Thơ, Thiền
Những đường bay và những chân trời
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Hôm
tết vừa rồi, anh Đỗ Lai Thúy từ Hà Nội vào, ghé thăm Huyền Không Sơn
Thượng và có tặng tôi một tập sách. Nội dung, anh đă phác thảo chân
dung học thuật của 17 nhà nghiên cứu. Công tŕnh thật là công phu,
khoa học, nhiều thao tác tư duy, nhiều tầng bậc chiêm nghiệm... hàm
tàng một sở học nghiêm túc, đa diện và phong phú. Cái đặc thù ở đây
là anh đă đào xới những vỉa quặng ngầm, chưa có hoặc ít có người
khám phá: cái mặt tĩnh của tư duy, cái lẩn khuất của nội tâm triết
học... mà chúng th́ thường lặn ch́m, vô tăm, khiêm hư trước mọi biến
động của thời cuộc. Ít khi mà đọc được một quyển sách hay. Tôi đọc
giữa hai hàng chữ và cảm nhận được rằng: Có những con người đă có
những chân trời của tự do, của sáng tạọ, của khát vọng sự thật và họ
yêu mến cái đẹp đến vô bờ! Tuy thế, tôi lại thích cái tựa sách hơn:
“Chân trời có người bay”. Cái tựa này, anh Thúy lại lấy ư từ câu
thơ cô đơn, hiu hắt, thấm đẫm chất nhân văn của nhà thơ Trần
Dần:
-“Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời”
Và
quả thật, đă có thời, có những chân trời không có người bay! Và quả
thật, đă có thời, có những người bay không có chân trời!
Nghĩ về thơ, nghĩ về thiền - hốt nhiên, tôi cũng nghĩ
đến những đường bay như nhà thơ Trần Dần, như nhà nghiên cứu Đỗ Lai
Thúy- nhưng là những đường bay không biết
có chân trời nào hay không?
I.- Đường bay của thơ:
Thơ
Việt Nam kể từ thời Lư Trần, nhiều học giả đă xác định là đỉnh cao
của văn học hoặc là ngọn đuốc sáng mở đường cho thời đại tự chủ của
dân tộc. Tự bản chất, nó là ḍng hợp lưu: minh triết đông phương và
bản sắc văn hóa Việt. Và suốt trong ḍng chảy ấy, trải qua hơn ngàn
năm, Phật Khổng Lăo và t́nh tự dân tộc đă hỗn dung và quyện lẫn
trong nhau. Và thế là có cái đúng, có cái sai; có cái b́nh dân hóa,
có cái tan ḥa với tín ngưỡng dân gian. Thơ ca vào các thời kỳ này,
tuy chỉ lập ngôn dị giản như “Văn dĩ tải đạo” hoặc “Thi ngôn kỳ
chí”... nhưng chúng đă hướng đến những giá trị phổ quát, đáp ứng
được những khát vọng muôn thuở của tâm hồn và cảm xúc thăng hoa của
nhiều thế hệ. Chúng ta không cần dài ḍng nói đến những ích dụng đó
như thế nào, v́ rơ ràng những nền tảng tư tưởng từ h́nh nhi thượng
đến h́nh nhi hạ của Phật Khổng Lăo đă được chiết trung, tinh lọc,
biến cải cho phù hợp với bản sắc văn hóa Việt. Và như vậy chứng tỏ
ǵ? Chứng tỏ thơ vào các thời kỳ này có định hướng. Có định hướng
tất có đường bay. Các giá trị tại thế, nhân văn, mỹ học... theo đó,
chẳng có ǵ phải bàn luận nhiều, nhất là thi ca.
Măi
cho đến khi tiếp thu nền học thuật của phương Tây th́ diện mạo thơ
Việt mới bắt đầu đổi khác. Các trường phái lăng mạn, ấn tượng, tượng
trưng, siêu thực... như những ngọn gió lạ thổi qua b́nh
nguyên yên ả của tâm linh thơ Việt. Cổ súy cho phong trào thơ mới là
Phan Khôi với bài thơ “T́nh già”, được coi là sớm nhất. Sau đó, các
thanh niên thi sĩ tân học, với sinh lực trẻ trung lần lượt xung trận
như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Vũ Đ́nh Liên, Trương
Tửu... đă tŕnh diện thi đàn những bài thơ đi ra ngoài truyền thống,
thoát ly vóc dáng cổ điển. V́ mới thể nghiệm nên không tránh khỏi
“Tây quá” hoặc hoa lẫn với rác nhưng lại thích hợp với xu thế tâm
hồn lớp trẻ hănh tiến của thời đại.
