|
Truyện ngắn by Chơn Hữu THAM VÔ BIÊN
Cuộc đời quả đúng như lời của một triết gia Tây phương:
“Nhìn gần cuộc đời là một bi Trong cái chuỗi thời gian bất tận của cuộc đời, mỗi cá nhân dường như chỉ hiển hiện ngắn ngủi rồi mất hút giữa mênh mông. Sự hiện hữu nào rồi cũng phải nhạt nhoà tan biến. Nhưng có sự hiện hữu của những người mà nỗi đau và bước đi của họ đã làm thành những bài thơ tuyệt tác. Câu chuyện mà tôi sắp kể ra đây nói về một cuộc đời, mà với tôi, cuộc đời của y giống như một bài thơ diễm tuyệt. Y chính là sư huynh của tôi, vị sư huynh mà giờ đây tôi rất mực tôn kính, tuy trước đó tôi vẫn luôn coi thường, và tự sâu thẳm trong lòng có phần khinh bỉ nữa. Y tên là Vô Biên, một cái tên vốn đã dễ bị ngộ nhận. Huynh đệ chúng tôi còn tặng thêm cho y một chữ “tham” trước cái tên của y; và hay gọi đùa là sư huynh “Tham Vô Biên”.Quả thật y rất tham: tham công, tham việc, tham học, tham thiền và nhất là tham… tiền. Tiền thì phần đông cuộc đời này ai cũng tham, vì tiền đem đến rất nhiều thứ. Người ta thường nói rằng: “Có tiền mua tiên cũng được”. Điều ấy cũng có lẽ cũng là một chân lý cuộc đời! Nhưng ấy là cuộc đời, bản chất của cuộc đời là luôn luôn thoả mãn ái dục. Còn chúng tôi là những người đã xuất gia tu hành, muốn đạt được sự lợi lạc tinh thần – sự an lạc ấy chắc chắn tiền không bao giờ mua được – thì phải biết từ khước mọi phiền luỵ trói buộc của thế gian, để dễ dàng hướng đến mục đích giác ngộ giải thoát cao cả. Vậy mà y thì tìm mọi cách để tích luỹ từng đồng, hỏi sao mà chẳng đáng khinh?Trước đây năm năm thì khác, lúc ấy ai cũng khen ngợi y, lấy y làm tấm gương để noi theo. Bởi bản chất y rất hiền, siêng năng công việc và luôn tinh tấn tu tập. Đời sống trong tu viện thường ít nói, chỉ nhìn vào hành động của mỗi cá nhân; mà cũng phải thôi, chính sự kiện là lời nói minh bạch nhất. Chùa chúng tôi cách xa phố thị, nằm trên một ngọn núi cao ngất ngưởng, bốn mùa có mây bay thật thấp. Diện tích chùa hơn một trăm mẫu ta. Toàn bộ núi đồi đã được trồng thành rừng. Địa thế rất lý tưởng cho đời sông tu hành vốn cần nhiều yên tĩnh. Ở cái thời đại văn minh máy móc này, chuyện ẩn sĩ, chuyện luyện công, chuyện đàm đạo thơ văn và triết lý, chuyện khổ hạnh “đầu-đà chân đất”, chuyện nhập thất thiền định, chuyện nhịn ăn hai, ba mươi ngày để chữa bệnh hay tập thở khí trời… là những chuyện mà người ta cứ ngỡ chỉ có trong truyện hay phim kiếm hiệp. Ấy mà những chuyện ấy là những chuyện thường xuyên trong chùa chúng tôi.Sư phụ chúng tôi là một người rất ít nói nên mỗi lời người nói ra là chúng tôi tôn trọng tuyệt đối. Không hiểu Vô Biên đã nói gì với sư phụ mà có một lần họp đại chúng, sư phụ đã nói với chúng tôi: - Từ nay trở đi, thầy cho phép Vô Biên được giành thời gian canh tác đám đất trống phía sau hồ. Bắt đầu từ đó, mọi người thấy Vô Biên thay đổi hẳn. Y dường như để hết công việc và tâm trí cho việc làm vườn. Sáng, trưa, chiều… lúc nào y cũng có mặt