Chén Trà Mùa Xuân

Tuỳ bút by Chơn Hữu

Trời còn chưa sáng tỏ, những làn sương đêm còn quyến luyến trên dốc núi tạo nên nét đẹp tiêu diêu phiêu phất, đâu đó trong những khu rừng lân cận vang lên những tiếng gà gáy thật vui tai; quả thật gà rừng gáy rất vui, không hay và oai vệ như tiếng gáy gà nhà nhưng tiếng của gà rừng nghe rất thú vị vì toát lên vẻ hoang dã chất phác pha lẫn chút gì như niềm tự do sống trong thiên nhiên vậy. Dừng lại cuối con đường kinh hành, tôi mê mẫn ngắm nhìn những giọt nước đọng lại trên đầu kim của những chiếc lá thông, chúng đẹp và tinh khiết đến lạ lùng. Buổi sáng, sau giờ công phu, một vài vòng kinh hành quanh chùa, lắng nghe và nhìn ngắm phong cảnh rồi về cốc tráng ấm chén pha trà, hương trà thoang thoảng pha lẫn không khí trong lành, nhấp ngụm trà đầu tiên và cảm nhận niềm thú vị; phải chăng, đó cũng là một trong những đam mê của một kiếp người?

Dường như sống trong cuộc đời này, mỗi người đều có nhũng  đam mê hay những thú vui nào đó để sống, để lướt qua thời gian, để khoả lấp muộn phiền, để đời sống có ý nghĩa…hoặc dù là gì đi nũa  nhứng thú vui, những đam mê có mặt trên cuộc đời cũng do con người là chúng sanh hữu tình!

Trong vòng xoáy của cuộc đời, dù ở đâu, khi nào thì con người vẫn là chúng sanh khát sống nhất. Sự khát sống ấy được biểu hiện dưới nhiều hình thái, nhiều phương diện khác nhau, nhưng chung quy vẫn khởi xuất từ ý niệm trực nhận về sự giới hạn thân phận đời sống mình trong vũ trụ bao la giữa dòng thời gian vô cùng vô tận.

Những đam mê hay những thú vui của loài người từ xưa đến nay thật thiên hình vạn trạng nhưng chung chung thì cũng tuỳ theo tâm mà tìm cảnh. Tâm cao nhã thì tìm thú vui thanh tao, tâm thấp thỏi thì tìm đam mê hạ liệt. Thú vui hay niềm đam mê là những chất liệu rất cần thiết để thắp lên ngọn lửa của đời sống, nếu đời sống không có “lửa”…thì chắc chắn sẽ rất lạnh lẽo vì vô vị và lúc đó con người sẽ cảm thấy trống trải. Một khi nỗi trống trải chán chường xuất hiện thì niềm khát sống sẽ dừng lại, sự sống lúc ấy chỉ là mặt kia của sự chết hay nói như ai đó chỉ là tồn tại chứ không phải sống. Có bao giờ bạn cảm nhận bạn đang tồn tại chứ không phải sống chưa? Hay có bao giờ bạn ý thức về niềm khát sống đang dâng tràn bên trong bạn chưa? Dù bạn là ai, đang chán chường hoặc khao khát,  khi bạn đọc những dòng chữ này tôi xin mời bạn một chung trà.

Chuyện uống trà. Nhân loại đã có rất nhiều sách vỡ, thậm chí nâng lên thành hạng kinh điển như “trà kinh” hay thánh hoá như “ trà đạo” mà ngày nay ai ai cũng dường như biết rõ, ở đây khi đề cập đến trà chỉ đơn giản là một thú vui nho nhỏ như một chất liệu thắp lửa cho cuộc đời vốn nhiều tăm tối và lạnh lẽo, dĩ nhiên chúng tôi vẫn biết rằng có những người suốt đời không biết uống trà nhưng cuộc đời của họ là một ngọn lửa ấm áp luôn sưởi ấm cho tha nhân, và đời sống trong lành của họ cũng chính là vị trà trác tuyệt nhất. Nhưng, chắc chắn  rằng người uống trà lịch trải là người cảm nghiệm được rất nhiều về ý nghĩa cuộc đời vì mỗi một cuộc trà là một bài học rất sâu sắc về rất nhiều phương diện của một kiếp nhân sinh.