Đi
theo phong trào cải cách, canh tân này có thể lên đến con số 80 tác
giả, trong đó, số nữ lưu anh kiệt như Ngân Giang, Anh Thơ, Mộng
Tuyết, Hằng Phương... có chừng trên dưới 10 người. [1]
Họ
kết án thơ cũ với vần, niêm, luật g̣ bó, chật chội, không thể đáp
ứng nổi những tư duy, tâm t́nh, cảm xúc đa phức trước trào lưu mới.
Một phần nào đó họ có lư. Họ có lư nên họ đă thành công. Tuy nhiên,
nếu hiện đai chủ nghĩa quá, nghĩa là tượng trưng và siêu thực quá
như nhóm “Xuân thu nhă tập”của Nguyễn Xuân Sanh... th́ thất bại. Phá
bỏ vần luật, niêm đối để cho thơ chắp cánh tự do, phiêu bồng bay,
thênh thang bay trong không gian nghệ thuật với h́nh tượng, tu từ
mới mẻ th́ thơ sẽ tăng trọng cảm xúc, lung linh nhiều vẻ đẹp, ẩn
mật, đa tầng và đa nghĩa. Nhưng chủ trương phá bỏ ư thức, phá bỏ cả
quy tắc ngữ pháp, phá bỏ những thông tin thường ngữ, thường nghĩa...
th́ chỉ c̣n cái vỏ âm thanh khô rỗng, ú ớ, bập bẹ, phều phào...
chẳng rơ trao gởi thông tin ǵ! Sự mă hóa ngôn ngữ ấy như là ẩn số
bí hiểm, mà đôi khi chính tác giả cũng quên, không biết ḿnh nói ǵ!
May ra chỉ có Thượng đế mới hiểu.[1]
Những thi gia kiện tướng như Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng
Đ́nh Hưng, Hoàng Hưng... măi cho đến tận bây giờ, công phu tế bào
năo của họ vẫn chưa đến được với tâm hồn người đọc, nếu không muốn
nói là tạo nên một không gian dị ứng . Như vậy, loại thơ hiện đại
chủ nghĩa này có chân trời nào để bay không? Hay là không có
chân trời mà vẫn bay? Và đường bay này cũng đă được mă hóa trong
cơn mê man bội thực hoặc èo uột, thiếu ăn của các con chữ ? Cho
nên, đă rất nhiều người phê phán loại thơ này một cách gay gắt,
không khoan nhượng tí nào. Ví như có người đă bực bội hạ bút:”Đó chỉ
là các chuỗi kết hợp từ gần như vô thức, thể hiện sự lao
động thiếu nghiêm túc của người cầm bút. Chẳng những nó là kết quả
của sự nghèo nàn về vốn từ ngữ dân tộc ở một số tác giả mà c̣n là
những dấu hiệu của một bệnh trạng tư duy. Đọc những câu thơ ấy,
người đọc chỉ thấy đó là một mớ hổ lốn ngôn từ không có giá trị biểu
đạt tư tưởng- tức là sự nhận biết và khám phá bản chất của sự vật,
hiện tượng thuộc thế giới xung quanh. Bản chất của hiện tượng thơ
này hoàn toàn xa lạ với sáng tạo nghệ thuật đích thực. Nó chỉ tác
hại và làm vẩn đục ngôn ngữ, làm méo mó tư duy của người Việt hiện
đại mà thôi.[1]”
Không biết nói như thế có hơi quá hay không? Có hơi quy phạm, hàn
lâm hoặc mẫu mực quá hay không? Ta hăy chờ xem!
