![]()
|
Biên Khảo by Toại Khanh RONG CHƠI RỪNG CHỮ (tiếp theo) Ở phần 2 này, các mục từ được nhắc đến không chỉ trên khía cạnh ngữ âm, mà còn là những sự kiện liên quan. Rất có thể đó không là những cứ liệu mang tính khoa học, nhưng hoàn toàn có thể xem là những gợi ý thú vị cho việc học tập, như lớp đường bọc ngoài một viên thuốc đắng cho dễ nuốt hơn. Và như mọi khi, tiêu chí của chúng tôi luôn gói tròn trong mấy điều vô hại, hữu ích và vui vẻ. Chindati (Chặt, đốn, cắt) trong Pàli xuất phát từ ngữ căn Chid, ngó rất gần gũi với động từ Chặt trong tiếng Việt. Đã thế, chữ Cut trong tiếng Anh và Cát trong tiếng Hán lại y chang như chữ Cắt trong tiếng Việt về cả ý nghĩa lẫn hình thức. Trong thuật ngữ Y học hiện đại có chữ Progeria chỉ cho hội chứng Già Trước Tuổi. Những đứa bé mắc bệnh này dù chỉ vài tuổi đã có cơ thể cằn cỗi giống hệt một cụ già tám mươi. Liếc sơ chữ Geria (từ chữ gốc Hi-Lạp Geras - già cả) trong thuật ngữ trên, người học tiếng Pàli khó lòng không liên tưởng đến chữ Jarà (già lão) trong Pàli. Thật là một trùng hợp lạ lùng khi động từ Bujjhati trong tiếng Pàli (gốc của chữ Buddha- “Người Tỉnh Giấc ; Người Hiểu Biết”, Phật, Bụt) lại có cùng lúc hai nghĩa y hệt chữ Giác trong tiếng Hán: Hiểu biết; Thức dậy hay tỉnh giấc từ một giấc ngủ hay cơn mơ. Như trong hai câu thơ ngũ ngôn của Khổng Minh Gia Cát Lượng: Đại mộng thùy tiên giác, bình sinh ngã tự tri ! Trong tiếng Hán ta thấy có chữ Ma nghĩa là Mài, Chà, Xoa, Xát như Án Ma Pháp (phép day huyệt) hay Ma Sát (chà xát). Chữ này tình cờ lại khiến ta tưởng ngay đến chữ Mó (sờ mó) hay Mò (Mẩm) trong tiếng Việt và Massage trong nhiều ngôn ngữ Tây Phương. Và kỳ thú nhất là trong tiếng Pàli lại có động từ Àmasati (danh từ là Àmasana), từ ngữ căn Mas, có nghĩa là sờ mó, rờ rẫm. Ngẩm kỹ cũng ngộ thiệt ! Bạn có chút liên tưởng nào khi thấy động từ Cày trong tiếng Việt với chữ Canh (cũng nghĩa là cày) trong chữ Hán. Điều thú vị là bên tiếng Pàli có động từ Kassati (cày xới), rồi danh từ Kassaka (nông phu, dân cày), đều từ ngữ căn Kas, cũng là gốc của danh từ Àkàsa (hư không), nguyên dạng là Akasa nghĩa đen là “chỗ không thể cày xới ” ! Kakaca trong Pàli là cái cưa, tiếng Hán Việt là Cứ. Ở đây có nhiều lắm cũng chỉ là mối quan hệ giữa hai từ Cứ trong Hán Việt và Cưa trong tiếng Thuần Việt, nhưng thật ngẫu nhiên TK vẫn thấy Kakaca dễ gợi nhớ đến hai chữ Cái Cưa. Như từ lâu cứ thấy chữ Range trong tiếng Anh lại nhớ đến chữ Rặng trong tiếng Việt (Range of mountains - rặng núi, dãy núi) dù giữa chúng không hề có quan hệ nào. Động từ Gacchati (từ ngữ căn Gamu) trong tiếng Pàli có nghĩa là Đi, và cũng là một trùng hợp thú vị khi động từ đó bên tiếng Anh là Go và tiếng Đức là Gehen. Đều bắt đầu bằng G ! Hai động từ Bhavati và Hoti trong tiếng Pàli tương đương với To Be và To Have trong tiếng Anh, Être và Avoir bên tiếng Pháp, Sein và Haben trong tiếng Đức. Chuyện lạ lùng là vai trò của cặp động từ này trong các ngôn ngữ trên đều quan trọng như nhau, tần suất thông dụng có thể nói là tương đương nhau. Có lẽ đó cũng là lý do người Tây Phương học hai thứ tiếng Pàli và Sanskrit rất mau, rất dễ. Cứ nhìn số lượng học giả Âu Mỹ về hai ngôn ngữ này thì biết. Trong khoa Tử Vi của Trung Quốc có một ngôi sao chiếu mệnh tên là La-Hầu nổi tiếng hắc ám cỡ như Thái Bạch, Kế Đô hay sao Quả Tạ của người Việt, đều là những hung tinh đáng sợ. Trong kinh điển Pàli có nói đến một