Sưu khảo by Toại Khanh

XIN ĐỪNG HỎI VÌ SAO

(tiếp theo)

Có một sự trùng hợp lạ lùng khó giải thích là ở nhiều ngôn ngữ, câu nói chào khách, hoan nghênh kẻ mới đến, đều có một nội dung và từ vựng giống nhau. Trong khi người Tàu chào khách bằng hai chữ Hoan Nghênh thiệt riêng tây, thì ở một loạt ngôn ngữ khác, gồm tiếng Pàli và nhiều ngôn ngữ Tây Phương lại có cách biểu đạt giống hệt nhau, tương đồng về cả từ nguyên. Tiếng Anh, Mỹ nói Welcome (gồm Well (tốt) + Come (Đến, Tới), tiếng Đức cũng dùng chữ này nhưng biến đổi một chút thành Willkommen, tiếng Tây Ban Nha là Bienvenidos và tiếng Pháp là Bienvenue (đều có cùng ngữ căn Bien (Tốt) + Venir (Đến, Tới). Tiếng Miên vay mượn từ Pàli và Sanskrit để có chữ Soa-khum, gốc từ chữ Svàgamana (gồm Su (tốt) + Àgamana (đến, tới). Trong tiếng Pàli lại có thêm chữ khác là Svàgata (cũng gồm Su (tốt) + Àgata (đến, tới), cũng có nghĩa là Welcome !

Ta có chút liên tưởng nào khi nhìn thấy chữ Bhàga (phần, bộ phận) trong tiếng Pàli với danh từ Part trong tiếng Anh, cũng có nghĩa là phần.

Tiếng Pàli có từ Bhanga (sự rời rã, nát tan, thất tán, phân ly), tiếng Hán Việt có chữ Phấn cũng là tan nát, đổ vỡ. Chưa hết, lâu nay cứ thấy chữ Phân (ly), Phần, Phận trong tiếng Hán Việt thì tôi cứ nhớ đến chữ Bhanga bên tiếng Pàli, cũng như thấy chữ Bheda (bể, vỡ ; thứ, loại) của Pàli thì tôi lại nhớ đến chữ Bể bên tiếng Việt. Lạ thiệt, chúng cứ như cùng một gốc.

Chẳng hiểu sao chữ Danh Từ hay Tên Gọi trong vài thứ tiếng lại giống nhau như đúc: Trong ba thứ tiếng Anh-Pháp-Đức là Name, Nom, Namen, còn bên tiếng Pàli là Nàma !

Theo tiếng Pàli, Con Người được gọi là Manussa, nghĩa là con cháu hay hậu duệ của vua Manu. Tên gọi này xuất phát từ một truyền thuyết rằng ông vua đầu tiên trên xứ Ấn Độ tên là Manu . Ông là một minh quân kiểu Nghiêu Thuấn bên Tàu và chính là người đã làm ra bộ luật Manu nổi tiếng thời Cổ Ấn mà nay vẫn còn được biết đến, tương đương với bộ luật Hammurabi của vương quốc Babylon ngày trước. Chẳng rõ vì lý do nào, chữ Man bên tiếng Anh và Mann trong tiếng Đức lại ngó như có cùng nguồn gốc với chữ Manussa bên Pàli !

Bên tiếng Pàli có chữ Sama nghĩa là cái giống nhau, thứ tương tự, như Asama là vô địch, không có cái tương đương. Thú vị là nhìn lại bên tiếng Anh ta thấy có chữ Same và Similar cũng có cùng nghĩa như vậy !