Sau
Cách mạng tháng tám, do hoàn cảnh lịch sử, ở miền Bắc, đa phần các
nhà thơ đều phải ra mặt trận bằng cách này hay bằng cách khác, thơ
mới vẫn âm thâm tồn tại bên lề ḍng văn học chính thống, c̣n thơ
phục vụ chiến đấu th́ có định hướng rơ ràng. Các thế hệ chống Pháp
và chống Mỹ đă xuất sinh một số lượng lớn các nhà thơ có tên tuổi đă
được định h́nh vững chắc, làm đà cho thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng
thành trong khói lửa, bước lên thi đàn một cách tự tin và đầy hào
hứng. Vậy là một thời gian không dài lắm, chỉ mới 30 năm (từ 45-75)
thơ vẫn có đường bay, bay theo cao trào của lịch sử. Những loại
thơ trữ t́nh, lăng mạn hoặc của các trường phái thơ mới khác
dường như không có môi trường để góp mặt một cách chính quy trên thi
đàn, nhưng chúng vẫn an nhiên tồn tại như những tảng băng ngầm. Ví
như Giang Nam, Hữu Loan, Hoàng Cầm...
Cũng
vào lúc này, nhất là sau khi chia cắt đất nước, t́nh trạng thơ ở
miền Nam vẫn tiếp tục đi theo phong trào thơ mới, lại có vẻ muốn mới
hơn cả thế hệ Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu... Chính nhóm “Sáng
tạo” của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa... đă cổ suư cho phong trào nầy.
Tuy
nhiên, đấy chỉ là bước đi tiếp theo trên lộ tŕnh có sẵn; dẫu với
tuyên ngôn tự do,sáng tạo, hiện đại... họ vẫn ảnh hưởng nặng nề các
trường phái lạc hậu của Tây phương đă không c̣n thời thượng nữa. Sự
t́m kiếm khổ hạnh trên từng con chữ của họ là một nỗ lực đáng khen
ngợi, nhưng dường như cũng chỉ là sự ḍ đường, thử nghiệm theo những
vết chân đă cũ, sau đó là bị ch́m khuất, vô tích...
Có
những nhà thơ độc lập, phải nói là đàn anh cả nhóm “Sáng tạo”, họ
không đi theo ai, vững vàng trung thành với Nàng Thơ của ḿnh; không
nói cũ, không nói mới... như Bùi Giáng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương,
Nguyễn Vĩ...; mỗi người mỗi dáng vẻ, mỗi phong cách, một thế giới
riêng không lẫn với ai được. Và c̣n rất nhiều, rất nhiều nữa... như
Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư, Trần Đới, Phạm Phú Hải... mỗi người
là một cơi riêng, nếu ta có dịp khám phá, thăm ḍ một cách khách
quan và trung thực.
Nói
tóm lại, t́nh trạng thơ ở đây vẫn là cái trăn trở muôn thuở giữa
hiện thực nhân sinh trần trụi và những khát vọng bản thể siêu h́nh.
Hoang mang giữa binh lửa, bất an trong lối thoát, thơ như tiếng gọi
kêu bỏng cháy trước sa mạc cằn khô và nhức đau của hiện tồn. Và cũng
có kẻ muốn vi vút rong chơi giữa cát bụi cuộc lữ, hoặc bi tráng,
hoặc đam mê t́nh lụy trước hố thăm trần mộng bất khả... Như vậy, ta
có thể kết luận mà không ngại vơ đoán và vội vă, là thơ miền Nam
chưa có đường bay rơ ràng hoặc phiêu phất và tản mạn nhiều hướng.
Cái gọi là “vị nghệ thuật hay vị nhân sinh”, dầu sao, chỉ c̣n
là chuyện cổ tích của một thời. Ai sao cũng được. Hơi đâu mà xác
định cho đường bay của thơ. Ngoại trừ một số thơ lai căng, nô lệ cho
thế lực nào đó hoặc thơ tối tăm, hiện sinh và hư vô; trên thi đàn
vẫn có nhiều nhà thơ định h́nh, sáng giá và sống lâu...Cái đẹp vẫn
hiện hữu. Thơ vẫn là món ăn tinh thần cao sang của xă hội, không chỉ
là sản phẩm độc quyền của nhóm “Trung tâm văn bút” ädo chính quyền
bảo trợ.
