PHẬT
GIÁO THỜI NHÀ LƯ-NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC
Chơn Hữu
Lịch sử luôn là
những bài học quư giá và măi măi là tấm gương cho hiện tại. Tiếp cận
Phật giáo bằng phương pháp sử quan, chúng ta sẽ nhận thấy Phật giáo
là một hệ thống tư tưởng tích cực, nh́n thẳng vào những vấn đề bức
xúc nhất của vận mệnh dân tộc, và đă giải quyết những vấn đề ấy theo
phương cách tốt nhất. Nh́n lại suốt chiều dài lịch sử, ta sẽ thấy
rằng Phật giáo Việt Nam đă luôn sát cánh với dân tộc trong những lúc
thăng trầm cũng như trong sự nghiệp kiến tạo và bảo vệ đất nước.
Trong phạm vi giới hạn, bài viết này chỉ tŕnh bày khái quát một vài
điểm son của lịch sử Phật giáo ở triều đại nhà Lư - triều đại tiêu
biểu nhất mở đầu cho một công cuộc kiến thiết quốc gia độc lập, tự
chủ.
Để thấy rơ vai
tṛ quan trọng và những đóng góp tích cực về nhiều mặt của Phật giáo
trong việc xây dựng nền chủ quyền và phát triển đất nước một cách
đáng tự hào ở triều đại nhà Lư, trước hết, ta điểm qua vài nét bối
cảnh lịch sử đất nước trong giai đoạn trước và sau nhà Lư thành lập.
Từ thuở Hùng
Vương, đất nước chúng ta đă phải chịu rất nhiều cuộc áp bức vô cùng
tàn bạo và đau đớn của người phương Bắc. Nhưng với tinh thần bất
khuất, đất nước ta đă xuất sinh những anh hùng hào kiệt kiên cường
mà ngày nay dân tộc Việt Nam có quyền tự hào và hănh diện bởi chí
khí oai hùng của cha ông ḿnh.
Với chiến thắng
Bạch Đằng lừng lẫy năm 938, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc
gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa. Dân tộc ta bên trong đă dẹp yên được
nghịch thần, bên ngoài đă phá tan được cường địch, anh dũng chặt đứt
xiềng xích nô lệ đầy tủi nhục kéo dài hơn ngàn năm Bắc thuộc. Một
ngàn năm Bắc thuộc là một ngàn nhát dao cắt vào tâm khảm của dân ta,
như một giấc ác mộng mà tất cả người Việt chúng ta c̣n nhắc nhở nhau
để ghê tởm và kinh hăi! Nhưng vừa thoát khỏi nạn ngoại thuộc th́ dân
ta lại phải đương đầu với một loạt những quốc nạn khác. Người anh
hùng dân tộc Ngô Quyền chỉ trị v́ được sáu năm rồi mất năm 944. Từ
đó xảy ra nạn Thập nhị sứ quân, tranh giành xâu xé, tạo ta cảnh nồi
da xáo thịt, huynh đệ tương tàn kéo dài suốt 20 năm (945 – 967), đă
gây ra không biết bao nhiêu tổn thất về nhân mạng và tài sản, đẩy
nhân dân đến chỗ lầm than, cơ cực tận cùng. Măi đến năm 968, Đinh Bộ
Lĩnh mới phất cao ngọn cờ vạn thắng, đánh tan tất cả sứ quân, khôi
phục hoà b́nh và thống nhất cho đất nước. Nhưng chỉ được 3 năm, Đinh
Bộ Lĩnh và con trưởng Đinh Liễn bị ám sát chết (980); đế quốc Trung
Hoa lại ồ ạt xâm lăng nước ta. Lúc bấy giờ, người anh hùng cứu quốc
Lê Hoàn xuất hiện, dẫn đạo hùng binh ra trận, thần tốc đánh tan quân
xâm lược nhà Tống (980), mở đầu cho kỷ nguyên Đại Việt. Tưởng đâu
đất nước đă được yên b́nh sau hai mươi năm nội chiến và cuộc kháng
chiến oai hùng với giặc cướp ngoại xâm Trung Hoa, nhưng giông băo
vẫn tiếp tục phủ xuống, nghịch cảnh vẫn chưa ngừng buông tha. Vị
minh quân Lê Đại Hành là người anh hùng cứu quốc, ông mất vào tháng
3 năm 1005. Khi vua cha vừa nằm xuống th́ các con kịch liệt tranh
nhau ngôi báu, măi đến tháng mười năm 1005, Lê Long Việt lên nối
ngôi. Đăng quang mới được ba ngày, Lê Long Việt bị người em là Lê
Long Đỉnh cho người ám sát rồi cướp ngôi. Lúc này triều thần sợ hăi
chạy tán loạn, duy chỉ có Lư Công Uẩn ở lại ôm xác vua Trung Tôn (Lê
Long VIệt) mà khóc. Long Đỉnh thấy vậy khen là trung thần nên sau
khi lên ngôi liền phong Lư Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy
sứ. Long Đỉnh là một ông vua hôn mê, rất tàn ác và hoang dâm vô độ,
đến đỗi mới hơn hai mươi tuổi đă không ngồi dậy nổi, mỗi khi lâm
triều, y phải nằm trên giường nên sử sách, dân gian mỉa mai gọi y là
Lê Ngoạ Triều. Bản tính Long Đỉnh cực kỳ tàn bạo và ác độc, sau khi
đă gây ra tội ác giết anh cướp ngôi y lại càng tàn bạo hơn.