ngoài vườn. Sau mấy tháng làm việc quần quật, đám đất kia giờ đã tinh tươm, sạch cỏ v à xuất hiện một giàn che lưới thật lớn . Lúc cái giàn che đã hoàn tất thì y th ường đi vào rừng, ba lô trên vai, gậy và dây trên tay,y len lõi vào rừng sâu, để tìm cho được những giò phong lan hoang dã.. Hình ảnh một nhà sư lam lũ đi rừng, chúng tôi thấy thật khó coi, vậy mà y vẫn nhẫn nại một cách bình thản.Thỉnh thoảng Y đem theo lương thực đi vào rừng suốt cả tuần, khi quay về chúng tôi thấy y bị thương tích đầy mình nhưng trông y vẫn vui vẻ vì đem về được nhiều giống phong lan quý hiếm. Thời gian đầu, thấy y quá vất vả, các huynh đệ thường giúp y một tay trong công việc chăm sóc phong lan. Nhưng công việc của y quá mất thời gian nên dần dần mọi người rút lui, để cho y tự làm một mình. Cũng đúng thôi, bởi mục đích của chúng tôi đến đây là để tu tập chứ đâu phải để trở thành một nông dân thực thụ như thế. Khi Vô Biên đi Đà Lạt và đem về mấy trăm giò phong lan rừng thì mọi người mới vỡ lẽ ra là y quyết chí trồng phong lan. Sau này chúng tôi được biết số tiền mua cây giống ấy chính sư phụ đã cho y. Nhân nào quả nấy - ấy là một định luật tất yếu. Nhờ sự siêng năng cần mẫn? Hay nhờ tấm lòng của y? Chắc là nhờ cả hai nên vườn hoa phong lan của y xanh tươi vùn vụt. Y đọc đủ loại sách về hoa phong lan rồi mày mò cho thụ phấn và lai giống. Một năm sau, hoa phong lan của y đua nhau nở rộ. Những giò phong lan rừng y trồng nở to cao như hoa phong lan nước ngoài vậy. Hoa rất nhiềuchủng loại và màu sắc, một lần tôi đếm thử có hơn cả trăm loài. Người ta nói rằng ở Huế, y là người trồng hoa phong lan đầu tiên thành công đến vậy. Vườn phong lan lộng lẫy và đẹp như một bức tranh tuyệt mỹ. Ngắm nhìn hoa phong lan, tôi cảm thấy không ngoa khi người đời tôn vinh nó là loài hoa vương dã. Chẳng mấy chốc mà vườn phong lan của chùa chúng tôi đã nức tiếng gần xa. Những người yêu hoa từ dưới thành thị kéo lên xem nườm nượp. Du khách đến đây đều nhìn chúng tôi với đôi mắt thán phục. Hương sắc vườn lan đã thơm lây sang cả chúng tôi. Cái đẹp - tự thân nó đã là một triết lý. Nên cảm nhận cái đẹp và sở hữu cái đẹp là điều mà ai cũng muốn. Người ta thường lên chùa mua hoa của Vô Biên. Đám cưới, tiệc tùng hay bất cứ một cuộc lễ sang trọng nào người ta cũng đều lặn lội lên đây mua cho bằng được hoa phong lan cắt cành của y để trang hoàng và cũng để chứng tỏ vẻ sành điệu. Y thản nhiên bán và tính tiền một cách sòng phẳng. Y thuê một người ở dưới làng lên làm công cho y, giờ y đã có người giúp chăm bón và cắt tỉa. Một cửa hàng hoa danh tiếng dưới phố đã hợp đồng mua hoa lan cắt cành của y với giá khá cao. Y suy tính có lợi bèn đồng ý. Cuộc đời không bao giờ bằng phẳng, vì bản chất của cuộc đời là vô thường. Thiên nhiên vốn dịu hiền với mọi loài nhưng đôi khi trở chứng, thiên nhiên cũng chứng tỏ sức mạnh độc tài của nó. Trong một cơn mưa đá thình lình, toàn bộ vườn lan đang tươi thắm bị bầm dập