Trong tiếng Pàli có chữ Kanittha nghĩa là bé nhỏ, như Kanitthabhàtà là em trai hay Akanittha là cõi Phạm Thiên cao nhất trong 5 cõi Tịnh Cư. Ở cõi này, toàn bộ Ngũ Quyền (Tín, Tấn, Niệm, Định , Tuệ) của các Phạm thiên đều ở mức toàn hảo, vì đây là nơi chốn cuối cùng để các vị chứng ngộ La-Hán rồi viên tịch, không còn có thêm một kiếp tái sinh nào nữa. Ở bốn cõi Tịnh Cư kia có thể có những Phạm Thiên còn chút khiếm khuyết trong đạo lực, nhưng ở cõi Akanittha thì không, vì vậy tên gọi Akanittha ở đây có nghĩa là “không một thiện pháp nào ở đây là yếu ớt, nhỏ nhoi”. Thật lạ lùng, mỗi khi TK nhìn thấy chữ Kanittha trong Pàli thì lại nhớ đến chữ Con Nít trong tiếng Việt. Lại cũng xin đừng hỏi vì sao !

Trong khi bên tiếng Pàli có chữ Cora (đọc là Chô-rá) nghĩa là trộm cướp nói chung, thì trong tiếng Việt có chữ Trộm, và tiếng lóng trong nước bây giờ còn có chữ Chôm, cũng có nghĩa là trộm. Nghe chữ này cứ bắt nhớ chữ kia !

Thật ly kỳ khi trong tiếng Pàli có chữ Bhàra là Gánh Nặng (như câu Phật ngôn Bhàrà Have Pancakkhandhà, năm uẩn đúng là những gánh nặng), thì bên tiếng Anh ta có động từ Bear nghĩa là cưu mang, gánh vác. Ngó kỹ hai chữ Bhàra và Bear ta thấy như có chút gì bà con.

Trong Pàli có động từ Vaddhati (tăng trưởng, phát triển), danh từ Vaddhana (sự phát triển), danh từ Vaddhaka (bậc trưởng thượng hay người già cả). Nhìn sang chữ Phát trong Hán Việt, ta thấy chữ Vaddhati bỗng trở nên dễ nhớ hơn.

Trong tiếng Hi-Lạp có chữ Sophia là trí tuệ, sự sáng sủa (như trong chữ Philosophy). Điều thú vị là bên Pàli có 2 chữ Subha và Sobhana cũng đều có nghĩa là sáng sủa, tinh khiết, chói sáng. Chẳng rõ có sự liên quan nào giữa ba chữ này.

Trong khi tiếng Anh có chữ Youth là tuổi trẻ, bên tiếng Pàli có chữ Yuva cũng là tuổi trẻ !

Chữ Sutta trong tiếng Pàli có nhiều nghĩa, trong đó có ý nghĩa Sợi Chỉ. Từ nghĩa này, thật thú vị khi thấy chữ Sutta tôi cứ liên tưởng đến chữ Suốt trong tiếng Việt. Xin đừng hỏi vì sao !

Chữ Mad trong tiếng Anh nghĩa là điên khùng. Tôi đã ngẫu nhiên thấy ra chút gì gụi gần giữa chữ Mad này với ba chữ Ummattaka (người loạn trí), Mada (say đắm), Majja ( say sưa) trong tiếng Pàli, rồi thì chữ Mê trong tiếng Việt. Nhờ kiểu liên tưởng Madly này mà tôi nhớ được nhiều từ vựng chăng !

Thật ly kỳ khi tình cờ nhiều ngôn ngữ có chung một cách diễn tả về cái chết. Như khi tiếng Việt gọi là Qua Đời, thì tiếng Hán Việt gọi là Quá Cố, Quá Vãng, đều nhắm đến ý nghĩa “qua khỏi, bỏ lại sau lưng” cái cõi trần gian này. Thế rồi tiếng Anh lại có chữ Passing Away cũng là sự từ trần, sự phủi áo ra đi, sự vượt qua, bỏ lại cái gì đó. Và ý nghĩa “Vượt qua, bỏ lại” ấy ai ngờ lại từng xuất hiện trong cả tiếng Pàli từ mấy nghìn năm trước, chẳng hạn trong lời dặn dò sau cùng của đức Phật cho chúng tăng: Những giáo lý và giới luật đã được ta tuyên thuyết, chế định sẽ tiếp tục là đạo sư cho các ngươi ngay khi ta đã ra đi (mamaccayena). Accaya (Ati+aya) có nghĩa là sự đi qua khỏi, sự quá vãng, quá cố, qua đời. Cũng phải thôi, sinh ra là một lần ghé lại, đời sống là chuỗi ngày rong ruỗi, rồi thì chết là lúc đôi chân đã rời khỏi nhân gian. Đời người là cái gì đó phải vượt qua, bỏ lại !