Ông vua này lấy
việc giết người làm tṛ chơi thường nhật, có khi y sai lấy mía để
trên đầu nhà sư róc vỏ, thỉnh thoảng vờ nhỡ tay bổ dao xuống đầu sư,
trông thấy máu chảy như thế vua thích thú vui cười. Long Đỉnh làm
vua được bốn năm th́ mất, thọ 24 tuổi. Lúc này ḷng người đă oán hận
lên tận mây xanh. Dưới sự cai trị bạo tàn của Long Đỉnh, nhân dân vô
cùng phẫn nộ, căm hờn;ḷng người phân ly, đất nước cùng kiệt, tạo
mầm mống cho cảnh nội chiến, loạn lạc. Tất cả điều ấy chỉ chực chờ
đưa đất nước ta đến một thảm hoạ lớn nhất, khốc liệt nhất – là đất
nước sẽ về tay quân xâm lược phương Bắc, đưa nhân dân ta trở lại
thời kinh hoàng đầy tủi nhục, nô lệ ngoại bang. Chế độ độc tài bạo
trị của Lê Ngoạ Triều đă đem lại cho đất nước ta cảnh bên trong th́
sẽ nội loạn, bên ngoài bị ngoại xâm đe doạ; rơ ràng đó là một quốc
nạn, có thể đưa đất nước ta trở lại cảnh khốn cùng, đưa nhân dân ta
trở lại thời trâu ngựa của hơn một ngàn năm nô lệ. Trước hoạ nội
chiến lớn lao ấy, ai mà không đau ḷng!
Sau đêm dài man
rợ, rùng rợn của thời đại Bắc thuộc, sau một thời kỳ loạn lạc suy
tàn của ba chế độ pháp trị và bạo trị ngắn ngủi Ngô, Đinh, Lê; tất
cả phải được làm lại, tất cả phải được bắt đầu lại. Đó là một sứ
mạng của thời đại! Nhưng sự nghiệp khôi phục và xây dựng một quốc
gia độc lập và thái b́nh là một sự nghiệp vĩ đại! Và phải chờ sự
xuất hiện của một nhân duyên vĩ đại và một con người vĩ đại mới
thành tựu nổi. Đại nhân duyên đó chính là Phật giáo với trí tuệ và
t́nh thương vô lượng cho nhân dân Đại Việt và con người ấy chính là
Thiền sư Vạn Hạnh.
Từ trong ḷng
những chế độ hà khắc hung dữ của tiên triều, thiền sư Vạn Hạnh xuất
hiện, thần tốc vung tay, siêu việt chuyển hoá, dũng mảnh hành hoạt,
đem “trụ tích trấn vương kỳ” (dùng gậy của nhà Phật để trấn
giữ kinh kỳ của nhà vua), hoàn thành một cuộc cách mạng bất bạo động
để đưa Lư Công Uẩn - một Phật tử thấm nhuần tinh thần từ bi, bao
dung, nhân bản, khai phóng của đạo Phật – lên nắm chính quyền. Và để
rồi từ đó mở ra một phương trời mới cho Đại Việt, từ bạo trị sang
đức trị và thăng hoa đất nước từ một xă hội bị ḱm kẹp, sắt máu sang
một xă hội từ bi, thuần hậu.