Người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung biết uống trà từ rất sớm. Nhiều tư liệu nói rằng người ta biết đến thức uống từ một loại lá có tên Dã trà hơn bốn ngàn năm về trước,do vua Thần Nông nếm  thử và nhận thấy nước uống có hương vị thần diệu. Cũng có người còn quả quyết rằng loại dã trà đó được phát hiện trên đất Việt thưở xa xưa mà bây giờ là vùng Tân Cương hay Bắc Thái gì đó. Tôi thấy thuyết này có lý đó nghen vì trà Bắc Thái là loại trà mà tôi vốn thích nhất. Trà Bắc Thái có vị thật ngon mà hương của nó cũng nhẹ nhàng sâu lắng nữa, khi mình uống xuống khỏi cổ rồi mới cảm được cái hương của nó. Trà có rất nhiều loại, kể cả loại trà uống liền như  LipTon thì chỉ riêng Quốc gia Ấn Độ sản xuất đã hơn 1500 loại. Tuy nhiên người uống trà sành điệu Việt Nam thường chia trà ra làm hai loại chính, trà ướp hương hoa và trà vị. Rồi mỗi loại lại có nhiều loài khác nhau, hương sen,sói, lài, bưởi, ngâu… vị thì nào ngọt, đắng, cay , nồng, chát…mỗi một thứ đều có riêng một hàng đồ chúng. Người miền nam thì thích trà ướp hương, miền trung và bắc thì khoái trà vị, nói chung chung vậy thôi chứ những cao thủ trà miền nam cũng có người rất thích trà vị và ngược lại.

Trà là thức uống chính của hàng Tăng nhân từ xưa cho đến nay. Cũng có truyền thuyết rằng cây trà  là sự hoá thành từ cặp mi mắt của một vị tổ sư thiền tông. Có vị tổ sư kia cứ đến giờ công phu khuya là rơi vào trạng thái mệt mõi, sư đã tìm mọi cách để đối trị cơn bệnh buồn ngủ mà vẫn không chiến thắng được. Để khỏi rơi vào mê ngủ nhà sư nọ đã cắt bỏ hai mí mắt của mình, và chỗ quăng bỏ đôi mí mắt ấy mọc lên một giống cây lạ mà khi hái lá pha nước uống thì giúp cho người uống tỉnh táo sảng khoái. Có lẽ chỉ là huyền thoại để ám chỉ trà du nhập vào Trung Hoa từ Ấn Độ, nhưng là một huyền thoại rất đạo vị.

Nhiều giai thoại uống trà uống trà cho chúng ta thấy nhiều hình ảnh thi vị và thật thơ mộng, hồn nhiên hay sâu lắng đến lạ thường. Bạn hãy hình dung một cảnh tuợng gồm mấy ông già hẹn nhau thức đêm, nấu nước pha trà chờ xem hoa quỳnh nở, do đêm sương xuống, phần thì vội kiếm củi còn tươi nên mấy cụ thay nhau thổi lửa, khói bay mù mịt, cụ nào cũng nước mắt nước mũi ròng ròng khi cạn chung trà rồi trầm trồ khen trà ngon và hoa đẹp. Giai thoại uống trà thưởng hoa mà một vị đại thần dâng lên nhà vua cũng là một hình ảnh để cho ai đó suy tư về cái đẹp. Có vị Vua nọ rất thích uống trà và ngắm hoa trà, mùa xuân năm ấy không hiểu sao hoa trà trong vườn thượng Uyển của vua và trong cả nước đều không ra hoa? Có tin báo rằng vườn hoa trà của một vị tướng quân, đang nở rất nhiều hoa trà xinh đẹp.Vị tướng này cũng là một trà nhân danh tiếng, nhà vua gợi ý sẽ đến uống trà và thưởng hoa trà  tại tư dinh của tướng quân, vị tướng quân nhận lời với niềm vinh dự cao quý. Đúng hẹn nhà vua đến, sau khi miễn tất cả lễ nghi quân thần và  chỉ yêu cầu được đón tiếp theo nghi thức trà nhân. Nhà vua rất ngạc nhiên khi nhìn khắp khuôn viên rộng lớn trồng hoa trà của tướng quân mà không trông thấy bất cứ một cây hoa trà nào, cho đến khi bước vào trà thất, bên khay trà một chậu hoa trà tuyệt đẹp làm cho vua phải sững sờ. Sau này vua mới biết, trước hôm vua giá lâm, vị tướng quân nọ đã cho chặt phá hết vườn hoa trà của mình chỉ để lại một cây đẹp nhất. Ôi, có phải sự vẹn toàn là không thể có  hai?