C̣n
hiện nay? Quả thật là khó nói. “Thơ”- trong ngoặc kép - xuất hiện
như rác giữa chợ chiều. Nhan nhăn thơ. Ngồn ngộn thơ. Phồn thực
thơ... Dường như có một số nhà thơ trẻ muốn đánh đố độc giả nên đă
cố ư bí hiểm, thiếu nghiêm túc và thiếu kiến thức ngữ pháp căn bản
khi sử dụng con chữ, coi thường tinh hoa trong sáng của ngôn ngữ
Việt. Rất nhiều bài thơ với những vỏ âm thanh lắp ghép, biến tấu rối
mù, thông tin ngữ nghĩa được đóng bít, giấu kín... Do biến động của
nền kinh tế thị trường và sự giao lưu phồn tạp của các luồng văn
hóa- kể cả phi văn hóa- thơ dường như được tiếp thêm nhiên liệu và
sức sống bản năng nên nó thay vỏ rất nhanh để bắt kịp với các trào
lưu hiện đại. Họ sợ bị tụt hậu. Thế là giữa đống thơ ngổn ngang, rời
rạc các con chữ là h́nh ảnh đứt khúc của cảm xúc, câu cú, ư tưởng...
nhảy múa trong một vũ điệu loạn cuồng; hời hợt, nông nổi, thiếu vắng
chiều sâu văn hóa và thiếu cả sự tỉnh táo trí thức nữa.
Tuy
nhiên, nếu lớp trẻ thiếu tỉnh táo th́ người già phải tỉnh táo. Tỉnh
táo để thấy rằng, hiện tượng khác với bản chất. Sự t́m kiếm, ḍ
đường ấy là cần thiết. Sự trở trăn, vật vă ấy là cần thiết. Sự rối
mù, loạn xà ngầu ấy là cần thiết. Sự thai nghén nào cũng quằn quại
tâm sinh lư. Sáng tạo không bao giở là cái tĩnh chỉ, bất động. Những
hiện tượng bất ổn, rối ren của “thơ mới” trên sách báo hiện nay là
dấu hiệu đáng mừng để chuẩn bị cho một cuộc lột xác ngoạn mục. Vấn
đề là thời gian. Các giá trị thẩm mỹ, trong bản chất, chúng sẽ tự
sàng lọc, tinh chế để đáp ứng cho nhu cầu mến yêu vốn rất quư phái
vàø thanh khiết của tâm linh thơ. Các nhà phê b́nh văn học phải có
cái tâm mát mẻ và rộng răi, phải có cái trí nh́n xuyên qua hiện
tượng để tiếp cận cái bản chất. Nên hướng dẫn dư luận thẫm mỹ hơn là
đả kích hiện tượng xă hội. Bởi dù sao nó cũng chỉ là hiện tượng xă
hội, luôn luôn nhấp nhô, ch́m nổi, xáo trộn để t́m sự quân b́nh. Rồi
những cái“không phải thơ”sẽ tự động đào thải hoặc rút lui vô điều
kiện.
Tôi có đọc được một số tác phẩm của một số nhà thơ
trẻ, không nhiều lắm, được giải thưởng của Hội Nhà Văn chừng hơn
mươi năm về trước như Trương Nam Hương, Nguyễn Quang Thiều... Thơ họ
có dáng vẻ mới mẻ của ngôn ngữ, của cấu trúc, của tu từ và h́nh
tượng nghệ thuật nên đă phát lộ được nhiều tầng tư duy và cảm xúc.
Trong chừng mực nào đó, họ đă lao động nghiêm túc, có sở học và họ
biết rơ ḿnh trao gởi thông điệp ǵ. Cái mới ở nơi họ chỉ là sự kế
thừa, tiếp sinh lực cho truyền thống, cũng từ một ḍng chảy nhưng
qua một khúc quanh khác gồ ghề, lồi lơm hơn mà thôi. Đẹp, hay, chưa
dám quyết nhưng c̣n tồn tại trong ḷng độc giả. Lại có một số nhà
thơ trẻ khác nữa mà các tạp chí hay nhắc đến như Văn Cầm Hải, Ly
Huyền Ly, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư... cũng được độc giả chú ư,
khen chê bất đồng. Điều ấy có lẽ đúng do diện mạo thẩm mỹ ở nơi thơ
họ chưa được định h́nh, c̣n có đâu đó một số sạn sỏi va động lạo xạo
khó hiểu... nhưng dầu sao đă có nét riêng. Tuổi trẻ cố tạo phong
cách cho ḿnh thường vấp váp điều đó. Tuy nhiên, ta hăy chịu khó đọc
lướt qua và nắm bắt cho được linh hồn của kư hiệu- những thông tin ở
ngoài con chữ- ta sẽ hiểu họ nói ǵ. Với điều kiện, tế bào năo của
ta cũng phải được trẻ hóa hoặc thoát ly khỏi phạm trù của những h́nh
tượng cũ, khái niệm cũ đă ám khói quá lâu trong tâm thức của lớp thế
hệ “thuận nhĩ” trở lên.
