Đôi lời tự bạch về bản dịch Việt Ngữ của loạt bài

NHỮNG LỜI PHẬT DẠY - Some Sayings of the Buddha

 by Như Quang

Đầu tháng 11, 2007, Thượng tọa Giác Đẳng thông báo v́ lư do nhân sự, diễn đàn Diệu Pháp sẽ phải đóng cửa trong vài tháng tới. V́ nhân sự yếu kém mà thượng tọa Phật sự quá đa đoan, không thể nào kham nỗi nên dù rất muốn duy tŕ room Diệu Pháp thượng tọa cũng đành phải đóng room. Khoảng thời gian sinh tồn của room Diệu Pháp chỉ c̣n 108 ngày. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, mỗi ngày room sẽ được nghe giảng một đoạn kinh trong một quyển sách sư chọn.

Sự thông báo này khiến mọi người đều bàng hoàng v́ room Diệu Pháp là ngôi nhà ấm cúng của những Phật tử tha hương trên toàn thế giới cũng như Phật tử ở tại quê nhà. Trước viễn ảnh … homeless, ai lại không lo buồn. Nhưng với những lư do sư Giác Đẳng đưa ra th́ chuyện đóng room là điều không thể tránh khỏi. Rồi với lời kêu gọi thiết tha của sư Giác Đẳng, một số Phật tử hăng hái đưa tay nhận giúp một ít việc để duy tŕ mạng sống cho room Diệu Pháp. Một tia hy vọng loé sáng. Như vậy là mạng sống của room Diệu Pháp có thể sẽ kéo dài hơn 108 ngày.

Tham gia các room Phật giáo từ nhiều năm qua, tôi ít có cơ hội cầm micro v́ những sự bất tiện cá nhân như không có micro hoặc chỉ vào room trong giờ làm việc nên thường là vừa nghe giảng vừa làm việc. Bù lại, tôi cố gắng đóng góp vào những việc nhỏ “behind the scenes”, phía sau hậu trường, trong khả năng của ḿnh. Với những bài sáng tác, dịch thuật, biên soạn toát yếu cho các bài giảng của chư Tăng, tôi nhận được nhiều sự tán thán, khích lệ của chư Tăng cũng như các vị trong ban điều hành cùng các thân hữu trong room. Nhưng với sự đóng góp nhỏ nhoi như thế, tôi không nghĩ room Diệu Pháp sẽ vượt qua được cuộc chiến đấu tử sinh này.

Vài ngày sau khi thông báo quyết định đóng room, sư Giác Đẳng pm cho tôi, giao phó cho tôi một trọng trách mới: dịch quyển sách Some Sayings of the Buddha để đưa vào chương tŕnh giảng dạy hàng ngày. Tôi chỉ đối chiếu với bản dịch các bài kinh của Ḥa Thượng Thích Minh Châu và làm toát yếu dựa theo bố cục của quyển sách nói trên. Để góp phần vào việc cứu room khỏi chết, lại nữa phần việc nghe có vẻ đơn giản, nên tôi hoan hỷ nhận lời. Nhưng khi bắt tay vào việc rồi tôi mới biết ra thấy dễ nhưng không dễ!

Cái khó trước tiên là vấn đề tài liệu. T́m đâu ra quyển sách Some Sayings of the Buddha để mà đọc? Sư cho tôi địa chỉ website để đọc nhưng khi vào được trang web đó rồi th́ những trang kinh tôi cần t́m không thấy. Th́ ra họ chỉ đăng quảng cáo vài trang mẫu dưới dạng PDF. Tôi tức tốc vào Amazon để đặt mua một quyển, sau đó truy t́m các thư viện trong tỉnh để có tài liệu sử dụng liền đêm nay. May sao thư viện ở trường đại học có một quyển. Vừa tan sở tôi lấy xe điện chạy ngay lên trường để mượn. Lại thêm một thử thách nữa! Máy của trường đại học không đọc được số thẻ của tôi. Khi nghe tôi tŕnh bày tôi phải đi rất xa chỉ để mượn quyển sách này, cô nhân viên thư viện thương t́nh cho tôi mượn … một ngày. Một quyển sách dầy 356 trang, chữ in li ti font cỡ 6 th́ tài thánh ǵ tôi cũng không thể đọc hết qua đêm. Nhưng thôi, có được quyển sách là quư rồi, mọi chuyện khác tính sau. Trước hết là phải dịch ngay vài bài cho kịp buổi giảng ngày mai. Sau đó sẽ sao lại vài chương để sử dụng trong khi chờ Amazon gửi sách sang.

