Những mùa trăng Vesak - Tôn Vinh Ðức Phật

 

  Bài viết Hạt Cát - PL 2550

Trăng khuya thấp thoáng ngoài song cửa nhắc nhở tôi lại sắp đến đêm rằm. Bóng trăng phố thị viễn xứ không có những hình ảnh thân thương ngọn cau tàu chuối, đậm đà tình tự quê hương, chấm phá phụ họa cho đêm rằm thêm thi vị, bao năm qua quê người bận bịu áo cơm, hầu như đã không còn là một hứng thú cho thế giới của riêng tôi nữa. 

Ở đây mùa đông băng giá kéo dài nên trăng thường trốn mất trong bầu trời tuyết sương ảm đạm. Thỉnh thoảng, tôi cũng bắt gặp một thoáng ánh trăng chiếu qua phòng văn một trượng vào những đêm miệt mài làm việc đến tận khuya, chỉ một mảnh trăng tí xíu, chưa kịp buông lơi bận rộn ra để nâng niu mảnh trăng hiếm hoi kia thì trăng đã đi qua.

Ðêm nay, ánh trăng lại tình cờ chiếu qua phòng, buông bàn phím tôi nghiêng mình ngó ra khung cửa. Trăng tròn vành vạnh, nhỏ xíu trên nền trời thăm thẳm. Một thoáng bâng khuâng , và rồi tôi tự hỏi, đêm trăng nào được gọi là đẹp nhất nhân gian? Bao mùa trăng đã đi qua. Bao tháng ngày đã không bao giờ còn có thể tìm lại được. Mùa trăng tháng Tư là mùa trăng gây ấn tượng trong tôi nhiều nhất.

Mùa trăng không chỉ nhắc nhở tôi ngày tháng trong đời đã hao mòn thêm tí nữa mà còn nhắc cho tôi, một mùa trăng lễ hội quan trọng đối với tất cả những người con Phật.

Mùa trăng Vesak ! Mùa trăng lễ hội Tam Hợp. Không quan trọng sao được chứ, ngày đản sanh, ngày thành đạo, ngày nhập diệt của Ðức Phật, ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời Ðức Phật đều xảy ra vào mùa trăng tháng Vesak đó mà.

Mùa Phật Ðản năm nay lại sắp sửa trở về. 2550 năm đã qua đi. Con số 2550 năm đối với một người bình thường thì nó …rất đỗi bình thường, nhưng đối với những người con Phật như chúng ta, nó mang một ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Cả thế giới, đâu đâu cũng rộn ràng chuẩn bị tổ chức lễ hội Khánh Ðản này hàng tháng trời trước đó, nhất là xứ sở quê hương của Ðức Phật, Ấn Ðộ, Nepal.

Người ta đã chuẩn bị chào mừng mùa lễ hội này từ hồi năm ngoái, và để đón mừng, người ta không chỉ tổ chức trong một ngày, một tuần hay một tháng mà đại lễ kỷ niệm sẽ là một chương trình kéo dài liên tục hàng tháng trong suốt năm tại các trụ sở chính của Hội MahaBodhi Ấn Ðộ ở Tu Viện Dharmarajika Vihara, Calcutta, Buddha Gaya, New Delhi và tại các trung tâm khác ở Lucknow, Bhubaneswar, Shravasthi, Lumbini (Nepal Terai), Saranath và Kushinagar (Kusinara) v.v.. với những chương trình chi tiết phong phú đặc sắc cấp quốc gia do các nhân vật số 1, số 2 trong nước ngồi ghế chủ tọa, ví dụ như tổ chức các hội nghị chuyên đề, xuất bản kinh điển bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, xây dựng trung tâm đào tạo tăng tài, tổ chức các khóa tu học v.v

Nhân loại ngày nay, những ai nhận chân được giá trị của Phật giáo đều tri ân Ðức Phật, tôn vinh Ðức Phật. Các nhà trí thức trong thời cận và hiện đại đã không tiếc lời xưng tán Ðức Phật và giáo pháp của Ngài. Ngày nay, phương tiện truyền thông, truyền bá tối tân, phổ cập, các loại hình văn hóa tôn vinh giáo pháp và Ðức Phật được thể hiện trên nhiều lãnh vực qua các phương tiện vật chất đa dạng, dĩ nhiên bao gồm luôn cả những loại hình đã được người xưa sử dụng.

Thời chưa có giấy bút, để tưởng nhớ hình bóng của Ngài, để tôn vinh Ngài, trong hai lãnh vực văn học và nghệ thuật,.hầu như chỉ có lãnh vực nghệ thuật là để lại nhiều tác phẩm nhất.