thê thảm. Những nụ non xinh xinh, những búp hoa kiều diễm, những màu sắc mang dáng vẻ thanh tao… đều bị bàn tay lạnh lùng của tạo hoá ném đá tả tơi. Tuy không phải chính mình là người trồng vườn hoa ấy nhưng cảnh tàn phá kia ai thấy cũng đau lòng. Chính kinh nghiệm của sự thất bại chứ không phải ai khác là người thầy tốt nhất giúp chúng ta đi qua mỗi chặng đường, dù đôi khi thất bại tưởng chừng như đè bẹp ý chí của chúng ta. Sau nỗi buồn thấm thía ấy, Vô Biên gượng lại rất nhanh. Nhờ có sẵn số tiền bán hoa bấy lâu, y mua rất nhiều bạt ni-lông về làm giàn che mưa cho vườn lan của y. Chúng tôi đều ra vườn giúp y một tay, người đi chặt cây, người thì giăng đây… và rồi cái giàn che mưa cũng hoàn tất. Bây giờ, nhìn vườn lan của y trông thật đồ sộ, có vẻ rất chuyên nghiệp. Không khí trên núi cao như rất thích hợp với phong lan, một phần Vô Biên không tiếc tiền mua nhiều loại phân đặt chủng ngoại quốc nên năm sau lan của y lại nở rộ. Du khách lại đến tham quan với sự ngưỡng mộ. Hợp đồng bán hoa trước kia giờ được tiếp nối. Mỗi tháng, y cắt được cả ngàn cành lan. Người ta đem xe lên tận chùa lấy hoa. Từ đây, y cứ thong dong mà nhận tiền. Nếu không xảy ra vụ mất trộm thì chúng tôi không ai nghĩ Vô Biên nhiều tiền đến thế. Buổi sáng, chúng tôi đang ngồi uống trà với sư phụ thì y xuống báo tin: - Hôm qua, có kẻ trộm cạy cốc con và đã lấy hết số tiền bấy lâu con dành dụm. Thầy trầm ngâm. Chúng tôi ngơ ngác. Không biết tay đạo chích nào mà cao thủ như thế - chọn đúng cốc của Vô Biên, chứ cốc chúng tôi có lẻn vào thì gặp toàn là kinh sách. Trong ngôi chùa này, mỗi chúng tôi đều ở riêng một cốc nhỏ để tiện cho việc độc cư thiền định. Không gian chùa rất rộng, mỗi cốc đều cách nhau khá xa, xung quanh là rừng nên rất khó phát hiện được kẻ gian đột nhập. Cốc nào cũng có khoá riêng; nói thì nói vậy chứ cốc làm bằng tranh tre, không cần cạy khoá mà khoét vách cũng rất dễ dàng. Năm nào, chùa cũng xảy ra vài vụ mất trộm, lúc thì máy cassette, lúc thì mấy trăm ngàn… Thầy nhìn Vô Biên với ánh mắt cảm thông: - Con bị mất bao nhiêu? - Dạ bạch thầy, đúng mười triệu. - Con có biết mất vào lúc nào không? - Dạ khoảng từ sáu đến tám giờ tối. Lúc đó, con xuống công phu dưới chánh điện. Khi trở về thì thấy cửa sổ mở và phát hiện gói tiền đã mất. - Con có nghi cho ai không? - Bạch thầy, trong chùa mình thì không. Nhưng con nghi thằng Bợm dưới làng. Chiều qua, con thấy nó lởn vởn trước chùa mình. - Dạ đúng đó thầy. Chiều qua, con đi học về cũng nhìn thấy thằng Bợm đi lên chùa mình - Một vị sự đệ trẻ khẳng định. Mọi người đưa ra ý kiến là nên báo cảnh sát để họ điều tra. Nhưng Vô Biên từ chối vì ngại phiền đến huynh đệ. Lý do đưa ra là khi cảnh sát điều tra thì họ sẽ làm việc từ trong nội bộ trước; hơn nữa y cũng chưa dám khẳng định có phải là thằng Bợm lấy hay không. Lỡ không phải thì tội cho nó. Y xin thầy cho y xuống núi để điều tra. Sư đệ Vô Ngại tình nguyện lấy xe chở y đi. Y