Tuy
nhiên, thời gian mới là bậc thầy thẩm định uyên bác và chín chắn
nhất. Sự khen chê hiện nay trên thi đàn đa phần là do cảm tính bọt
bèo của lớp trẻ đồng lứa; các nhà phê b́nh học thuật khôn ngoan, già
dặn họ chưa “phán” vội. Khó lắm! Tập thơ “Thư mùa đông” của Hữu
Thỉnh bị Tô Hoài chê là: “Một gánh đồng nát của các con chữ”;
nhưng lại được Trần Mạnh Hảo ca tụng hết lời. Tập thơ của Nguyễn
Quang Thiều được giải nhưng lại bị Trần Mạnh Hảo đập cho tả tơi! Thế
đó.
Vậy
th́ hiện nay, thơ mới đă có đường bay hay chưa? Rơ ràng là những
cánh chim thơ đang bay luẩn quẩn loanh quanh hoặc đang thăm ḍ trời
cao bể rộng thế nào. Một thi pháp học cho thơ mới, một chân trời
mới cho thơ mới đang c̣n dưới dạng bản thảo. Chúng ta có thể
ngồi tĩnh tọa và an nhiên chờ đợi, chắc chắn sẽ uống được một chung
trà ngon được ướp sương mai và nắng sớm.
II- Đường bay của thơ, thiền và thơ thiền:
Có
người nói thơ rất gần với thiền. Thơ có đường bay th́ thiền cũng
phải có đường bay.
Thơ
bay vi vút trong không gian thẫm mỹ ước lệ. Thiền bay thênh thang
trong cơi tĩnh mặc, trong sáng và vô duy. Thơ là tinh hoa của ngôn
ngữ, làm cho con chữ lấp lánh nhiều sắc màu, ư tượng; lung linh đa
chiều tư duy và cảm xúc. Thiền là tinh hoa của minh triết đông
phương, là đóa trăng soi giữa miền u tĩnh, đánh thức vô minh, vọng
lầm để tao ngộ với quê hương sơ thủy. Thơ là sự suy tưởng của triết
lư thất bại, là giấc mơ tại thế, là cánh chim ước vọng bay vào giấc
mơ riêng tư, cô đơn nhưng lạiø xa rộng khôn cùng. Nó c̣n muốn nhảy
vào cả hố thẳm vô thức câm nín nữa. Thiền là miền đất bên kia, thuộc
lănh địa của tâm năng trực giác, là chỗ mà lư trí tuyệt lộ, là ngôn
ngữ vô ngôn của cố quận thuở ư tưởng và khái niệm chưa sinh ra đời.
Thơ thuộc về những tế bào nhạy bén của tim và của óc. Thiền thuộc về
con mắt xanh của tâm và tuệ, là cơi thanh trong, vô nhiễm của kiến
tri, không lây uế bản năng lông lá thuở sơ khai...
Vậy
xin ai đó đừng đánh đồng giữa thơ và thiền. Giữa giấc mộng vừa miên
man vừa “đa sự” của thơ và giữa ngôn ngữ tỉnh thức, giác ngộ của
thiền không liên hệ ǵ với nhau. Nó c̣n cách nhau nhiều cánh cửa,
đôi khi chỉ một sợi tóc cũng khó nh́n ra chân tướng. Tuy nhiên, có
điều thật kỳ lạ là có thơ của nhiều tác giả cũ và mới rất giống
thiền. Và trong những trường hợp như thế ta có thể coi là thơ thiền
được không?
Ta
có thể đọc một số câu rồi lắng tâm mà nghe thử:
“- Với tay chạm khẽ vào hư ảo
Đánh thức hồn ta tiếng nguyệt vang”
(Ngọc Quế)
“- Th́ xin hạt cát làm tâm ngọc
Đau đớn vo tṛn một kiếp trai”
(Thạch Văn
Thâu)
Đấy,
nó có khác ǵ thơ thiền đâu? Phải nh́n thấy “khổ đế”của trần gian,
phải lịch trải trong cuộc tồn sinh, phải bị đoanh vây giữa muôn
trùng hư vô và ảo ảnh... mới thai nghén được những câu thơ rất gần
với thiền như vậy.