Quyển Some Sayings of the Buddha là một bộ sưu tập những đoạn kinh ngắn trong hai tạng Kinh và tạng Luật, gồm 18 chương. Chương ngắn nhất là Thiệt căn (The Tongue), chỉ có bốn bài, chương dài nhất là Đạo Lộ (The Path of Holiness) gồm 37 bài. Quyển sách này được xuất bản vào năm 1925 nên tiếng Anh tác giả dùng rất xưa, và cách cấu trúc các câu văn, cách hành văn rất là khó hiểu. C̣n các thông tin khảo cứu th́ dựa vào chương, mục, câu số của các quyển kinh cũ nên hoàn toàn khác với chương, mục, câu số trong bản dịch của ngài Ḥa Thượng Thích Minh Châu. Các bài kinh đầu vô cùng khó khăn khiến tôi có ư định bỏ cuộc. Nhưng nhờ ḷng tin vào chánh pháp, mỗi khi gặp khó khăn tôi nhắm mắt chánh niệm, nguyện chư thiên giúp cho tôi t́m được đoạn kinh đó. Người không thực hành chánh niệm có thể cho đây là tà kiến nhưng nếu có ḷng tin và thực tập chánh pháp th́ đây là điều mầu nhiệm của chánh pháp. Rất nhiều đoạn kinh tôi t́m suốt 3, 4 ngày không ra cuối cùng với sự dẫn dắt của chư thiên tôi cũng t́m được. Cũng có nhiều đoạn kinh tôi phải dựa vào nội dung mà đoán và không ít lần đoán sai. Thí dụ bài kinh Năm Pháp Đại Thí, vừa thấy con số năm, tôi đoán ngay bài này thuộc về chương năm pháp, Kinh Tương Ưng. Đọc tới, đọc lui chương năm pháp tôi vẫn không t́m thấy chỗ nào Đức Phật dạy về năm pháp đại thí. Cuối cùng tôi t́m thấy bài kinh này trong chương tám pháp! Nhiều đoạn kinh khác đoán măi không ra xuất xứ tôi phải t́m đọc thêm chú giải hoặc các trang web Phật học tiếng Anh như Accesstoinsight.org, Vipassana.com, v.v…

Khi dịch được vài chương, tôi bắt đầu nắm bắt được cách viết của học giả Woodward nên công việc có dễ hơn chút ít. Tôi nhận thấy ông chú ư vào các lời dạy quan trọng chớ không chú ư vào cách phân đoạn cho nên có nhiều đoạn kinh ông trích ở giữa bài chớ không ở đầu hay cuối bài kinh. Thí dụ như bài kinh Thanh Tịnh Giải Thoát tôi đă bỏ hai ngày trời t́m ṭi, đọc hết tạng kinh Trường Bộ mà vẫn không t́m ra. Cuối cùng mới thấy được đoạn kinh này nằm giữa chương 24, Kinh Ba Lê, và do một tôn giả lặp lại câu trả lời của Đức Thế Tôn: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới…

Khi các nghịch duyên đă qua, thuận duyên cũng từ từ kéo đến. Với sự cẩn trọng của một quản thủ thư viện, tôi đặc biệt lo ngại về vấn đề tác quyền khi phiên dịch quyển sách này. Để tránh sự lo lắng cho Thượng Tọa Giác Đẳng, tôi âm thầm liên lạc với các cơ sở xuất bản quyển Some Sayings of the Buddha để xin phép chuyển ngữ sang tiếng Việt. Với sự giúp đỡ của vài tổ chức Phật giáo, cuối cùng tôi đă được sự đồng ư của tổ chức Á Châu Giáo Dục Dịch Vụ tại Ấn Độ cho phép sử dụng quyển sách này. Có lẻ đây cũng là một sự dẫn dắt của chư thiên.