Rất nhiều giai thoại về trà thật thú vị, thi vị và đạo vị. Khi trà được các vị Thiền sư Nhật Bản nâng lên hàng trà đạo thì chuyện uống trà không còn là chuyện giải khát mà đã là một phương châm sống hay trở thành một nguyên lý để trở về nhìn ngắm bản chất thực trong sự tương quan tương duyên của thế giới nội tại và  thế giới ngoại tại. Từ nguyên lý đó đã phát sanh ra nhiều phương pháp mà mặt nỗi của nó là hình thức và dù là hình thức như những công  thức chế biến đi nữa thì như ta thấy  nó vẫn góp phần làm thăng hoa chuyện uống trà. Có phải những điều ấy nói lên rằng những gì bình thường nhất đều ẩn chứa sự thật- chân lý ?

Một buổi uống trà trang nhã là cả một nghệ thuật, đòi hỏi người uống trà phải có một tinh thần tập trung ở hiện tại. Nhất nhất mỗi động tác đều phải được thực hiện trong chánh niệm. Cứ mỗi buổi sáng sớm, người pha trà có dịp quẳng hết mọi muộn phiền trong cuộc sống, chăm chú vào một việc làm khiêm tốn cẩn trọng đến độ như một nghi lễ. Ở đó sự sáng suốt được thể hiện tối đa, tâm của người pha trà lúc ấy chỉ ghi nhận những gì đang xảy ra, quá khứ và tương lai hay ảo giác và ảo tưởng không có cơ hội chi phối kẻ pha trà. Với hành động pha trà trong chánh niệm như vậy, mặc dù có vẻ là hình thức nhưng lại không khác với cứu cánh của thiền là trở về sống thực nơi từng khoảnh khắc đang là. Mục đích của thiền định và thiền tuệ là lắng tâm và làm cho tâm sáng suốt, phần nghi thức khi pha trà và uống trà cũng có mục đích như vậy. Tâm của người uống trà có dịp lắng lại khi theo dõi từng động tác pha trà và thưởng thức từng ngụm trà như theo dõi từng hơi thở vào ra một cách trọn vẹn vậy.

Tôi cũng mới biết uống trà từ chục năm nay, trước đó thì cũng hay uống nhưng uống toàn trà đá. Kể từ khi theo thầy lên núi mới có dịp học uống trà, và từ chuyện uống trà quả thật tôi đã học được nhiều bài học sâu sắc. Bài học đầu tiên mà tôi học được từ uống trà là tình yêu thương và lòng bao dung. Lúc đó chùa chúng tôi rất đông, ngoài sư phụ là người đứng đầu còn có rất nhiều sư huynh cao hạ, trung hạ và những giới tử sư đệ nữa. Trong nghi lễ hoặc trai đường thì sự phân biệt vai vế rất nghiêm túc, nhưng mỗi sáng sớm, khi tập trung tại am của thầy để uống trà thì tất cả chúng tôi đều hoà thuận bên nhau. Những ý kiến dù của vị nhỏ nhất đều được tất cả lắng nghe với lòng tôn trọng. Những khi có được loại trà nào đặc biệt, sư phụ thường chờ cho đủ mặt huynh đệ chúng tôi rồi mới pha uống để mọi người đều có dịp thưởng thức. Quả thật một vị bề trên mà có tâm hoà với kẻ dưới như vậy đâu phải ai cũng làm được, huống chi truyền thống uống trà giữa thầy trò như vậy tại Huyền Không Sơn Thượng hiện nay vẫn còn được duy trì.