Trong lãnh vực văn học, số lượng kinh điển khổng lồ của cả ba hệ phái hầu hết là lời dạy của Ðức Phật được các bậc thánh đệ tử ghi chép lại và khai triển thêm, cho nên, tìm một tác phẩm chỉ nói lên khía cạnh tôn vinh Ngài thì dường như không có nhiều, vài tác phẩm đại khái như Phật Sở Hành Tán ( Buddha carata), tán thán Ðức Phật của Ngài Mã Minh, (Asùvaghosa) sống vào thế kỷ thứ hai, sau ngài Mã Minh thì có Ngài Màtrìcetìa soạn Tứ Bách tán (Catuhï-sùataka-stotra) và Nhất Bách Ngũ Thập Tán Phật Tụng (Sùata-panõcasùatikà-stotra) v.v... Riêng trong lãnh vực nghệ thuật như hội họa , điêu khắc, kiến trúc v.v… người ta đã khắc, chạm hình ảnh cũng như lời giáo huấn trên vách đá trong hang động, trên thạch trụ, trên bi ký v.v…

Ngoại trừ số kinh điển được khắc lên đá, lên bia, phần còn lại qua sự sáng tạo của nhân loại, hình ảnh Ðức Phật và những biểu tượng được thể hiện bằng nhiều khuynh hướng điêu khắc, chạm trổ khác nhau, nổi bật nhất có lẽ phải nói đến khuynh hướng nghệ thuật Gandhara, phiên âm Việt Kiền Ðà La. Thời đại hoàng kim của nghệ thuật điêu khắc Phật Giáo Ấn Ðộ với 85,000 ngôi tháp từ thế kỷ thứ 4 sau Tây lịch như Sarnath và Sanchi, Gandhara và Mathura do Vua A Dục chỉ đạo là một chứng minh hùng hồn nhất.

Trong khi Sanchi và Sarnath nổi tiếng với đền tháp thì Gandhara và Mathura lại thiên trọng về hình tượng. Nghệ thuật điêu khắc Gandhara đã chiếm lĩnh một vị trí nổi bật trong các viện bảo tàng của Anh, Pháp, Ðức, Hoa Kỳ, Nhật, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Trung Quốc, A Phú Hãn và trong nhiều bộ sưu tập tư nhân. Cho đến gần đây người ta vẫn tiếp tục khai quật và khám phá thêm những khu di sản thánh tích Phật Giáo rải rác trên đất nước Ấn Ðộ và các quốc gia lân cận như Pakistan, A Phú hãn. v.v.. Các cuộc triển lãm nghệ thuật Phật Giáo vẫn được tiếp tục tổ chức đó đây trên những thành phố có tầm quan trọng trong mọi lãnh vực, nhất là New York. Nhiều khu vực thánh tích hiện nay đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới.

Quay sang Trung Hoa, ta được biết Trung Hoa có ba thạch động với nhiều di tích Phật Giáo (nhất là điêu khắc tượng Phật vào đá), đó là động Long Môn (tỉnh Hà Nam), động Ðôn Hoàng (tỉnh Cam Túc) và động Vân Cương (tỉnh Sơn Tây). Trong ba động ấy, Ðộng Vân Cương là có di tích lớn nhất, đẹp nhất và lâu đời nhất, có từ thời Bắc Ngụy (439 sau Tây Lịch).

Vân Cương Thạch Ðộng, nằm ở duới chân núi Vũ Châu, cách thị trấn Ðại Ðồng 16 km về phía tây. Vân Cương Thạch Ðộng có tất cả hơn 1,100 cái hang động và hang nhỏ (hốc) với 5,100 bức tượng. Nhưng chỉ có 53 cái động chính là đáng chú ý, có 9 bức tượng lớn cao trên trên 10m, cao dưới 10m có hàng 48,000 bức tượng Phật & Bồ Tát, và có hơn 3,000 tượng chư thiên hộ pháp. Những động chính chia làm 3 phần: Phần bên phải lối vào gồm động số 1 đến 4, phần chánh điện gồm động số 4 đến 13, phần bên trái từ động 14 đến 53.

Quần thể di tích Ðôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, nơi mà thương nhân đi lại trên con đường Tơ Lụa đã dừng chân khiến sinh hoạt xã hội cũng như sinh hoạt tôn giáo nơi đây bùng nở rộ gồm 492 hang động, tổng cộng 45,000 mét vuông bích họa, 2415 bức tượng, Ðôn Hoàng được các nhà khảo cổ xem đó là nơi chứa những mảng nghệ thuật Phật giáo lớn nhất và tuyệt vời nhất trên thế giới. Chỉ riêng Thạch động Mạc Cao của Đôn Hoàng là đã có con số hàng ngàn tượng Đức Phật được khắc vào vách đá trải dài khoản 1,600 meters dọc theo miền đông của ngọn đồi Mingsha nằm cách 25 km về phía đông nam của Đôn Hoàng. Người ta gọi động này là Thiên Phật Ðộng. Đường Triều được ghi nhận rằng hang động thứ nhất trong thạch động Mạc cao đã được thành hình vào năm 366 trước Tây lịch. Vào năm 1987 cơ quan UNESCO đã ghi nhận Ðôn Hoàng là một di sản văn hóa của thế giới.