vị đại lực tiên ông tên Ràhu (Tàu âm là La-hầu) thỉnh thoảng vẫn chơi trò nuốt nhả hai vị đại tiên Suriya - Thái Dương (người chủ quản mặt trời) và Candimà - Nguyệt Thần (người chủ quản mặt trăng) để tạo nên hiện tượng gần giống nhật thực và nguyệt thực. Chẳng rõ có quan hệ nào giữa hai tên gọi La-hầu vừa nói chăng nhỉ ? Có lẽ ít người ngờ rằng ngoài một vài thứ tiếng như Sanskrit, Prakrit, Hindi (ngôn ngữ phổ thông của Ấn Độ) và tiếng Nepalese (dùng trong vùng Nepal, sinh quán của hoàng tử Tất-Đạt xưa), có một thứ ngôn ngữ khá lạ lẫm nhưng được xem là có một lượng lớn từ vựng giống hệt tiếng Pàli là thứ chữ Ba-Tư cổ được dùng để ghi chép Thánh Kinh Avesta trong Bái Hỏa Giáo của đạo tổ Zoroastre (cũng là Zarathustra), người cùng thời hay trước đức Phật ít lâu. Tương truyền tôn giáo này chính là tiền thân của Ma-Ni Giáo hay Minh Giáo được người Trung Quốc nhắc đến trong ngôn ngữ và văn chương của họ xưa giờ, chẳng hạn truyện võ hiệp của Kim Dung (Ỷ Thiên Đồ Long Ký). Có bao giờ ta chịu nghĩ rằng các danh từ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức trước khi trở thành những thuật ngữ đặc hữu trong Phật Pháp với những ý nghĩa chuyên môn (theo giáo lý A-Tỳ-Đàm chẳng hạn), thì đã có một thời chúng cũng từng mang những ý nghĩa tương tự hay rất gần gũi với các định nghĩa sau này. Đó là lý do vì sao nhóm năm tỷ kheo do ngài Kiều-Trần-Như dẫn đầu đã có thể nghe nổi bài kinh Vô-Ngã-Tướng (Anattalakkhanasutta) ngay trong những ngày hoằng pháp đầu tiên của đức Phật một cách thoải mái và trực tiếp, chẳng cần một chú thích từ vựng nào cả ! Đến đây ta thử bàn chơi một thuật ngữ rất gần gũi với đa số người Việt là là chữ Vu-Lan. Thiệt bụng thì TK vẫn thắc mắc tại sao thiên hạ cứ khăng khăng bảo rằng chữ Vu-Lan kia là phiên âm từ danh từ Ullumbana rồi dịch sang chữ Hán là Đảo Huyền, và giải thích rằng đó là tên gọi một hình phạt “treo ngược đầu” ở địa ngục. Ô hay, theo kinh mà nói ( Nemiràjajàtaka-atthakathà) thì khổ hình dưới kia có trăm ngàn kiểu tàn khốc, cớ sao ở đây lại chọn riêng một món mà gọi tên chung cho cả một đại lễ. Ở đây khoan bàn đến sử tính của cái gọi là lễ Vu Lan (không có trong kinh điển Pàli), ta chỉ nên nêu một thắc mắc, cũng là một đề nghị: Sao người ta lại không cho chữ gốc của từ Vu-Lan là Ullumpana (sự cứu vớt, cứu độ) mà lại chọn một chữ không mấy đắc địa là Ullumbana (huyền không, đảo huyền, sự treo tòn ten), cho dù đó có là một kiểu khổ hình nào đó ở âm ty. Trộm nghĩ, nhiều khi chỉ sự nhầm lẫn của một người đi trước có thể kéo theo sự nhầm lẫn của hàng triệu người đi sau, khi sự ‘tháp tùng” lâu ngày thành ra “phục tùng”, và đến nước này thì chỉ có trời cứu ! Một thuật ngữ khác cũng quan trọng, thậm chí là linh hồn của cả hệ thống giáo lý A-Tỳ-Đàm, là Paramattha, lại cũng là một “nghi án” kỳ lạ đáng để bàn soạn. Trong A-Tỳ-Đàm, toàn bộ thế giới mà ta vẫn nương gá, nhìn ngắm và cảm nhận chỉ là cái vỏ ngoài Tục Đế (Sammutisacca), Giả Lập (Parikappa, Parikalpita), Thi Thiết (Pannatti, Prajnapti) của một thế giới tinh thể rốt ráo, hay Chân Đế (Paramattha) vốn chỉ là những bản thể, tính chất, trạng thái không có hình dáng hay quy mô như ta vẫn thấy qua các ngành khoa học, nghệ thuật, triết học. Một cách nôm na nhất, khái niệm “ly nuớc” là Tục Đế và những thành phần hoá học tạo nên nước và thủy tinh trong cái gọi là Ly Nước chính là Chân Đế (Paramattha). Người học A-Tỳ-Đàm hôm nay