Nếu
chịu khó sưu tầm trong kho tàng thi ca thơ Việt th́ thơ giống thiền
như thế có thể là cả một tập sách dày. Vậy th́ thơ giống thiền và
thơ thiền thật sự khác nhau ra sao? Đây là cả một công tŕnh sưu
khảo dài hơi và đầy tâm huyết của các nhà nghiên cứu chuyên môn. Tuy
nhiên, trong một chừng mực nào đó, ta có thể phân chia thành hai
không gian: không gian ở tầng bậc ư thức, lư tính và coi đây là cơi
miền của thơ có tư tưởng thiền; không gian thứ hai ở tầng bậc
trực giác, tức là cảm quan thấy ngay thực tại, chưa qua sự
chế biến của các ư niệm chủ quan – và đây chính là thực địa, là quê
hương của thơ thiền. Bây giờ ta hăy làm một cuộc hành tŕnh khám
phá chân diện mục của chúng ra
sao!
1%- Không gian có tư tưởng thiền:
Không gian này thật là mênh mông, vô lượng. Và dường như, khắp nơi,
khi nói đến thơ thiền th́ chúng đều ở trong phạm vi hoạt dụng của ư
thức, tức là thuộc không gian có tư tưởng thiền. Đại lược, những
bài thơ có tư tưởng thiền thường có những nội dung như sau:
-
Có tư tưởng Phật học, thiền học...
-
Có những t́nh cảm thanh cao, thoát tục...
-
Yêu cảnh vắng lặng, u tĩnh, thanh b́nh, nhẹ nhàng, trong sáng, nhàn
thoát...
-
Yêu các giá trị xuất thế như niết-bàn, vô vi, giải thoát nhưng diễn
đạt chúng bằng lư trí, bằng tư duy khái niệm...
-
Yêu các giá trị tại thế như từ bi hỷ xả nhưng thường sử dụng công cụ
tư tưởng để tỏ bày, lư giải, chứng minh...
-
Kinh qua sự lịch trải, chiêm nghiệm trên đường đời nên có những nhận
thức, cảm xúc rất gần với Phật giáo.
-
Cái nh́n về sự thật, lẽ phải, t́nh thương chung một ḍng đạo lư Đông
phương.v.v...
Từ cái thước đo ấy, hàm lượng ấy, lạ lùng làm sao,
những bài thơ của các vị thiền sư Lư, Trần đa phần chúng đều thuộc
về không gian này, tức là những bài thơ có
tư tưởng thiền chứ chưa phải là thơ thiền.
Giá
trị của những bài thơ thiền này đă vượt không thời gian, đă bất tử.
Cả ngàn năm nay, lịch sử văn học thiền đă xem là đỉnh cao của trí
tuệ (Đạo Hạnh), là cảm hứng siêu thoát, buốt lạnh cả hư vô (Không
Lộ), là thông điệp của mùa xuân vĩnh cửu (Măn Giác), là triết lư
hành động giữa cơi vô thường, có không, sinh diệt (Vạn Hạnh)... Đến
đây, ta có thể thấy chúng tương cận với thơ của “người đời”- dẫn
lược ở trên - xiết bao. Chỉ có một chút khác biệt, là nhờ các vị
thiền sự sống thiền nên tư tưởng thơ thiền của họ lạc quan hơn, tiêu
sái và an nhiên hơn.
Trong kho tàng văn học thiền từ xưa đến nay đa phần là thơ có tư
tưởng thiền, hiếm có thơ thiền. Rồi chúng ta sẽ nói rơ về
điều ấy.
2%- Không gian thơ thiền:
Là không gian của trực giác, là thế giới của tỉnh
thức hiện tiền. Đây là miền đất thuộc thẩm quyền của tuệ giác, với
tâm thái vô duy để chụp bắt và nh́n ngắm rỗng rang
cái- đang-là, chưa qua sự chế biến của t́nh cảm, quan
niệm, tư kiến chủ quan.
Hiện nay, không gian này rất thưa vắng gót chân thơ.