Những kỷ niệm uống trà với huynh đệ là những kỷ niệm thật ý nhị và cũng rất thú vị. Có một đêm trăng sáng, mấy sư huynh ở chùa ngoài vào ở lại cốc tôi để uống trà ngắm trăng. hôm đó gặp ngày tôi hết trà, chỉ còn  bình trà nước nhạt thết từ hồi trưa. Mấy huynh đệ pha nước sôi vào bình rồi rót ra mỗi người mỗi chén, nhìn chén trà trắng bạch, ai cũng tức cười và còn gọi đùa là trà bạch hỷ nữa. Rồi có một lần mấy huynh đệ chúng tôi nhận lời mời của một đạo hữu, chủ một trà đình danh tiếng dưới phố, hạ sơn uống trà. Đoạn đường đến trà đình khá xa, đến nơi thì ai cũng khát và mệt, sau khi chọn trà Long Tĩnh Triết Giang có vẻ rất sành điệu, mọi người bấm bụng phải kiên nhẫn chờ cô phục vụ  lau tráng ấm chén tỉ mĩ rất kiểu cách. Sau khi pha trà xong cô ta rót cho mỗi người mỗi chén trà nhỏ xíu bằng ngón tay cái, ai cũng uống cạn lập tức, rồi có ý hối cô phục vụ pha nhanh lên, cô ả xổ giọng trà đạo: nào là uống trà phải học tính kiên nhẫn… Vị sư đệ trẻ nhất, sốt ruột ngoắc người phục vụ khác đến rồi sư đệ đọc lớn bài thơ của thầy : Với ta trà là đạo, khát cứ việc uống thôi, nếu thêm trà với đạo, đầu thượng trước đầu rồi” . Đọc xong thơ  y bèn gọi 1 ly sữa đá chanh, vậy là tất cả mọi người liền hưởng ứng gọi thêm 1 người một ly sữa đá chanh. Sư đệ này bây giờ đã hoàn tục, nhưng mỗi lần nhớ lại kỹ niệm đó là mỗi lần có một nụ cười. Đời có là bao, sao không sống hồn nhiên như vậy để đôi khi nghĩ lại có những kỹ niệm bình yên sư đệ nhĩ?

Không những nghệ thuật uống trà đem lại niềm vui tao nhã và là phương pháp để lắng tĩnh tâm hồn mà trà còn là một phương lương dược quý giá giúp ích rất nhiều cho đời sống của chúng ta. Từ thời Chiến Quốc (403-221 ÂÂL), người Trung Hoa biết sử dụng trà trong việc chữa bệnh. Đời nhà Tần, các đạo sĩ bắt đầu sử dụng trà trong việc luyện thuốc trường sinh. Phan Tấn Tô (1996) cho biết trà càng để lâu càng tốt trong việc chữa bệnh. Khi phối hợp với các vị thuốc khác, trà (bao gồm lá và nụ) có rất nhiều dược tính như kích thích thần kinh, làm săn da, tăng tuần hoàn, hô hấp,cầm máu, lợi tiểu, tiêu thực, chữa tiêu chảy, kiết lÿ và đắp vết thương sát trùng (GS Nguyễn Kỳ Hưng).

Với dân tộc Việt Nam, uống Trà là hình ảnh quen thuộc như cây đa đầu làng, con đò bến sông, trà không thể thiếu trong sinh hoạt, dù đời sống văn minh hiện nay có máy móc, phương tiện ẩm thực có phong phú đến bao nhiêu thì người Việt không thể quên được chén  chè xanh truyền thống. Trà trở thành nếp sống văn hóa, đã đi vào lòng dân tộc. Các cụ ngoài Bắc uống trà và ngâm mấy câu thơ :

Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà liên tử ngâm nôm Thúy Kiều

Những danh sĩ hay những thi sĩ đều có những câu thơ hay về trà.  Đại văn hào Nguyễn Du (1765-1820) thưởng thức trà với tâm sự:

Khi hương sớm lúc trà trưa
Bàn lan điểm nước đường tơ họa đàn

Nguyễn Khuyến (1835-1909) cuộc đời nhàn hạ vui với gió trăng:

Khi vườn sau khi sân trước
Khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm ba chén
Khi Kiều lẩy một đôi câu

 Nguyễn Khuyến

Trước đây và ngay cả bây giờ, mỗi khi ngẫm nghĩ về những công án liên quan đến trà  của thiền tông tôi thường thấy rất thú vị. Có công án được ghi lại rằng: “ một vị hành giả nọ lên gặp thiền Sư và hỏi: - mục đích của Đạo là gì? Thiền sư hỏi lại – ông ăn cơm chưa? Hành giả trả lời : dạ ăn rồi. Thiền sư bảo : vậy thì uống trà đi. Thế là hành giả nọ hoát nhiên đại ngộ”. Cũng một công án khác liên quan đến trà. : Đời nhà Đường có một vị Thiền Sư xuất chúng, Ngài Triệu Châu(778- 897). Một hôm có vị sư uyên bác đến tham vấn. Triệu Châu hỏi: “ Trước kia ông đã từng ở đây chưa?” Vị sư đáp: “ Thưa đã từng”. Triệu Châu bảo: “uống trà đi”. Sau đó một vị sư khác đến thăm, Ngài Triệu Châu  hỏi: “ Trước kia ông đã từng ở đây chưa?”. Vị Tăng khách đáp: “ Chưa!”. Triệu Châu bảo: “ Uống Trà đi”. Vị sư thị giả của Ngài Triệu Châu chứng kiến cả hai trường hợp trên không hiểu nỗi, bèn hỏi thầy mình: “ Tại sao đối với vị Sư trí tuệ đốn ngộ thì thầy bảo “ Uống trà đi”, mà đối với vị sư sơ cơ thầy cũng bảo “ Uống trà đi”. Vậy là có ý chỉ gì?”. Ngài Triệu Châu liền đáp: “Uống trà đi”. Một chén trà  “thực tại hiện tiền” của Ngài Triệu Châu còn ngát hương thơm đến tận bây giờ! Bạn là người đang bất an, phiền muộn, nuối tiếc…? Vậy thì bạn hãy “ Uống trà đi”.

Cuộc đời, thế giới, thế gian, cuộc sống, chốn bụi trần…có rất nhiều ý nghĩa, suy cho cùng thì như ai đó đã từng nói: “ Chỉ là một cuộc chơi”. Một cuộc chơi bi tráng và hoằng viễn. Tuy nhiên, có nhiều cấp độ, nhiều sự thể hiện và như thế nào là một cuộc chơi đúng nghĩa thì chỉ có người chơi mới tự mình hiểu rõ, vì những gì mình thể hiện cũng là những gì mình tận hưởng. Cuộc đời cũng giống như một giòng sông,thời gian không lúc nào dừng lại. Cũng vậy, mùa xuân đang về rồi mùa xuân sẽ qua, từng mùa xuân qua sẽ đưa người ta vào tuổi xuân già. Đó là bản chất của cuộc đời, níu kéo thời gian hay mơ mộng chuyện vĩnh thường là điều ảo tưởng, bởi vì chuyện sống chết, vinh nhục, xấu tốt, được thua, còn mất, vui buồn... tất cả đó là cuộc đời. Tất cả hiện tượng đang hiện hữu đều là chân lý nếu ta biết nhìn ngắm và lắng nghe. Mỗi một sát na sinh diệt đều ẩn chứa sự vĩnh cửu khi ta  trầm tỉnh và sáng suốt, chính ở đó mùa xuân tinh nguyên sẽ hiện ra chứ không phải bao giờ và ở nơi nào khác. Chỗ tuyệt đĩnh của việc uống Trà cũng như của Đạo, là sống thực với cái đang là… vượt ra khỏi danh từ ngôn ngữ qui ước. Mùa xuân mượn chén trà lan man đôi dòng hí lộng, âu cũng để “ mua vui cũng được một vài trống canh”. Mời bạn hãy uống trà đi!

Xuân Mậu Tí

Chơn Hữu