![]() Th́ Cành Mai Vẫn Nở Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Bài thơ ngắn quá, rất ngắn, lại c̣n phá cách, phá thể, ngôn từ dị giản - được làm vào lúc "cáo bệnh, dạy học tṛ" - mà sao ông đă để lại cho văn học sử một tác phẩm bất hủ, vượt thời gian? Bài thơ dường như c̣n để lại một khoảng trống, một khoảng lặng, một khoảng "ở ngoài lời", khơi gợi một thế giới tâm linh - mà ở đó - thấp thoáng ẩn hiện mảnh trăng thiền lung linh giữa từng con chữ! Thế gian trí năng đa biện, lư trí kiêu ngạo nầy chắc phải c̣n tốn nhiều giấy mực về bài thơ của ông. Những cái gọi là nghệ thuật, h́nh tượng, thi pháp, tu từ... với những kiến thức hàn lâm, kinh viện, phạm trù... lại c̣n cái kính hiển vi ngữ học thời đại nữa... không biết "thiền ư của cổ đức xưa" được giải mă qua mấy ngàn "trùng quan ư niệm"? Chỉ có điều, đối với "thiền" th́ "hay" chưa chắc đă "đúng" và "dở" chưa chắc đă "sai"! Và rồi, cái "hay-dở-đúng-sai" kia - đều không quan trọng, cái cốt tử của nó là trao truyền "thiền ư" cho chúng đồ, tiếp sức cho mạng mạch Phật giáo, thêm năng lượng sự sống và niềm tin cho hàng hậu học sa-môn. Vậy, chúng ta hăy thử mạo muội đi t́m cái "thiền ư" ấy là ǵ? - Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai. (Xuân đi, đóa đóa hoa rơi Xuân về, đóa đóa hoa tươi thắm màu.) Hai câu thơ đầu tiên này, mới nghe qua ta tưởng như b́nh thường, cái b́nh thường tự nhiên trong sự dịch hóa của vạn hữu. Ngàn xưa vẫn vậy, ngàn sau vẫn vậy, vẫn là định luật tuần hoàn chuyển đổi của đất trời. Nó không xấu hơn, cũng chẳng tốt hơn. Nhưng, tại sao, từ cảm quan nào, cảm thức nào mà thiền sư thi sĩ lại phá vỡ trật tự thói quen của lập ngôn, lập ngữ? Ai cũng nói "đến rồi đi", "nở rồi tàn", nhưng ở đây th́ ngược lại? Cái động từ "khứ" với nghĩa động là "đi tới", nghĩa tĩnh là "qua", "đă qua", có "mật ngữ", "thiền ư" ǵ không? Rồi "đáo" đi sau; nghĩa động của nó là "đến"; nhưng nghĩa tĩnh của nó là "chu toàn, đầy đủ, viên măn" - có cho ta một "chớp lóe tâm linh" nào chăng? Giải mă những điều ấy nếu dùng những hiểu biết thông thường th́ e không tới. Mà cho dù kiến thức bác lăm, trí năng thông tuệ th́ cũng ở bên này mép ŕa của thực tại mà thôi! Đây là bài thơ thiền. Thiền sư là một hành giả. Nếu muốn nắm bắt ư nghĩa uyên áo dấu kín sau từng con chữ th́ người đọc muốn lănh hội trọn vẹn cũng phải là một hành giả. Nói cách khác, nó là bài thơ thiền th́ ta cũng phải có tâm thiền để nh́n ngắm. Ở đây là "nh́n ngắm", là "quán chiếu thực tại". Đừng bắt tôi phải định nghĩa thực tại là ǵ? Khi ta thấy thực tại là ǵ th́ nó đă chảy trôi rồi. Chỉ có những hành giả tu tập tuệ quán mới ư thức được hơi thở này cùng từng tế bào sự sống trong ta – chúng luôn tương quan với ngoại giới. Tất cả - chúng đang chảy trôi, đang đi qua, đi qua. Tất cả đều đang chảy trôi, đang đi qua trong từng sát-na tâm niệm cũng như những sát-na dịch hóa của đất trời. Vậy, trong cái tâm nhăn, thiền nhăn ấy, "xuân khứ" là đúng với "hiện quán", đúng với cái nh́n của thiền gia! Và, biết đâu, từ trong sâu thẳm tâm linh, Măn Giác thiền sư c̣n gởi gắm tiếng gọi thống thiết muôn đời của Pháp trong Bát-nhă Tâm kinh: "Gate, gate... đi qua, đi qua...?!". Tuy nhiên, đấy chỉ là sản phẩm của lư trí đa sự, chất chồng thêm ư niệm mà thôi. Vậy c̣n "đáo"? Khi "khứ" là đi qua như thế th́ "đáo" cũng đâu hẳn là thường ngữ? Dĩ nhiên rồi. Ngoài định luật tự nhiên - xuân về th́ trăm hoa nở - chữ "đáo" đi sau chữ "khứ" chỉ là tạo lập trật tự cho mệnh đề. "Xuân đến" hay "xuân về" đều có thể diễn nghĩa cho động từ "đáo". Nhưng nếu "đáo" có nghĩa động là đến, c̣n có nghĩa tĩnh là "chu toàn, đầy đủ, viên măn" th́ quả là ta sẽ có một trời ư niệm và liên tưởng thú vị. Có lẽ thiền sư Măn Giác không "đa sự" như chúng ta chăng? Sự trục nhăn tiền quá Lăo ṭng đầu thượng lai. (Việc đời trước mắt qua mau Tuổi già chợt đến