Nếu mưa nắng
thuận hoà làm cho mùa màng tươi tốt, cây cối đâm chồi kết trái th́
cũng vậy, đạo đức nếu thấm nhuần trong tâm hồn của những nhà lănh
đạo, trong đời sống nhân gian sẽ làm cho xă hội thấm đẫm t́nh người
và làm cho nước nhà đi vào mùa xuân thái hoà, an lạc. Nền đạo đức
Phật giáo không những là nền đạo đức để tu dưỡng nội tâm, để đánh
thức giải thoát khổ đau cho con người mà c̣n là một nền đạo đức có
tính mỹ học thuần hậu để cải thiện và thăng hoa đời sống xă hội.
Chính nền đạo đức có tính nhân bản ấy của đạo Phật chứ không phải
nguyên nhân nào khác đă làm cho xă hội Việt Nam thời đại nhà Lư trở
nên thuần từ, thái hoà và thịnh trị.
Triều đại nhà
Lư, tám đời vua, trải qua 216 năm là một trong những triều đại mở
đầu cho việc xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc. Sau
hơn một ngàn năm sống trong màn đêm thống trị của phong kiến phương
Bắc, với bao nỗi oán hờn chồng chất, nên khi đă thật sự tự do, y
thức được sự nhục nhă của bị cai trị nên dân ta trên dưới một ḷng
để kiết thiét đất nước, mang thái b́nh về cho dân tộc. Triều Lư cũng
là triều đại có tuổi thọ lớn nhất so với các triều đại khác trong
ḍng lịch sử của đất nước Việt Nam. Các vị vua đều là Phật tử, trị
v́ một cách nhân từ, khoan dung theo đúng tinh thần Phật giáo. Đạo
đức Phật giáo đă thấm nhuần trong ḷng dân tộc và xă hội, đạo đức ấy
đă trở thành linh hồn của nền chính trị, thành bản chất của mọi
chính sách quốc gia, thành chính nghĩa và sự chính thống của chính
quyền và chế độ nhà Lư.
Từ một đất nước
loạn lạc trở thành một quốc gia thái b́nh ổn định lâu dài, chính nhờ
các vị vua đă sáng suốt vận dụng nguyên lư nhân bản đạo đức của Phật
giáo vào trong ḷng xă hội.
Lịch sử đă ghi
nhận, công cuộc xây dựng đất nước hoà b́nh, thịnh trị trong triều
đại nhà Lư thành tựu rực rỡ như thế là bởi nhờ những nhà sư Phật
giáo đă tích cực nhập thế, áp dụng những chiến lược sáng suốt để ổn
định đất nước, khai sáng một xă hội đức trị huy hoàng của dân tộc.
Các thiền sư thời Lư, ngoài vai tṛ hướng dẫn tâm linh, hoằng dương
Phật Pháp, c̣n là những nhà giáo dục lỗi lạc. Các thiền sư đă góp
công dạy bảo người đời, đào tạo những thế hệ tri thức cởi mở, không
những thông hiểu Phật pháp mà cả Lăo –Nho để có người hiền tài giúp
nước, để sống với ư thức trách nhiệm làm người chứ không phải làm
quan để mưu cầu danh lợi phú quư. Ngoài Thiền sư Vạn Hạnh, sách
Thiền Uyển Tập Anh ghi lại, người theo học với thiền sư Định Hương,
thiền sư Măn Giác, thiền sư Không Lộ… đông đến hàng ngàn người. Họ
không chỉ truyền dạy giáo lư nhà Phật mà c̣n dạy học tṛ những tri
thức về xă hội, định hướng một cuộc cải cách giáo dục phóng khoáng.
Mỗi ngôi chùa thời Lư là một diễn đàn, một chốn học đường, số người
học không những chỉ thường dân mà c̣n có cả con em của hoàng gia,
quư tộc. Chẳng hạn như Lư Công Uẩn là con nuôi của thiền sư Khánh
Văn và thọ giáo với Thiền sư Vạn Hạnh. Tương truyền, thiền sư Vạn
Hạnh đă cho lưu truyền bài kệ “thập bát tự thành” giúp Lư
Thái Tổ (Lư Công Uẩn) thu phục nhân tâm, đăng quang ngôi vua, dời đô
ra Thăng Long xây nền móng phát triển văn hoá Đại Việt. Người kế vị
là vua Lư Thái Tông (1028-1054) cũng là một vị minh quân và là đệ tử
xuất sắc của thiền sư Thiền Lăo. Vua Lư Thánh Tông (1054-1072) th́
kính trọng thờ thiền sư Thảo Đường làm thầy, lập nên thiền phái Thảo
Đường mang màu sắc dân tộc Việt Nam, nhà vua đă đắc đạo và được
truyền tâm pháp, trở thành Tổ thứ hai của ḍng thiền Thảo Đường. Vua
Lư Nhân Tông (1072-1127), sắc phong thiền sư Khô Đậu làm Quốc sư. Từ
năm 1128 đến năm 1125, nhà Lư vẫn thịnh trị và Phật giáo luôn là
Quốc giáo. Những vị vua kế tiếp đều phát tâm tu hành theo đạo Phật.