cùng Vô Ngại đi suốt ngày. Mọi huynh đệ đều sốt ruột chờ xem kết quả. Đến tối khuya, họ mới về. Đến hôm sau, y ra vườn tưới hoa và không nói gì cả. Vô Ngại kể cho thầy và chúng tôi nghe đầu đuôi câu chuyện. - Bạch thầy cùng các sư! Hôm qua, con chờ sư huynh Vô Biên xuống làng tìm nhà thằng Bợm. Mất cả tiếng đồng hồ tìm kiếm, tới nơi thì nhà nó không có ai. Đứa nhỏ hàng xóm bảo là nó đi đâu từ sớm. Sư huynh dò hỏi những người xung quanh; rồi con chở sư huynh đi khắp những nơi mà người ta nói nó hay lui tới. Đến chiều mà vẫn chưa gặp được nó. Chúng con có trở lại nhà nó ba lần mà nó cũng chưa về. Đến tối, trở lại thì gặp nó đang tắm nơi cái giếng trước nhà. Thấy sư huynh con vào, mặt nó tái mét không còn giọt máu. Lúc đó, con linh cảm biết chắc nó là thủ phạm. Sư huynh tế nhị gọi nó ra một chỗ vắng rồi nói: “- Hôm qua, sư bị mất tiền… Dấu chân của kẻ đột nhập vẫn còn nguyên trên cốc. Chiều hôm qua, chính mắt sư trông thấy con và có người khác cũng trông thấy con đi lên lẻn vào sau núi. Bây giờ, sư hỏi một tiếng, nếu con không nhận thì sư lập tức đi báo cảnh sát hình sự. Họ sẽ lấy dấu tay rồi điều tra, chắc chắn sẽ ra ngay. Dĩ nhiên, lúc ấy, sư không thể nào can thiệp được mà để cho họ xử lý kẻ trộm theo pháp luật.” Lúc đó, con chen vào một câu hù dọa, Vô Ngại lại kể: “- Sư huynh đứng đây làm việc với nó, để đệ ra gọi cảnh sát, họ sẽ lên liền.” Sư huynh cản con lại: “- Có gì hãy từ từ, nếu nó có tâm hối hận thì mình mở cho nó một con đường.” Rồi sư huynh nói với nó: “- Mấy lần trước con ăn trộm trên chùa, sư cũng đã tha cho con. Bây giờ, sư chỉ cần con trả lời, có lấy hoặc không. Nếu con có lấy thì sư hứa sẽ tha cho con một lần nữa; còn nếu con bảo không thì chúng ta chẳng còn gì để nói nữa. Sư sẽ báo cảnh sát ngay lập tức.” Lời của sư huynh thật chân thành nhưng cũng toát lên vẻ nghiêm khắc, dường như đã làm nó sợ hãi. “- Bạch sư, con lỡ dại. Xin sư tha cho con. Đừng báo cảnh sát mà họ bắt con đi ở tù. Con sợ lắm.” - Giọng nói của nó run rẩy. “- Vậy thì hãy trả lại tiền cho sư.” “- Thưa sư, con lỡ xài một số rồi. Giờ chỉ còn lại ba triệu.” Lúc ấy, con chợt nổi nóng lên, chụp cổ áo nó rồi gằn giọng – Vô Ngại vừa kể vừa đưa tay diễn tả: “- Mày nói sao? Mới có một ngày một đêm mà mày “lỡ” xài hết bảy triệu hả? Mày biết chừng đó tiền, sư huynh của ta phải tốn bao nhiêu thời gian và công sức không?” Sư huynh gỡ tay con ra khỏi nó, rồi từ tốn bảo với con: “- Thôi sư đệ. Lấy lại được chừng đó còn hơn là mất sạch.” Quay qua thằng Bợm, sư huynh nói với nó, mềm mỏng như là đang thuyết pháp vậy: “- Từ nay trở đi, con đừng bao giờ lên chùa ăn cắp nữa nhé! Người ta cúng dường đến Tam Bảo không hết; con lại đi ăn cắp như thế này, tội nặng lắm đó, biết chưa?” “- Dạ... dạ… Xin sư chờ con. Để con vào nhà lấy tiền trả lại.” Nó quay lưng đi nhanh vào nhà. Chúng con đều lắc đầu ngán ngẫm. Vô Ngại càm ràm: “Đã bao lần nó lên chùa mình ăn cắp, mấy sư cứ tha cho nó