Đã nói đến cái chết mà không nhắc thêm một động từ Pàli nữa thì cũng là đáng tiếc vậy. Đó là chữ Marati (chết) trong tiếng Pàli cùng một loạt những trùng hợp thú vị với các ngoại ngữ khác. Có ai trong chúng ta ngờ rằng chữ Ma (yêu ma) trong tiếng Việt và Hán lại xuất phát từ chữ Màra (ma vương, ác ma) trong tiếng Pàli và Sanskrit. Chữ Màra này vốn có nghĩa đen là Thần Chết, kẻ sát nhân. Trong kinh điển Pàli, chữ Màra có nhiều nghĩa, nhưng đại khái là cái gì gây nên chuyện chết chóc, phá hoại. Như Ác Ma thiên tử là vị thiên vương chủ quản cõi Dục Thiên cao nhất luôn tìm dịp phá rối, trêu chọc những người tu hành thượng thặng, kể cả đức Phật. Phiền não, cái chết, và cả sự hiện hữu trong Tam Giới cũng được gọi là Màra vì đó là những gì làm khổ chúng sinh. Và dù ở ý nghĩa nào, chữ Màra cũng xuất phát từ động từ Marati (chết). Từ động từ này, ta lại có thêm động từ Màreti (giết, làm cho chết).

       Điều khó hiểu nhưng thú vị là nhìn sang các ngôn ngữ Tây Phương, ta thấy dường như chữ Marati của Pàli có khá nhiều bè bạn. Tiếng Pháp có Mort, tiếng La-Tinh có Morior, đều nghĩa là chết. Rồi thì tiếng Anh có Murder (kẻ sát nhân), tiếng Đức có Mord cũng đồng nghĩa. Cuối cùng, hình thức Quá khứ Phân Từ của Marati (chết) là Mata lại khiến ta liên tưởng đến chữ Mất trong tiếng Việt, cũng có nghĩa là Chết !

Đến đây thì ta lại phải nhắc đến một thuật ngữ vừa nổi tiếng mà cũng rất nhạy cảm trong Phật giáo hôm nay, đó là chữ Thiền. Như một định phận khốc liệt cho Phật giáo hiện đại khi mà những từ ngữ, khái niệm được xem là tối yếu, ghê gớm, quan trọng nhất lại cứ là những “nghi án” ởm ờ và khó ăn nói nhất. Có lẽ rồi sẽ đến lúc mà điều ta phải e ngại nhất chính là sự lặng lẽ quan sát của những người không phải Phật tử lại có điều kiện tham cứu tường tận kinh Phật bằng một thái độ thanh thản, bình tĩnh, không bận lòng với những tự ái, tự tôn hay một lý do cá nhân nào hết. Họ sẽ có nhiều điều kiện tâm lý để nhận ra cái gì là thừa hay thiếu, đúng hay sai. Trong khi đó, vì quá nặng lòng hay nặng tình với vài thứ, người tự nhận là Phật giáo đồ đôi lúc phải gồng gánh những thứ chính mình thấy là có vấn đề. Chẳng hạn không ít người học Phật hôm nay chẳng dám nghĩ nhiều vể sử tính của các thuật ngữ vẫn được xem là quan trọng và nổi tiếng, như Pháp Thân, Phật Tánh, A-Lại-Da Thức, Như Lai Tạng, Chân Không, Diệu Hữu, Bất Nhị, Trung Ấm, Vãng Sanh, rồi thì cả chữ Thiền mà ai cũng nghĩ là một cấm địa thiêng liêng.