Ông vua cuối cùng của nhà Lư là Lư Huệ Tông (1211-1225), v́ chán đời
sống vương giả, từ bỏ ngai vàng, xuất gia ở chùa Châu Giáo và tự
xưng là Huệ Quang Đại Sư. Công chúa Phật Kim tức Lư Chiêu Hoàng lên
nối ngôi, sau truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là triều đại
nhà Lư chấm dứt, triều Trấn bắt đầu và Phật giáo theo đó cũng bước
qua một giai đoạn mới và cùng với những cuộc chiến thắng Bắc phương
lừng lẫy, bảo vệ được sự tự do, hạnh phúc của dân tộc ở một phương
diện khác.
Văn học Phật
giáo trong thời đại nhà Lư cũng đă ảnh hưởng rất lớn đến xă hội,
nhất là về mặt thi ca. Các thiền sư đều là hàng thượng tầng tri
thức. Văn thơ của các thiền sư thời Lư c̣n được lưu giữ trong sách
Thiền Uyển Tập Anh và các văn bia. Các nhà Sư Phật giáo luôn thể
hiện là mẫu người tài giỏi và hay chữ nhất trong xă hội. Trong 50
thi sĩ thời Lư th́ có đến 41 người là Tăng sĩ. Các thiền sư thời đại
này là những nhà thơ lỗi lạc. Các áng thơ của các thiền sư đă mang
đầy chất liệu sống, bởi các ngài đă thực hiện trong cuộc sống bằng
thái độ chứng nghiệm, bằng trí tuệ của Phật pháp. Thơ văn của các
thiền sư thời Lư điển nhă, cổ kính, bàng bạc nhiều h́nh tượng, ngôn
ngữ nghệ thuật nên đă thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng
trong xă hội. Sáng tác của các thiền sư bộc lộ những cảm xúc thăng
hoa của tâm hồn. Văn hoá Phật giáo thời Lư đích thực là những tác
phẩm có giá trị nghệ thuật rất cao, như bài kệ “Thân như điện ảnh
hữu hoàn vô” của Sư Vạn Hạnh, “Cáo tật thị chúng” của
thiền sư Măn Giác, “Ngôn hoài” và “Ngư nhàn” của Không
Lộ. Mỗi bài thơ đều có nhiều cảm xúc, nhiều tầng ư nghĩa, là những
áng văn bất hủ của một thời. Có nhà nghiên cứu c̣n nói rằng: “Nếu
không có tiếng hú lạnh cả thái hư của Không Lộ th́ không có cuộc
chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy” (Chế Lan Viên). Văn học thời Lư
là tinh chất của thiền môn, là trang sử vàng của nền văn học nước ta
và cũng chính là sự khẳng định tiếng nói mở đầu cho văn học viết của
cả dân tộc.
Về phương diện
nghệ thuật và kiến trúc ở thời Lư, Phật giáo đă đóng góp vào nền mỹ
thuật nước ta nhiều công tŕnh kiến trúc, điêu khắc đáng kể, làm
hănh diện cho dân tộc. Phật giáo đă đem vào Việt Nam những kiểu
chùa, lầu chuông, gác trống, thác tượng, những lễ phục và thường
phục đặc biệt. Những công tŕnh kiến trúc đồ sộ phần nhiều là của
nhà chùa, hay nếu không th́ cũng chịu ảnh hưởng của đạo Phật, và
những công tŕnh ấy đều có sự tham gia đóng góp, tham gia kiến thiết
của vị thiền sư.