hoài. Bữa nó lấy thùng phước sương, mọi người mà nghe lời con, giao cho cảnh sát thì bây giờ đâu có chuyện gì.” Một lát sau, nó bước vội về phía chúng con. Có tiếng ồn ào lao xao vọng ra từ trong nhà nó. “- Bạch sư, đây, con xin trả lại cho sư. Số còn lại khi nào có, con sẽ trả sư sau.” “- Thôi được rồi. Không cần con phải trả. Cứ xem như là sư cho con. Sư chỉ mong rằng con đừng bao giờ trộm cắp nữa, mà phải biết làm ăn đàng hoàng.” Chúng con để nó đứng lặng ở đó, đi vào phía trước sân để lấy xe quay về. Chợt có tiếng phụ nữ tru tréo. Rồi một người đàn ông, tay cầm cây cuốc, hùng hổ chạy tới chúng con, la lớn: “- Mẹ kiếp! Mấy thầy ác quá! Mẹ nó mới đi mổ về. Mấy thầy lấy hết tiền vậy chắc thế nào mẹ nó cũng chết. Mà chắc gì tiền đó là của mấy thầy?” Lúc đó, con thật bức xúc, cơn sân dâng lên nghẹn ngào, không nói gì được. Sư huynh thì bình tĩnh hỏi người đàn ông: “- Vậy ra, mẹ của Bợm đang bệnh hả? Bợm nó nói gì khi đem tiền về cho chú?” “- Mẹ nó đau gan, nằm bệnh viện mấy tháng nay, mới mổ tuần trước. Hôm nay, bác sĩ cho xuất viện, về nhà điều trị. Hôm qua, thằng Bợm đem tiền xuống thanh toán và mua thuốc cho mẹ nó. Nó kể là nó lượm được gói tiền của một chiếc xe chạy ngang qua. Giờ, mấy thầy xuống đòi nó trả lại. Vậy là mấy thầy ép tui phải liều đó. Mà lấy gì làm bằng chứng là tiền đó của mấy thầy?” - Vừa nói, gã vừa rung rung cây cuốc ra vẻ hù dọa. Thằng Bợm ở ngoài chạy vội đến người đàn ông, dang tay ôm gã lại, rồi nói: “- Đừng ba! Tiền đó là của mấy sư thật. Mấy sư đã cho mình số tiền lỡ xài rồi. Trả lại cho quý sư là phải lẽ. Mai, mình đem cầm nhà lo cho mẹ cũng được mà.” Sự việc đột ngột thay đổi. Sư huynh đưa gói tiền đang cầm trên tay cho thằng Bợm và nói khẽ: “- Cầm lấy. Đây coi như là sự giúp đỡ của quý sư. Hãy lo cho mẹ con. Cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho bà sớm bình phục.” Sư huynh quay qua bảo con: “- Mình lên núi thôi sư đệ.” Chúng con lên xe. Chợt nghe có tiếng cười gằn của người đàn ông nọ… Thầy và quý sư biết không? Con tức quá! Không phải vì số tiền mà vì cách đối xử của họ. Chở sư huynh đi ra một đoạn khá xa, con dừng xe lại, bảo sư huynh đứng đó chờ con, vì con để quên cuốn vở nơi cái giếng. Sư huynh xuống đứng chờ; con chạy thẳng tới nhà thằng Bợm, gọi người đàn ông dữ ấy ra gặp: “-Ông có biết số tiền mười triệu đó, sư huynh của tôi phải mất thời gian hai năm và rất nhiều công sức không? Ông có biết thằng Bợm con ông hôm qua lên chùa lấy trộm số tiền đó không? Và ông có biết cỡ ông, với cây cuốc trên tay, vẫn không đỡ nổi một chiêu của sư huynh tôi không?” Con định làm thêm một trận nữa cho hả dạ, nhưng thấy ông ta há mồm ngạc nhiên, nên thôi, quay xe ra và đón sư huynh lên núi. Đó là toàn bộ câu chuyện hôm qua – Vô Ngại chắp tay hướng về thầy và chúng tôi cúi đầu khi kết thúc câu chuyện. Chúng tôi lặng lẽ ngồi thật lâu, nghe một cái gì rất diệu vợi dâng lên trong lòng. Câu chuyện vừa được kể nghe sâu