Thuật ngữ Thiền vẫn đang được thiên hạ sử dụng rộng rãi hôm nay như Cửa Thiền (chùa chiền, chốn tu hành), Thiền Tông (tông phái đặt nặng nội dung tu học qua việc tham án, thiền định, tĩnh tâm) với vô số danh nghĩa Thiền Phái, Thiền Sư mà mỗi nơi có một lối định nghĩa và hành trì không mấy giống nhau, vốn xuất phát từ chữ Jhàna trong tiếng Pàli và Dhyàna bên tiếng Sanskrit. Hai chữ này theo nghĩa gốc trong Tam Tạng kinh điển nguyên thủy chỉ có nghĩa là bốn tầng thiền chứng Sơ, Nhị, Tam, Tứ Thiền. Và theo kinh điển Pàli, tầng Sơ Thiền là trình độ tâm linh chỉ có thể đạt được qua sự tập trung tư tưởng đúng mức trên các đề mục (gồm mấy chục đề mục, xin xem thêm trong Thanh Tịnh Đạo  phần giải về Định Học – Samàdhiniddesa). Và trên nguyên tắc, người chứng đạt tầng Sơ Thiền phải vượt qua được năm thứ phiền não thô thiển nhất là Tham Dục, Sân Độc, Hôn Thụy, Trạo Hối, Hoài Nghi. Đồng thời, trình độ tâm linh này bao gồm năm khả năng cần thiết cho tầng Đại Định sơ cấp là Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc, Định. Nói vậy có nghĩa là chỉ riêng tầng Sơ Thiền cũng không phải là món dễ nuốt. Nếu hành giả có cơ duyên sâu dày, sau tầng Sơ Thiền sẽ là các tầng thiền chứng còn lại với những nội dung ngày một cao cấp và vi tế hơn. Nếu đến lúc lâm chung mà vẫn giữ được các tầng thiền chứng này, hành giả sẽ sanh vào các cõi Phạm Thiên tương ứng. Khi không có chư Phật ra đời, trong thiên hạ vẫn có những người tu tập và chứng đắc các tầng thiền định trên đây, nhưng thường thì cứu cánh cao nhất mà họ đạt được chỉ là khả năng thần thông (với trình độ Tứ Thiền) và vãng sinh Phạm Thiên Giới (sống hết tuổi thọ trên đây thì đương sự tiếp tục trở về vòng quay mịt mù của Lục Đạo theo duyên nghiệp của mình). Chư Phật vẫn nhìn nhận giá trị của các tầng thiền chứng này, nhưng chỉ xem đó như bước đi thứ hai trong hành trình Tam Học (Giới, Định, Tuệ). Tức là bên cạnh sự thanh tịnh trong giới luật, hành giả cũng nên tu tập các tầng thiền định để lấy đó làm nền tảng cho trí tuệ quán chiếu Tam Tướng (Vô Thường, Khổ Não, Vô ngã) trong vạn pháp. Kể cả bản thân các tầng thiền chứng cũng được xem là đối tượng để quán chiếu Tam Tướng. Nghĩa là ngoài việc nhìn ngắm những tham, sân, si, và các loại thiện tâm của mình để quán chiếu Ngũ uẩn, hành giả từng chứng qua thiền định còn có thể quan sát các thiền tâm của mình để giác ngộ tính Tam Tướng trong đó.

