Dù được cuộc đời hoan hỷ hay không, để có những vần thơ đẹp, những bài thơ xúc động, trữ tình trao tặng cuộc đời, người làm thơ đã phải vắt kiệt máu tim mình như con tằm rút từng đoạn ruột nhả tơ:


Viết bài thơ bổng băn khoăn
Phải chăng kiếp của con tằm – kiếp tôi?
Tằm, tôi gì cũng vậy thôi
Cũng là rút ruột tặng đời máu tim
.

(Kiếp Tằm)

 Đó là tâm sự của một người làm thơ. Nếu bạn là người có trí, đừng nên gắn cuộc đời mình vào thơ. Hoặc nếu lỡ yêu thơ rồi thì chỉ yêu thơ như một người ngoạn cảnh, xem hoa thôi, đừng nên làm thơ. Cám ơn tất cả quý vị đã lắng nghe dùm tâm sự của một nhà thơ. Tôi xin mượn hai câu thơ của thi hào Nguyễn Du để kết thúc bài nói chuyện này:

 Lời quê góp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh
.

 

Như Quang

(Canada)

 

---—Øv×–---