lắng quá. Ngoài hiên, những tia nắng chiếu trên thân trúc, long lanh như những giọt nước. Gió ngừng thổi. Rừng dường như không còn lao xao với lá. Thời gian êm ả trôi. Bốn mùa an nhiên tiếp nối. Chúng tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình mà mình đã chọn. Vô Biên cũng vậy. Ngoài những giờ công phu cùng đại chúng, y vẫn giành hết thời gian còn lại cho việc chăm sóc vườn hoa lan của mình. Sau sự kiện mất trộm ấy, chúng tôi đã nhìn y với ánh mắt thiện cảm nhiều hơn. Thỉnh thoảng chúng tôi ra vườn phụ giúp cho y. Có đôi khi cao hứng, y chỉ cho chúng tôi biết nhiều màu xanh khác nhau của lá. Y nói cho chúng tôi nghe về hoa lan, về cách chăm sóc… Y bảo, hoa lan có rất nhiều loài,có loài lan hoa nhỏ như hạt thóc nhưng cũng có loài lan hoa to cả mét,có loài thì hương thơm dịu dàng có loài thì chỉ có sắc chứ không hương . Nghe y đọc mấy câu thơ “ hoa phong lan giống loài tao nhã,cốt cách thanh cao giữa cõi trần,hớp khí hạo nhiên dòng quân tử,toả hương dịu dàng tặng thế nhân” chúng tôi cứ tưởng như phong lan là bậc ẩn sĩ cao quý lắm vậy.Y còn bảo hoa lan cũng giống như người vậy. Có những cái duyên bên ngoài tác động đến sự phát triển hay làm hư hoại hoa. Những tác duyên nào xấu thì cần phải ngăn chặn. Y còn nói gì gì đó về việc đúng tiết đúng thời, hoa nở rồi hoa tàn… Nghe y nói về hoa phong lan mà chúng tôi tưởng như y đang nói về Đạo, về Pháp… Cuộc đời luôn thay đổi nhưng cũng rất công bằng với địng luật bù trừ của nó. Hai năm liền mưa gió thuận hoà. Mùa thu se lạnh và kéo dài cái lạnh đến hết mùa xuân khiến cho vườn phong lan của y xanh tốt đến kỳ lạ. Hoa ra vùn vụt. tháng nào, y cũng có hoa bán cho người ta. Chúng tôi thường gọi đùa y là một “Phú Tăng”. Y vẫn nhẫn nại trước những lời châm chọc ấy. Dù rất có thiện cảm với y nhưng chúng tôi không thể đồng ý với chuyện y quá tham tiền. Không hiểu y quá tham tiền để làm gì? Con đường xuất gia tu tập thì càng ít sở hữu càng hạnh phúc. Vô lẽ y lại không hiểu điều đó? Rồi mọi chuyện cũng được sáng rõ. Khi hiểu được lý do cần tiền của Vô Biên, sự kính phục của chúng tôi đối với y lại tăng thêm thật nhiều. Hôm đó, sau khi tụng kinh xong, chúng tôi ngồi lặng lẽ bên thầy. Mùi trầm hương thoang thoảng… Thầy nhẹ nhàng nói: - Trước đây, thầy cho phép sư Vô Biên được quyền canh tác riêng, bởi đó là nguyện vọng của sư ấy. Thầy xét nguyện vọng ấy cũng tốt; nhưng đối với thầy có cái còn tốt hơn là thử xem ý chí, nghị lực của Vô Biên ra sao? Bây giờ, sau năm năm, thầy vui mừng thấy Vô Biên đã kiên định với mục đích của mình. Quay sang Vô Biên, thầy nói tiếp: - Thầy có lời khen ngợi và chúc mừng con. Vô Biên, bây giờ con hãy nói đi, nói cho đại chúng cùng hiểu. Vô Biên quỳ lên, hướng về thầy và đại chúng đảnh lễ, giọng y nhỏ nhẹ: - Kính bạch thầy! Kính bạch Đại Đức Tăng! Vì sợ ý nguyện của mình thực hiện không nổi nên lâu nay con không dám cho đại chúng rõ. Nhờ hồng ân Tam Bảo, đến nay phương tiện đã