Sau khi Lư Công
Uẩn lên ngôi và dời đô về Thăng Long, với công việc kiến thiết kinh
đô mới, xây dựng những công tŕnh quốc gia tiêu biểu như cung điện,
chùa tháp th́ chắc chắn có sự khởi xướng hay tham gia tích cực của
các thiền sư. Trước hết, đối với thành Thăng Long th́ có thể nói
chính Thiền sư Vạn Hạnh là kiến trúc sư của toà thành này.Bởi chính
Thiền sư Vạn Hạnh vừa là thầy của Lư Công Uẩn vừa là người thuyết
phục nhà vua dời dô từ Hoa Lư về Đại La (Thăng Long). Ông Lê Văn
Siêu khi nghiên cứu về văn minh Việt Nam đă viết: “Không c̣n ǵ
để mà nghi ngờ. Nhà kiến trúc sư quan niệm đạo đức rộng răi và uyên
thâm này nhất định phải là thiền sư Vạn Hạnh…” Thời Lư, chùa
tháp được xây dựng quy mô và phổ biến rộng răi như thế nên chắc chắn
rằng các thiền sư là những người nắm giữ vai tṛ kiến trúc. Sử gia
Lê Văn Hưu đă nói “Lư Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu
chưa dựng, xă tắc chưa lập mà trước đă dựng 8 chùa ở phủ Thiên Đức,
lại trùng tu chùa quán ở các lộ…”
Rồi đến vua Lư
Thái Tông cũng noi gương cha ḿnh, công tŕnh nổi bậc nhất là chùa
Diên Hựu hay c̣n gọi là chùa Một Cột. Một công tŕnh độc đáo và táo
bạo: toàn thể ngôi chùa đặt trên một cột đá, diễn đạt h́nh tượng
theo h́nh thể hoa sen, cắm chân ở dưới nước bùn và nhô lên mặt nước
như một búp hoa. Chùa Một Cột cũng do một vị Thiền sư thiết kế -
Thiền sư Thiện Thệ - v́ chính vị Thiền sư này đă khuyên vua xây
chùa; và qua h́nh dáng kiến trúc, nó phảng phất ư niệm “Đức Phật
và đài sen”.
Nhà sử học Lê
Văn Hưu khi nhận định đạo Phật thời Lư đă phát biểu: “Xây tháp
cao ngất trời, trồng cột chùa đá chạm, chùa Phật lộng lẫy hơn cả
cung vua, dân quá nữa là sư săi, khắp nước chỗ nào cũng chùa chiền…”
Chắc là sử gia
Lê Văn Hưu muốn nói tới tháp Báo Thiên do vua Lư Thánh Tông cho xây
dựng, một trong bốn công tŕnh vĩ đại nhất của thiền gia đời Lư, mà
người ta thường gọi là “An Nam tứ đại khí”. Đây là một công
tŕnh tương truyền do Thiền sư Không Lộ vẽ kiểu. Đỉnh tháp bằng đồng
cũng do vị Thiền sư này đúc với số đồng mà sư đă dùng thần thông lấy
được trong kho của vua Tống tại Nam kinh. Số đồng lấy về nhiều đến
nỗi sư c̣n dùng để tạc tượng Phật ở chùa Quỳnh Lâm, đúc chuông Quy
Điền cho chùa Diên Hựu và vạc ở Phổ Minh. Một thiền sư đồng thời là
một kiến trúc sư, một thợ đúc đồng có kỹ thuật, sau này đă được thợ
đúc đồng suy tôn là ông tổ đúc đồng của Việt Nam. Vâng, có thể đó
chỉ là huyền thoại, nhưng nó cho thấy Tăng sĩ Việt Nam thời Lư có
nhiều tài, giúp ích nhiều và thiết thực cho cuộc sống của nhân dân.
Kiến trúc thời Lư là một trong nhưng thành tựu nổi bật của lịch sử
kiến trúc Việt Nam và nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của đất
nước; là sự tôn vinh một giai đoạn phát triển của nền văn minh Đại
Việt. Tất cả các biểu tượng ấy đă minh chứng cho thái độ sống của
người dân: đoàn kết, hoà hợp, độc lập, tự chủ, thanh b́nh.