tuyệt không thể không biết đến thuật ngữ Paramattha. Vậy mà, có ai ngờ được rằng chữ này lại chỉ xuất hiện hiếm hoi trong toàn bộ kinh điển Pàli. Theo chỗ TK được biết thì trong Tam Tạng Pàli chỉ có một vài chỗ (không quá một bàn tay) nhắc đến thuật ngữ này. Đó là chương đầu trong bộ A-Tỳ-Đàm thứ năm tức bộ Luận Điểm (Kathàvatthu) và tập Cariyàpitaka (Bồ Tát Hạnh Tạng). Đã vậy, chỉ trong bộ Luận Điểm, chữ Paramattha mới có ý nghĩa Chân Đế như vừa nhắc sơ ở trên, còn ở tập Bồ Tát Hạnh Tạng thì chữ này có ý nghĩa là “ cứu cánh cao nhất ”, ám chỉ Phật Quả. Ai người học Phật lại không biết đến hay nghe qua chữ Ba-La-Mật (Pàramì, Pàramita), đoạn đường hành trì bắt buộc để một người thành Phật, nên thánh. Thế nhưng điều đặc biệt là khái niệm Ba-La-Mật này lại cũng là của hiếm trong kinh điển Pàli. Ngoại trừ một chỗ trong Trung Bộ Kinh (M.II.211) có nhắc đến chữ Abhinnàvosànapàramippatta hay trong Suttanipàta (câu kệ 1018, 1020) và tập Cariyàpitaka (vẫn bị ngờ là hậu tác) trong Tiểu Bộ Kinh Pàli, ta khó lòng tìm thấy chỗ nào khác trong kinh điển Pàli nhắc đến thuật ngữ này, nói gì là việc bàn sâu nói rộng. Cái gọi là lý tưởng Bồ Tát Đạo trong Phật giáo Nam Tông chỉ được đậm nét trong trong dòng kinh văn bậc hai là các tập Sớ Giải ra đời sau ngày Phật tịch, có nghĩa là không phải trong dòng kinh văn bậc một, tức Chánh tạng Pàli. Nếu chịu khó khách quan và bình tĩnh một tí để xét lại sử tính của các kinh điển Phật giáo thời kỳ bộ phái, thì ta cũng sẽ thấy ra nhiều sự ly kỳ. Nghĩa là thiên hạ đời sau đã y cứ vào một vài chỗ bỏ ngõ trong kinh văn truyền thống để mở ra những sân chơi náo nhiệt với một Miễn Tử Kim Bài gắn ở cổng vào là Như Thị Ngã Văn, Evam Mayà Srutam, thậm chí…Evam Me Sutam (tác phẩm Dasabodhisattuppattikathà viết về mười vị Phật tương lai cũng bắt đầu bằng Evam Me Sutam ) ! Từ lâu, nếu có ai hỏi vì sao đức Phật gần như chẳng nói gì về lý tưởng Bồ Tát Đạo thì tôi chỉ trả lời theo cách hiểu dốt nát của mình rằng tỷ lệ giữa người có thể thành Phật Chánh Đẳng Giác với số người không tới được cứu cánh này chỉ là một trên nhiều tỉ. Từ đó, tuyệt đại đa số đối tượng độ sinh của Thế Tôn chỉ là những người đơn giản cầu thoát tử sinh, đem Bồ Tát Đạo nói cho họ phải chăng không phải chỗ. Riêng đối với bậc đại nhân có đủ bản lãnh thành Phật thì chẳng cần nói nhiều, họ chỉ cần nghĩ nhớ về Phật rồi y cứ trên tinh thần đại thể của Phật Pháp là thừa biết mình phải làm gì. Chẳng hạn các chương trình giáo dục trong các trường lớp trên toàn cầu nào có chỗ nào dạy người ta thành tỷ phú hay đoạt giải Nobel đâu, mọi thứ cứ theo trình độ phổ thông của thiên hạ mà tính. Ai trong thiên hạ là bậc kỳ nhân thì tự dưng chọn được hướng riêng cho mình dựa trên cái chung đã học với thiên hạ. Cái độc đáo trong kinh điển nguyên thủy là một nội dung bao hàm vô số vấn đề một cách kín đáo. Câu hỏi nào cũng có lời đáp, nhưng nội dung những lời đáp đó nhiều khi bàng bạc khắp nơi, kẻ cầu đạo phải chịu khó dụng công một tí mới có thể thấy ra. Phàm phu muốn thay Phật làm lớn chuyện những vấn đề nọ kia nhiều khi chỉ khiến hoài phí thời gian bởi trí tuệ và ngữ ngôn của chúng ta rõ ràng có quá nhiều giới hạn, dễ gây nên những chuyện lợi bất cập hại. Cứ làm theo những lời dạy “có vẻ đơn giản” của Thế Tôn rồi một lúc nào đó tự dưng thấy thêm những chuyện khác. Cứ ngồi đó tán suông lắm khi chỉ là hại mình, hại người ! (còn tiếp)
]]] |
|
|
|