Nh́n lại toàn bộ sự kiện xảy ra trong quá tŕnh dịch thuật, tôi tin tưởng ḿnh đang hành thiện nghiệp và đang đi đúng con đường đức Phật đă vạch ra. Tôi tự ví chuyện ḿnh dịch kinh giống như ngài Nan Đà đi xuất gia. Ngài Nan Đa đâu có ư định xuất gia nhưng v́ Đức Phật trao cho y bát nên đành phải xuất gia. Tôi đâu có nghĩ ḿnh sẽ dịch một quyển kinh, tự dưng sư Giác Đẳng giao cho quyển kinh để dịch mà v́ sợ uy sư nên tôi nhắm mắt nhận lời. Nhưng khi dịch được vài chương và những khó khăn ban đầu đă qua tôi bị cuốn hút vào Phật sự này. Tôi đem theo quyển “Some Sayings of the Buddha” một bên ḿnh để đọc bất cứ lúc nào tôi có thể đọc. Càng đọc tôi càng thấy ḿnh đến gần chánh pháp của Đức Phật và trí huệ càng tăng trưởng. Tôi nghĩ nhờ ḿnh tạo phước trí nên được phước trí. Chính nhận xét này giúp tôi ít dễ duôi. Có nhiều hôm bận rộn ít đọc kinh sách, không tham thiền, tôi thấy trí huệ bị lu mờ và khả năng suy luận của ḿnh cũng bị giảm thiểu. Lạ một điều là những lúc tôi dễ duôi dù có cầu nguyện chư thiên trợ giúp thế nào tôi cũng không t́m ra những đoạn kinh tôi cần t́m. Nhưng sau khi tôi tĩnh tâm ngồi thiền hoặc đến chùa để bát th́ trí huệ chợt mở ra, thấy ngay được những điều mà trước đây tôi không thấy. 

Hôm nay nhân dịp đầu năm Mậu Tư, tôi xin ghi lại đôi gịng cảm nghĩ của ḿnh trong khi biên soạn quyển Những Lời Phật Dạy dịch từ bản Anh ngữ Some Sayings of the Buddha và xin chia đều phần phước trí này đến tất cả chư tôn đức tăng ni cùng đại chúng. Nguyện cho tất cả chúng ta đều có trí huệ để thông suốt những lời Phật dạy, thực hành đúng những lời Phật dạy để sớm đạt được đạo quả Niết bàn là cứu cánh chung của những người tầm cầu giải thoát.

Như Quang

Xuân Mậu Tư 2008, Phật lịch 2551.

Kính tri ân:

-         Thượng Tọa Giác Đẳng đă cho con cơ hội đến với chánh pháp bằng phương tiện dịch soạn Những Lời Phật Dạy.

-         Hoà Thượng Thích Minh Châu đă chuyển ngữ Việt bộ Kinh Tam Tạng cho con tham khảo.

-         Học giả B́nh An Sơn đă đưa những trang kinh Phật lên mạng toàn cầu.

-         Học giả Frank L. Woodward đă biên soạn, chuyển sang Anh ngữ quyển Some Sayings of the Buddha.

-         Gautam Jetley, đại diện tổ chức Á Châu Giáo Dục Dịch Vụ đă cho phép tôi chuyển ngữ tác phẩm Some Sayings of the Buddha sang Việt ngữ.