Thương đời,
thương người, thương nước thiết tha, lại uyên bác phi thường, tài
năng siêu thế, các thiền sư thời Lư đă cống hiến nguồn trí tuệ vô
lượng để kiến thiết một quốc gia, một triều đại huy hoàng, làm vẻ
vang cho sông núi. Dấn thân, nhập thế hùng tráng và vĩ đại như thế,
các thiền sư đă cho dân tộc, cho con người thấy được giá trị đích
thực của Phật giáo. Với phong thái hành xử tự tại, các thiền sư thời
Lư luôn là bài học lớn cho hậu thế. Có thế lực, nhưng không mượn
quyền thế để dương phong thanh thế cho tông môn hay cho riêng Phật
giáo, mà luôn lấy đại cuộc xây dựng đất nước làm trọng, luôn cởi mở
đối với những giáo phái hoặc các trào lưu tư tưởng khác. Nếu nh́n
riêng ở một góc độ nào đó, có thể gọi họ là nhà ngoại giao, nhà giáo
dục, kiến trúc sư, lương y, tác giả văn học… nhưng trên tất cả họ
chính là những nhà tu hành chân chính. Là những người xuất gia, các
thiền sư vào đời giúp vua trị nước nhưng không hề bị bó buộc bởi
thuyết trung quân của nhà Nho. Hành trạng của các vị thiền sư đă cho
thấy phong cách khi tham gia chính trị của họ rất ung dung, tự tại,
không cố chấp, không bị vướng vào những danh lợi tầm thường. Các
thiền sư có đời sống riêng tại các tu viện để tu hành. Lịch sử Việt
Nam chưa hề ghi lại một vị thiền sư nào đang tinh tấn tu hành mà cởi
bỏ Tăng phục để khoát quan phục và ở cung điện của triều đ́nh. Chỗ
chư Tăng ở bao giờ cũng là chùa, áo các ngài mặc bao giờ cũng là
manh áo cà-sa. Tất cả chỉ có vậy! Các thiền sư hằng ngày không bao
giờ lai văng chốn triều đ́nh phiền toái. Chỉ khi nào các nhà lănh
đạo đất nước cầu điều ǵ minh giải mà quần thần gặp khó khăn th́ lúc
bấy giờ mới phái sứ giả đến chốn thiền môn cung thỉnh các ngài về
triều thỉnh ư; giải quyết xong việc các ngài lại lui về chùa để tiếp
tục tu hành, cứu giúp chúng sanh. Đời sống các thiền sư thanh cao,
tự tại như vậy đă ảnh hưởng không ít đến nền chính trị thời Lư, từ
các hàng vua chúa, quan lại cho đến việc định hướng một chính sách
lấy Phật giáo làm tư tưởng chỉ đạo sớm nhất và thành tựu nhất trong
lịch sử các quốc gia phong kiến phương Đông.
Lịch sử đă chứng
minh rằng: Phật giáo, dù du nhập vào Việt Nam bằng bất cứ con đường
nào (đường biển từ Ấn Độ, hay đường bộ từ Trung Hoa), th́ Phật giáo
chắc chắn là không bao giờ theo gót chân của kẻ xâm lăng, cũng không
bao giờ mở đường cho kẻ xâm lăng vào cướp phá đất nước! V́ bản chất
của Phật giáo là “trí tuệ và từ bi”. Đức Phật đă dạy: “Này
các tỷ kheo, hăy du hành v́ hạnh phúc cho số đông, v́ ḷng thương
tưởng cho đời, v́ hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại…”
Các vị vua nhà
Lư cùng với những vị thiền sư, quốc sư của họ đă không những ư thức
một cách chính xác sự tan thương và nhục nhă khi đất nước bị cai
trị bởi phương Bắc, sự bạo tàn đă in sâu trong ḷng người việc của
tất cả các thế hệ, nên đă xây dựng rất sáng suốt một Đất Nước Việt
Nam hưng thịnh, sinh động trong ḷng dân tộc vinh quang và độc lập.
Sự thành tựu này không phải nhờ tôn xưng Phật giáo làm quốc giáo,
tôn xưng các thiền sư làm quốc sư hay nhờ xây dựng nhiều chùa chiền,
đúc tạc nhiều tượng Phật... mà chính nhờ biết lấy tinh thần từ bi,
nhân bản và trí tuệ giải thoát của Phật giáo làm yếu tố chỉ đạo cho
chính sách trị quốc, cho nền văn hoá, giáo dục, chính trị, kinh tế
của quốc gia và cho đời sống tâm linh và xă hội của dân chúng. Nh́n
lại chặng đường dài lịch sử Việt Nam, ôn lại cội nguồn truyền thống
văn hoá của tổ tiên, ta sẽ rút ra được nhiều ư nghĩa cho cuộc sống
thiết thực đương đại. Ta sẽ măi măi tự hào và trân trọng về một Đạo
Phật luôn trong ḷng dân tộc, luôn cùng dân tộc hướng đến sự an
lành, tự do, hạnh phúc của tất cả người Việt Nam.
NSVD