chuẩn bị xong, con xin được tác bạch. Sở dĩ lâu nay, con chăm chỉ làm việc kiếm tiền là để thực hiện ước mơ được một lần hành hương về xứ Phật. Do cần một số tiền lộ phí quá lớn nên con phải làm việc cật lực, đôi khi bê trễ việc tu tập và làm ảnh hưởng đến đại chúng. Cúi xin chư huynh đệ xá tội lỗi ấy cho con. Vô Biên nói xong, y cung kính lạy xuống ba lạy. Cả hội chúng ngơ ngẩn như xuất thần. Không khí bên trong chánh điện ngập tràn niềm xúc động. Hành hương xứ Phật, chiêm bái “tứ động tâm” là một niềm ao ước của tất cả tu sĩ thuộc vùng biện địa như chúng tôi. Được đến tận nơi đức Bồ-tát đản sanh, nơi đức Phật thành đạo, nơi ngài Chuyển Pháp Luân và nơi ngài Niết-bàn là một điều chỉ có trong mơ ước. Trong kinh, chính đức Phật cũng đã dạy, ai mà đến chiêm bái “tứ động tâm” sẽ tăng thêm tín tâm; và trên đường hành hương với tín tâm trong sạch như thế, nếu mệnh chung sẽ lập tức sanh về cõi trời. Từ đây qua Ấn Độ quá xa xôi cách trở, nội tiền vé máy bay cũng đã mất cả chục triệu đồng, thành thử chúng tôi không bao giờ dám nghĩ là mình sẽ có tiền để đến vùng đất Phật. Vậy mà Vô Biên dám biến ước mơ thành hành động. Thật đáng khâm phục! Đại chúng im phăng phắc. Mỗi người như theo đuổi mỗi ý nghĩ riêng của mình. Thầy mỉm cười bảo: - Ngày mai, Vô Biên đã đi rồi đó. Các con cứ tâm sự với nhau. Nói xong, thầy rời chánh điện. Chúng tôi quây quần bên nhau. Vô Ngại là người lên tiếng trước: - Sư huynh, khi nào sư huynh đến chỗ Bồ-đề đạo tràng, nhớ thắp cho đệ một ngọn đèn trí tuệ cúng dường lên Đức Phật nhé, để cho đệ sớm có trí tuệ giải thoát. À, mà sư huynh nên thắp đèn trí tuệ cho tất cả mọi người trong chùa mình, chứ một mình đệ giải thoát trước thì buồn quá. Nói xong, Vô Ngại nhìn chúng tôi cười khúc khích, làm ai cũng phì cười. - Được rồi. Đến nơi, huynh sẽ thắp ba mươi cây cho tất cả mọi người. - Nghe nói, gần vườn Lumbini, có một tộc người họ Thích sống. Đó là những người có dòng họ với Đức Phật của chúng ta. Sư huynh nhớ đến thăm và chụp ảnh họ đem về đây nhé? - Ừ. - Sư huynh nhớ đem đất ở bốn chỗ “động tâm” về chùa mình thờ nghe sư huynh? - Đúng đó. - Ừ… ừ… Tối hôm đó thật vui. Bao nhiêu điều ước của chúng tôi gởi cho y đem đi Ấn Độ, y đều hoan hỷ nhận lời. Sáng hôm sau, điểm tâm xong, chờ cho y lên đảnh lễ sư phụ xong, tất cả chúng tôi đều đưa tiễn y xuống hết dốc núi với thật nhiều lời dặn dò. Sư đệ Vô Ngại là người có vinh dự dùng xe máy của chùa chở y xuống núi, chờ ngày mai bay vào Sài Gòn để xin thị thực nhập cảnh và đăng ký chuyến bay. Niềm hoan hỷ về chuyện hành hương của Vô Biên rồi cũng lắng xuống. Chúng tôi phải trở về để sống với cái đang hiện tiền. Nội dung của toàn bộ đời sống tu tập là làm sao để luôn luôn hạnh phúc và đối diện với thực tại đang là. Dĩ nhiên là rất khó duy trì được tâm sáng suốt trong mọi lúc, nhưng nếu biết nỗ lực đúng cách thì những vọng niệm dấy động mỗi ngày càng bớt đi. Thật bất ngờ khi hai hôm sau, Vô Biên trở