        Theo bước chân hoằng hoá của các tu sĩ Phật giáo, giáo lý Tam học được giới thiệu rộng rãi ở nhiều miền đất và tùy theo trình độ, khuynh hướng của các vị mà Phật pháp ngày một có thêm những triển khai tùy thích và tùy nghi. Một trong những nhánh rẽ ngoạn mục nhất của các dòng Phật giáo là sự đào sâu, khoét rộng chữ Thiền (Jhàna, dhyàna). Hôm nay người Tàu hiểu chữ Thiền (Chan) không giống như người Nhật hiểu chữ Zen. Đó là chưa kể đến trường hợp hai chữ này được hiểu theo cách của các học giả Tây Phương. Như Philip Kapleau làm sao giống với Daisetz Tettaro Suzuki, rồi Thiền Việt Nam hải ngoại với Thiền Việt Nam quốc nội. Một cách khiên cưỡng, gượng gạo thì ta có thể nói trăm sông đều đổ về biển, hay con đường nào cũng về La-Mã, nhưng nếu có thời giờ ngó kỹ cách thức hành trì của các thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Thảo Đường, Trúc Lâm, Thiền Tông Thần Tú, Thiền Tông Huệ Năng , nói chung là thiền Tàu, thiền Việt, thiền Nhật, thiền Đại Hàn, thiền Tây Tạng, thiền Tây Phương,…thì ta sẽ thấy không phải dòng sông nào trong số đó cũng giống nhau hay đều dẫn về biển !

Theo chỗ TK được biết, trong kinh điển Nam Tông nguyên lai không hề có chữ Thiền với ý nghĩa như đại đa số người học Phật hôm nay vẫn hiểu. Trong tạng A-Tỳ-Đàm có hai định nghĩa về chữ Thiền. Thứ nhất, chữ này ám chỉ bốn tầng thiền chứng  và ý nghĩa thứ hai (trong bộ Patthàna) là gọi chung cho những gì có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với các Thiền Chi (Jhànanga) như Tầm, Tứ, kể cả hỷ thọ, ưu thọ…Trong một trường hợp khác, theo bộ Paramatthamanjusà (Sớ Giải của bộ Thanh Tịnh Đạo), pháp môn Tuệ Quán (Vipassanà) tức Tứ Niệm Xứ được gọi là Lakkhanùpanijjhàna, tạm dịch là sự chuyên chú trong Tam Tướng (Tam Pháp Ấn) bằng cách an trú Chánh Niệm cùng Tỉnh Giác (Sampajanna- tức trí tuệ) và pháp môn Chỉ Tịnh (Samatha) tức việc tu tập thiền định qua các đề mục thiền Chỉ, được gọi là Àrammanùpanijjhàna, tạm dịch là sự chuyên chú trong các đối tượng án xứ bằng cách tập trung tư tưởng. Người Anh Mỹ gọi pháp môn Tuệ Quán là Insight (Nội Quán) và pháp môn Chỉ Tịnh là  Concentration (Tập Trung Tư Tưởng). Cũng xin lưu ý rằng trong trích dẫn trên đây, pháp môn Tuệ Quán cũng không được gọi tên bằng một chữ Jhàna độc lập, mà là một từ ghép Upanijjhàna. Trong khi đó chữ Thiền là tiếng phiên âm từ mỗi một chữ Jhàna. Chẳng bàn chi chuyện chữ nghĩa, nếu chỉ xét về nội dung hành trì của người tu thiền bây giờ thì có lẽ thiền Chỉ hay thiền Quán thời nguyên thủy không được quan tâm nhiều lắm. Từ đó, chiếu theo những gì vừa thưa ở trên, Zen hay Thiền hay Chan  theo lối hiểu phổ thông hôm nay hình như lại là một hướng đi mới của Phật giáo hậu thời nhằm khế hợp với căn cơ hay tâm tình, khuynh hướng của thời đại Hậu Phật.

           Nhưng có lẽ cũng nhờ tinh thần “phương tiện” này, người Phật tử hôm nay đã được trấn an rất nhiều khi giữa những nhịp sống xô bồ họ vẫn thấy mình không đến nổi xa rời Phật Pháp. Họ có thể chơi lan kiểng, tập  luyện võ thuật, dưỡng sinh, uống trà, rồi thì hội hoạ, thơ văn, âm nhạc, kể cả trang trí nội thất,…miễn là món nào cũng có một chữ Thiền đỏ chót nằm bên cạnh là vững bụng rồi. Với lối tu hành nhẹ nhàng đó có thể khó nên thánh, nhưng có thể trở thành những phàm phu dễ thương. Vậy cũng là nhất rồi ! (còn tiếp)

 

 

]]]