Các tác phẩm nghệ thuật tôn vinh Ðức Phật không chỉ gồm một số các thạch động và những hình tượng, biểu tượng điêu khắc mà ta trông thấy đó đây. Còn rất nhiều những tác phẩm trong các lãnh vực khác như kiến trúc, hội họa, âm nhạc v.v…cũng không kém phần quan trọng, nhưng giới hạn của một bài viết ngắn này đã không cho phép làm công việc tra cứu nhiều hơn. Tuy nhiên, trước khi trở lại với câu hỏi đêm trăng nào đẹp nhất nhân gian, xin đi lan man một chút vào lãnh vực thi ca Việt Nam để xem một vài tác giả tri ân và tôn vinh Ðức Phật ra sao.

Chúng ta hãy nghe Quách Tấn nhẹ nhàng, thong thả và thanh thóat với hương hoa Ưu Ðàm mấy ngàn năm mới nở qua bài Thoáng Hiện.

Nghìn trước không còn nữa
Nghìn sau rồi cũng không.
Phảng phất bờ trăng rạng,
Hương Ưu đàm trổ bông.

Lắng nghe và mường tượng hình ảnh cảm động trong giây phút thiêng liêng đêm thành đạo với mấy câu trong bài Vằng Vặc Trăng Sao. 

Sao mai vừa mới mọc,
Vằng vặc bóng trăng ngần
Thế gian bừng chấn động,
Ánh Ðạo Vàng thênh thang .

Nghe thêm Phạm Thiên Thư chấm phá vài nét trang ngiêm không gian pháp hội qua mấy câu trong Kinh Ngọc, một tác phẩm thi hóa Kinh Kim Cang.

Trên trụ đá mây đỏ   
Trải chiếu cõi lưu ly   
Phật kết kim cương tọa   
Chim tụng pháp diệu kỳ 

Hai ngàn năm trăm vị   
Tỳ-kheo rực pháp-y   
Dưới thềm đá mây nổi   
Dưới thềm hoa uy nghi 

Một cõi thơ khác mang tính chất ý nghĩa giáo pháp nhiệm mầu cũng nằm trong thi phẩm Kinh Ngọc

Như-Lai là diệu nghĩa   
Như như vạn pháp thường   
Xưa nay không một pháp   
Như bóng chớp hoa sương 

Không một pháp bồ tát   
Không ta cũng không người   
Không trang nghiêm cõi phật   
Mật nguyện hoa vàng tươi ! 

Và bước nhẹ vào cõi thơ Trụ Vũ để thâm niệm ân đức hương vị pháp bảo trong bài Chỉ Một Lần

Hương thơm người Giác Ngộ, 
Chỉ một lần gặp gỡ, 
Đủ thơm mãi đời ta. 
Nụ cười người Giác Ngộ, 
Chỉ một lần hoa nở, 
Đủ đẹp mãi lòng ta. 
Bàn tay người Giác Ngộ, 
Chỉ một lần ngón trỏ, 
Đủ tỏ mãi đường ta.

Và thêm một lần nữa hãy nghe Toại Khanh, thế hiệu một nhà sư tự nhận mình là cuồng tăng, là du sĩ với những dòng thơ hào phóng nhưng cũng không kém bi hùng, trăn trở với hành trình vượt qua miền hệ lụy thế gian đã cảm nhận ân đức Phật trong bài Thương Phật như thế nào.

Một chiều vắng, ngồi ôm chân Phật tượng, 
Thương quá chừng, ôi ! bóng dáng Từ Tôn. 
Con bé nhỏ bên tình Ngài vô lượng, 
Lá me nằm giữa cõi nắng hòang hôn.

Và thêm thấm thía với lòng cảm kích vô ngần của Sư trong bài Vác Tượng.

Ô hay, Phật vẫn mỉm cười 
Thì ra Ngài vẫn bên đời với con ! 
Dẩu mai biển cạn, non mòn 
Nét môi vi tiếu xin còn thiên thu…

Và trong  « Tượng Khuya », ta chợt nhận ra đâu đó nỗi thâm cảm của tác giả với nụ cười từ bi trên môi Ðức Phật.

Con ngồi nhìn Phật giữa khuya 
Trăng xưa Linh Thứu 
Chợt về bên hiên 
Trước sau 
Một nụ cười hiền 
Phật bao dung hết 
Muôn niềm phàm tâm

__(())__

Trở lại với những mùa trăng của nhân loại, nếu có ai hỏi tôi, mùa trăng đẹp nhất của nhân loại là mùa nào thì tôi không ngần ngại mà nói ngay rằng, theo cảm nhận của riêng tôi thì mùa trăng Vesak là mùa trăng đẹp nhất, và có lẽ , đêm trăng đẹp nhất trong mùa là cái đêm mà Thái Tử Sĩ Ðạt Ta rời bỏ hoàng cung, băng ngàn vượt suối, xông pha trên đường thiên lý. Theo dõi bước chân của Ngài chỉ có ánh trăng vằng vặc trời cao, vầng trăng soi rọi lên con người có ý chí sắc đá ấy. Giữa đêm trường quạnh vắng năm xưa, nếu bước chân của Ngài chùng lại thì nhân loại ngày nay sẽ mãi đắm chìm trong khổ đau tăm tối triền miên.

Ôi Ðức Phật của con ! Ôi mùa trăng Vesak !

Hạt Cát – (Với sự tham khảo nhiều nguồn tài liệu.)

 

 

---—Øv×–---