Chính những triết lư cao siêu, những lư giải bác học, những ư tưởng
thâm thúy, những h́nh tượng mỹ học diễm lệ... đă đóng bít cánh cửa
này. Vả chăng, không phải nhà thơ nào cũng có đủ kích thước tâm linh
để dạo chơi không gian này- là thế giới mà dường như cái lấp lánh
của ngôn ngữ, cái lung linh của những h́nh tượng nghệ thuật chẳng có
đất dụng vơ. Đây là thế giới của khách quan, lạnh lùng, vô cảm... Nó
chẳng hay, chẳng đẹp, chẳng nghệ thuật, chẳng mỹ học, chẳng nhân
bản, nhân văn, nhân t́nh ǵ cả! Ai cũng tưởng
là vậy!
Xin
giới thiệu một số bài thơ ở không gian thiền này:
“- Cái ao xưa
Ếch nhảy vào
Tiếng nước xao”
(Basho)
Cái ao xưa là cái ao cũ, thế thôi. Nó chẳng phải là
cố quận, là quê hương sơ thủy, là bản lai diện mục ǵ ǵ cả. Đừng
khoác cho nó một ư nghĩa, một giá trị,
một tư tưởng thâm thúy, ẩn mật nào. Nhân sinh đă từng thông khổ,
điêu đứng, lầm than bởi những ư nghĩa, giá trị ước lệ, phù phiếm và
rỗng không ấy quá nhiều rồi. Vả chăng, chúng là những nhăn hiệu trá
h́nh, tạo nên tương tranh và xung đột. Thiền chụp bắt trong sáng,
vô duy, trực đối thực tại, giải thoát toàn măn mọi tri kiến. Đừng
khoác cho nó một hào quang, một vương miện quư phái nào. Con ếch
nhảy và tiếng nước xao là h́nh ảnh, là âm thanh nhân quả hiện tiền.
Là cái đang là sống động, chân thực, hiện
tồn và mới mẻ.
Ta
hăy đọc thêm bài khác:
“- Ta nh́n sâu xa
Dưa nằm trong cỏ
Dấu mấy nụ hoa”
( Basho)
Nh́n sâu xa là cái nh́n của thiền. Một cái nh́n lắng
đọng, thông đạt,
trong suốt, không mổ xẻ, phân tích, suy diễn lung tung. Dưa nằm
trong cỏ, dấu mấy nụ hoa. Thế thôi. Cái đẹp b́nh dị, ẩn dật,
khiêm tốn ấy chúng luôn có sẵn xung quanh ta, nhưng không phải ai
cũng thấy được. Thế gian thường nh́n thấy những h́nh danh, sắc
tướng... những biến hóa hư ảo cùng những đối tượng mê ly, hấp dẫn vị
dục kia!
Một
bài khác:
“- Gió lay bụi trúc vàng
Bên thềm hoa nắng vỡ
Ô
ḱa! Giàn phong lan
Một nụ hoa mới nở”
(Viên Minh)
Thiền là thấy ngay, chụp bắt ngay cái thế giới đang là, sống động:
Đang lay, đang vỡ, đang nở...
Mọi
sự, mọi vật, mọi hiện tượng, tâm hay cảnh... luôn đang trôi chảy,
dịch hóa, không có ǵ có thể tĩnh chỉ, bất động được. Tất cả đang
chuyển động, biến đổi dù một sát-na, một hạt bụi. Chúng luôn luôn
“tương động”.
Lại
có những câu thơ rất giản dị, nh́n thấy như thế nào th́ nói ra như
thế ấy – cái chân, cái như thực- thuộc về không gian thiền:
“- Xuân đi, đóa đóa hoa rơi
Xuân về, đóa đóa hoa tươi thắm màu
Việc đời trước mắt qua mau
Tuổi già chợt đến trên đầu thế a!”
(Măn Giác)
Cho
chí bài thơ:”con cóc”cũng rất là thiền:
“- Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi”
V́
đấy là h́nh ảnh, sự vật đang vận động, tuần tự hiển hiện trong
không- thời- gian thực.
Tuy
nhiên, nếu diễn đạt quá khô khan, quá trần trụi như thế th́ đâu c̣n
là thi pháp, là mỹ học, là yếu tính của thi ca nữa? Nó chỉ là bức
tranh vô cảm. Là thông tin theo kiểu kết hợp từ của thường ngữ,
không phải là thơ. Cũng diễn tiến h́nh ảnh và sự việc như vậy, nhưng
thêm chút t́nh, chút hoàng hôn, chút hương trầm nữa th́ nó lại khác:
“- Khách về trời chưa tối
Nhẹ tay khép cổng sài
Quay lưng hiên nắng nhạt
Hương trầm thoảng thư trai”
(Vô Danh)
Đấy
là thiền, là cái hoạt dụng tự tại đang trôi chảy trong không gian
vắng lặng, thanh b́nh.
