|
ĐÊM DÀI CHO KẺ THỨC
Đêm
dài cho kẻ thức, (Kinh Pháp cú số 60) Ngôi chùa nằm trên núi, ở một vị trí vô cùng lý tưởng với núi vây quanh và biển xanh bên dưới. Đứng bên ngoài chánh điện nhìn xuống biển xanh, tôi chợt nhớ khung cảnh hữu tình của quán Auberge des Roches Noires ngày xưa. Tôi nhớ những đêm ngồi bên ly cà phê đen với người tình và bè bạn. Tôi trở lại bãi sau hơn hai mươi năm xa cách. Bãi sau vẫn còn ghi những kỷ niệm đau thắt ruột gan dù chiếc tàu mắc cạn không còn ở đó và căn nhà trắng trên đỉnh núi của cố nhân đã thay đổi chủ. Những ngày xa xưa đó là những ngày vô cùng êm đềm của tuổi thơ tôi dù nó cũng đầm đìa hệ luỵ tình yêu . Sau khi chúng tôi lễ Phật xong, sư trụ trì hướng dẫn chúng tôi đến phòng dành riêng cho khách vãng lai. Sư chỉ cho chúng tôi ba căn phòng rộng rãi, thoáng khí, đầy đủ gối, mền và từ bi bảo: -Quý đạo hữu có thể nghỉ tạm qua đêm nơi đây mà không phải lo ngại gì cả. Sư bảo đảm sự an toàn cho quý vị. Tôi không rõ sư ngụ ý gì qua từ an toàn nhưng giọng nói êm đềm, từ bi của sư có giá trị bảo đảm hơn tất cả những lời hứa hẹn mà tôi đã từng nghe. Tôi mê man nhìn ra biển rộng, thấy khung cửa sổ mênh mông như lòng từ của bậc chân tu. Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến viếng cảnh chùa, không biết rõ chúng tôi là ai mà sư hoan hỷ mời chúng tôi ở lại. Tôi không ngần ngại gật đầu: -Dạ, nếu không có gì trở ngại cho chùa, chúng con xin được tạm nghỉ nơi đây. Trong khi sư nhờ quý giới tử dọn dẹp phòng ốc cho chúng tôi thì ở dưới bếp cô Phật tử cũng chuẩn bị bữa ăn trưa. Sau thời kinh thường lệ trước khi thọ thực, quý sư bắt đầu độ ngọ và chúng tôi cũng được phép ngồi vào một bàn riêng. Nhìn một bàn đầy thức ăn với những đặc sản của miền biển, tôi vô cùng ái ngại. Tôi vốn sống đơn giản, không muốn mình là mối bận tâm của một ai. Tôi càng ái ngại hơn nữa khi thỉnh thoảng sư chạy sang bàn chúng tôi nhắc ăn món này, ăn món nọ. Tôi cố gắng ăn nhưng không hề cảm thấy đói dù nửa ngày đi đường đã lấy đi của tôi khá nhiều năng lượng. Suốt thời gian đi hành hương trong mấy tuần lể ngắn ngủi về thăm quê, tôi cảm thấy một niềm vui thật lạ và chính niềm vui này làm tôi không thấy mệt cũng không thấy đói lại luôn đầy đủ sức khoẻ để vượt qua những đổi thay về giờ giấc, khí hậu. Tôi nâng niu từng phút giây gần gũi Phật, Pháp và chư tăng nên những sinh hoạt thường ngày như ăn, ngủ, nghĩ hầu như chỉ là thứ yếu đối với tôi. Sau buổi ăn trưa chúng tôi đi dạo quanh biển và viếng một vài ngôi chùa trong tỉnh. Sư cẩn thận dặn dò chúng tôi cách tắm biển sao cho khỏi bệnh và được nhiều kết quả tốt đẹp cho sức khoẻ. Nghe những lời căn dặn của sư, tôi vô cùng xúc động. Những điều nhỏ nhặt như đem theo thức ăn, đồ uống xuống biển để khỏi phải chạy lên, chạy xuống … làm tôi liên tưởng đến hình ảnh một người cha chăm chút cho bầy con của mình. Trong kinh Phật thường nhắc đến những câu chuyện tiền thân. Chúng ta đã từng là cha, mẹ, vợ chồng, con cái của nhau … Có thể trong một kiếp nào đó chúng tôi đã từng là con của sư chăng? Tôi nhìn lại sư thấy trên gương mặt sư một nét thật quen, hình như tôi đã gặp sư ở đâu đó. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi đặt chân đến ngôi chùa này sau hơn hai mươi năm xa xứ và đây là lần đầu tiên tôi gặp sư vậy thì sự quen thuộc đó từ đâu mà ra? Tôi chịu thua không nghĩ ra được. Suốt buổi chiều ngồi nhìn mọi người vui đùa với sóng, tôi luôn lục tìm trong trí nhớ già nua của mình những nét quen thuộc của sư nhưng đành chịu. Đợi một lúc nào đó đủ duyên, câu trả lời sẽ tự nó tìm đến với mình. Đêm đến, khi mọi người đã vào phòng chuẩn bị ngủ, tôi đứng ngoài hiên nhìn cảnh núi đêm. Tượng Phật mờ mờ trong bóng đêm và những tàng cây in bóng trên nền trời đen thẫm làm đêm thêm huyễn hoặc. Thời gian ở Đồi Lá tôi đã thấy thanh tịnh rồi mà giờ phút này đứng trong không gian tĩnh mịch này, tâm tôi càng thanh tịnh hơn. Tôi trao đổi vài câu chuyện vặt với sư rồi sư cũng lui về liêu thất. Nằm trong căn phòng xa lạ, không nệm, không giường mà tôi nghe cảm giác thật gần gũi và nhất là vô cùng an lạc. Tôi không cảm nhận một sự sợ hãi nào. Sự êm đềm không đến từ cái giường êm, tấm nệm ấm mà đến từ không gian yên tịnh, không ô nhiễm. Tôi đã từng ở qua bao nhiêu khách sạn sang trọng mà chưa bao giờ có cái cảm giác êm đềm, lạ lẫm như thế này. Tôi nhận ra một cảm giác thật gần gũi, ấm cúng và nhất là được chở che như ở trong chính căn nhà của cha mẹ mình. Lạ một điều là gần một giờ đêm mà mắt tôi ráo hoảnh. Tôi không khỏi ngạc nhiên vì ngày thường tôi là người dễ ngũ. Nằm đâu là tôi ngủ đó và lúc nào, ở đâu tôi cũng có thể ngủ được không quan tâm đến tiếng động chung quanh hay ánh sáng dọi vào mắt, hay ngay cả thời tiết nóng, lạnh, mưa bão. Đầu vừa đặt xuống là hồn tôi đã chu du đến tận đâu đâu. Vậy thì tại sao đêm nay tôi lại trăn trở? Cố gắng theo dõi hơi thở, cuối cùng tôi cũng chợp mắt được một chút. Khi tỉnh giấc, nhìn đồng hồ tay thấy mới hai giờ ba mươi sáng, tôi nhắm mắt cố ngủ lại nhưng đầu óc tỉnh táo như vừa mới uống xong ly cà phê đen thật đậm. Tôi ngồi dậy toạ thiền rồi đi kinh hành trong phòng cho qua đêm. Tôi chợt nhớ mấy câu kinh lời vàng của đức Phật: Đêm dài cho kẻ thức. Đường dài cho kẻ mệt. Luân hồi dài cho kẻ ngu. Nhưng trong đêm nay làm kẻ thức một mình tôi lại không thấy đêm dài mà hình như tôi sợ đêm sẽ qua đi. Tôi nghiệm ra lý do sự mất ngủ của mình: tôi muốn tận hưởng sự an lạc ở chốn bình yên này. Tôi sợ phí phạm từng phút giây chợp mắt. Bốn giờ sáng từ chánh điện vọng lên giọng đọc kinh sang sảng của quý sư và giới tử. Tôi chạy vội vào phòng rửa mặt, thay quần áo sạch sẽ và lên tụng kinh sáng. Mỗi câu kinh đọc tụng là một liều linh dược giúp tôi quên đời sống phiền luỵ của mình. Công ăn, việc làm, đời sống, con cái là những sợi dây thít chặt mình bổng như có ai vừa chặt đứt. Tôi thấy mình thực sự xả ly và thực sự thở, từng hơi thở nhẹ nhàng, ra, vô, sinh, diệt rõ ràng. Sau thời kinh sáng chúng tôi ngồi thiền trong bóng tối. Và đêm trên núi đã đi qua trong an bình, tĩnh lặng. Phía dưới biển, chút màu đỏ của mặt trời vừa chớm xuất hiện. Tôi đứng bên cửa sổ mở rộng, hít thở vội vàng không khí trong lành của buổi sáng miền biển như sợ người khác sẽ giành hết của mình. Qua một đêm dài đối diện bóng đêm mà tôi vẫn thấy an lạc. Tôi ghi vào lòng niềm tri ân sâu xa đối với sư trụ trì. Tôi ao ước mình sẽ còn được nhiều đêm dài mất ngủ như thế này. Tôi không sợ những đêm thao thức như đêm trên núi cao này. Ngày lên đường trở về Canada khi bước vào phi trường trí nhớ tôi chợt bừng lên hình ảnh của sư trụ trì. Bây giờ tôi hiểu ra sự quen thuộc mình nhận thấy nơi sư. Hôm vừa xuống máy bay, tôi thấy một vị sư đi ngược về phía mình. Tôi cung kính chấp tay đảnh lể và sư nhẹ nhàng Mô Phật trả lể. Tôi cuốn vào giòng người vội vã đi nhận hành lý và sư cũng lo nhận hành lý của sư. Cái duyên giữa sư và tôi thoáng qua trong chốc lát như thế. Làm sao ngờ được lại có phút tái ngộ với sư nơi ngôi chùa trên núi. Hơn lúc nào hết tôi tin vào thuyết duyên khởi của nhà Phật. Tôi cũng tin rằng hơn ba mươi năm tu trì trên núi sư đã tạo được cái nhân duyên độ một người Phật tử lạc loài là tôi.
Như Quang (Canada)
- --—Øv×–--- |
|
|
|