về. Khi ấy, chúng tôi đang ngồi uống trà buổi sáng với sư phụ. Y lên chào thầy. Để cho y đảnh lễ xong, thầy hỏi có vẻ ngạc nhiên: - Ủa, sao con lại quay về? Thầy tưởng hôm nay con đã ở Sài Gòn rồi chứ? - Bạch thầy, con chưa đi được. Có lẽ chưa đủ nhân duyên… Y trả lời thầy chỉ có vậy, rồi xin phép lui về cốc. Mọi người thật khó hiểu. Tính y vốn đã ít nói mà sư phụ lại càng ít nói hơn. Nếu lúc đó, sư phụ hỏi nguyên nhân thì chúng tôi khỏi mất công suy nghĩ. Mấy ngày tiếp đó, tôi nghĩ mãi mà chẳng hiểu vì sao y lại quay về. Có lẽ cuộc đời này không ai hiểu được ai. Vì con người là một thực thể cô đơn tuyệt đối. Những nhân cách lớn thì hành tung của họ càng khó hiểu hơn nữa. Một tuần sau, mọi chuyện tưởng chừng như đã lắng xuống. Bỗng nhiên, hôm đó, sau giờ công phu, thầy bảo đại chúng ngồi lại một lát. Thầy lấy ra một phong thư, rồi nói: - Vô Ngại, con đọc đi. Đây là lý do mà Vô Biên không đi Ấn Độ. Thầy rất mừng là Vô Biên đã làm được một việc có ý nghĩa. Vô Ngại chậm rãi đọc lớn: - “Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật Kính gởi: Hoà thượng trụ trì và Chư Tăng chùa Hư Vô Trong lúc chúng tôi đang gặp khó khăn về nguồn thuốc ngoại nhập để điều trị cho những bệnh nhân nhiễm HIV thì nhận được số tiền năm ngàn USD của Chư Tăng do sư Vô Biên đại diện gởi tặng. Số tiền ấy đã giúp chúng tôi kịp thời xoa dịu nỗi đau thiếu thuốc của những bệnh nhân. Thay mặt Ban Giám đốc điều hành, thay mặt những bệnh nhân nhiễm HIV, chúng tôi xin trân trọng tri ân tấm long hào hiệp của quý vị. Cầu chúc quý vị có nhiều sức khoẻ để luôn làm lợi lạc cho quần sanh. Ký tên, Giám đốc Trung tâm Từ thiện Y tế TT-Huế” Vô Ngại đọc xong, xếp lại lá thư rồi im lặng. Cả đại chúng cũng ngồi yên lặng. Ngoài trời, tiếng côn trùng chợt lặng yên. Không gian và thời gian như dừng lại. Lâng lâng cảm xúc, chúng tôi đều ngưỡng mộ tấm lòng cao cả của sư huynh “Tham Vô Biên”. Sáng hôm nay, bầu trời thật đẹp. Mặt trời đỏ rực ngự trên đỉnh núi. Sườn núi ửng đỏ, toát lên vẻ uy nghi rực rỡ. Thiên nhiên bao giờ cũng đẹp hơn tranh vẽ. Giờ này, chắc sư huynh Vô Biên đã ra vườn với chú giới tử Vô Dư – chú Vô Dư này là thằng Bợm thuở trước. Sau khi mẹ nó qua đời, như tỉnh ngộ, nó lên đây xin thầy xuất gia. Thấy tội, thầy nhận và giao nó phụ giúp công việc với sư huynh Vô Biên để tích chút công quả. Tôi phải dừng câu chuyện ở đây thôi. Bởi còn phải tranh thủ ra phụ giúp với sư huynh của tôi trồng mấy loại hồng mới nhập về. Tối qua, chúng tôi đã thoả thuận, từ nay tôi sẽ phụ giúp với sư huynh chăm sóc vườn hoa, chờ dành đủ số tiền, tôi sẽ tháp tùng theo sư huynh hành hương xứ Phật. Hy vọng sớm đủ duyên lành để chúng tôi được thoả mãn ước nguyện. Mặc dù, hôm kia, Vô Biên đã nói nhỏ với tôi: “Chúng ta làm việc để phụng sự, làm việc với tâm rỗng rang, mát mẻ như thế này là chúng ta đã không “thường trực hành hương” xứ Phật rồi hay sao?”“- Ôi! Sư huynh Tham Vô Biên của tôi!” CH .]]] |
|
|
|