Vậy, thơ thiền th́ chẳng có ǵ phải b́nh giải, luận
bàn, phân tích cả. Thơ thiền giản dị như: “Anh ăn cơm chưa”, “Dạ
rồi”, “Th́ uống nước đi”. Thiền với đôi mắt xanh trong suốt, với đôi
bàn tay mở ra, với trái tim và hơi thở cùng nhịp đập và chuyển động
với hiện tồn. Chẳng có ǵ bí mật, ẩn khuất, đa sự... trong ngôn ngữ
của bậc đạt ngộ. Ai muốn đi t́m những lư giải cao thâm, những ư
nghĩa huyền vi, những mật mă siêu h́nh, những cảm-hứng-ngữ trầm
hùng, siêu thoát th́ hăy đến với những bài thơ có tư tưởng thiền.
Nhưng hăy dè chừng một điều: Những ư tưởng thâm trầm, hay ho, những
luận giải thâm uyên, bác học- như thiền luận của học giả Suzuki- th́
chỉ như ngôn ngữ của người ngọng: “Ú ớ...u ơ” ở bên này mép ŕa của
thực tại mà thôi. Nhà học giả Suzuki đă có tâm huyết và tấm ḷng ban
tặng cho lư trí Tây phương những món ăn ngon béo bổ, nhưng đă giết
chết mầm giống tâm linh trực giác của thiền. Có lẽ trong tất cả
chúng ta ở đây, ai ai cũng đă từng nghe tuyên ngôn của thiền Đông
độ: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt
truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”
Triết lư thất bại, thơ ca mới xuất hiện. Lư trí thất
bại, thiền mới mở đường. Thật
khá thương cho ai cứ cổ súy thơ ca phải hướng đến triết lư. Thật khá
thương cho ai muốn dùng kiến thức, lư trí và cả viện hàn lâm để hiểu
thiền! Xin thưa, thiền có thể hiểu, có thể biết; hiểu và biết ở
những khái niệm khô rỗng chứ chưa bao giờ là thực tại. Thiền là cái
thấy, là phạm trù của tuệ giác, của chứng nghiêm tự thân. Ở đây là
giọt nước trong mát tự đầu nguồn.
Để kết luận,
Thơ, khi đă định h́nh th́ nó có đường bay. Đường bay
thấp, đường bay
cao, đường bay la đà, đường bay ngất ngưởng, đường bay phiêu hốt,
đường bay yêu thương ngọt ngào trần lụy, đường bay khinh linh hạc
trắng ngàn sương... Có một vài đường bay ngẫu nhiên ngẫu nhĩ đâu đó
của thơ sẽ bắt gặp đường bay của thiền trong cuộc tao phùng hy hữu
kỳ ngộ.
C̣n chân trời? Mọi chân trời đều thất bại. Có chân
trời là có vọng cầu, toan tính, ước vọng. Có chân trời là có lư
tưởng, có sở dục tương lai. Mọi lư tưởng,
mọi tương lai đều bất thực, nó chính do bản ngă và vọng tưởng phóng
hiện ra.
Không biết tôi có tự tin và chủ quan quá không khi
xác quyết rằng: Thơ thành tựu cho chính nó,
trong đường bay của chính nó, tự do và vô tận mà chẳng tuyên ngôn vị
nghệ thuật. Thiền thành tựu cho chính nó, trong đường bay của chính
nó mà không tuyên ngôn vị nhân sinh. Cả hai, chúng quên ư nghĩa vàø
mục đích, quên cả chính nó – nhưng mỹ học và nhân văn th́ tồn tại.
Cả
thơ và thiền đều như trăng, chẳng soi chiếu cho ai mà làm sáng cho
tất cả. Trăng, c̣n để dành cho khách lăng tử và bạn tri âm. Đôi khi
nó đối ẩm với chính ḿnh, cỏ hoa và cả trời đất nữa...
Huế, HKST, Am Mây Tía
Minh Đức Triều Tâm Ảnh