trên đầu thế a?) Hai câu thơ dịch may lắm th́ nói được cái ngữ nghĩa, không dễ ǵ "tín, đạt, nhă" như cổ nhân yêu cầu. "Sự" nôm na là việc đời, chuyện đời. Động từ "trục", nghĩa động là "đuổi, đuổi theo"; nghĩa tĩnh là "trước sau nối tiếp nhau". Vậy, việc đời nó "đuổi", nó "nối tiếp nhau" chạy qua trước mắt. Câu sau, vế đối cũng được hiểu như vậy. "Già, cái già, tuổi già" nó theo trên đầu nó đến. Cả hai câu thơ đều vắng bặt bản ngă, và ngay "pháp" cũng trôi chảy "vô ngă tính". Phải có cái tuệ quán tỉnh táo mới nh́n ngắm ḿnh và ngoại giới một cách chân xác, rỗng rang và giải thoát như vậy. Ngoài ra, chúng ta c̣n để ư đến động từ "quá" và "lai"; rơ ràng nó nhất quán với hai động từ "khứ" và "đáo" đi trước nó. Đến đây, cái kiến giải "thiền ư" ấy ta đă có cơ sở hợp lư, logic - do từ cái nh́n thiền quán của tác giả. Và cũng từ cái "quán chiếu thực tại" ấy, như dồn tụ năng lực, để đẩy hai câu cuối đến một chân trời thâm viễn hơn. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai. (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai.) Chữ "xuân" trong hai câu đầu là thường ngữ, ngôn ngữ tục đế, tục thể, ai cũng biết, ai cũng hiểu. Hiểu và biết theo phạm trù trí năng. Nhưng chữ "xuân" trong câu áp cuối, không như vậy. Nó vừa mang sứ mạng thường ngữ, vừa lung linh vầng trăng thiền ngữ - biểu tượng cái đẹp xuất thế. Cái vầng trăng thiền ngữ ấy, cái đẹp ấy không thể dùng trí năng để "hiểu và biết" mà là phải "thấy", cái thấy của tuệ giác, của trực kiến tâm linh. Mùa xuân thế gian th́ đến rồi đi, nở rồi tàn, c̣n mùa xuân tâm linh không dễ dàng chảy trôi theo định luật tự nhiên của vạn hữu. Người có được mùa xuân tâm linh này không c̣n bị chi phối bởi vô thường tính, vô ngă tính của cuộc đời. Họ không c̣n than thở như cụ Tiên Điền: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"! Bậc đạt ngộ nh́n ngắm sự chảy trôi, tụ tan, sinh diệt của vạn hữu với cái nh́n "tỉnh táo, trạm nhiên và an định". Họ đă trở về tao ngộ với quê hương, với miền đất an b́nh muôn thuở. Ở đấy, tại mùa xuân vĩnh cửu ấy, cái "tâm hoa" của họ không c̣n bị sự vô thường chi phối nữa. Cái "thiền ư" ấy bây giờ đă hiện ra bằng cách phá bỏ ư niệm thông tục: "Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết". Rồi kế đó là dẫn dắt chúng ta đến cánh cửa "huyền mật", mở ra một không gian khác, thời gian khác - khác với không-thời-gian mà mọi người đang sống: Đ́nh tiền, tạc dạ nhất chi mai(Đêm qua, sân trước, một cành mai) Thiền ư bây giờ đă lộ rơ: Cành mai này không c̣n là cành mai của thế gian, cành mai của nở-tàn thông tục nữa. Nó không c̣n bị chi phối của định luật sinh diệt, hữu hạn cũng như sự vận hành âm dương của trời đất. Vậy th́ cành mai ấy nó ở đâu? Nó ở "sân trước" và mới nở "đêm qua". Đến đây, ta đă thấy rơ không gian (sân trước) và thời gian (đêm qua) rất đỗi lạ lùng, mà chỉ có tâm thiền mới thấy được. Không-thời-gian ấy mới nở được cành mai ấy. Và không có ǵ rơ ràng hơn thế nữa. Tuy nhiên, vẫn c̣n "bí hiểm", bí hiểm cho những ai chưa trực kiến giây khắc "đốn ngộ", chưa thực sự bước qua hố thẳm của lư trí nhị nguyên. Nói rơ hơn, là chưa kinh nghiệm tuệ giác bên kia bờ. Chỉ khi nào hội diện, "cước căn điểm địa" miền đất ấy, không thời gian ấy, ta mới hiểu được "tiếng cười dài lạnh buốt thái hư" của thiền sư Không Lộ. "Đêm qua" - là thời gian, là quá khứ. Nói về sự nhất quán của "ư tứ" th́ quá khứ ở đây sẽ logic, chặt chẽ với những cặp thơ đi trước "khứ, đáo", "quá, lai". Ngoài ra, nếu ai có kiến thức tuệ giác kinh viện sẽ hiểu rằng, giây khắc ngộ đạo chỉ xảy ra trong 1 sát-na, rồi nó diệt mất, nhường sát-na kế cho đạo tâm. Ngộ đạo chỉ là giây khắc chớp lóe của tâm linh, sau đó nó trôi về quá khứ. Một sát-na đă là quá khứ. Tuy nhiên, người đạt ngộ tuy có ư niệm về quá khứ, về thời gian - nhưng họ luôn trực thức, luôn "hiện kiến" để sống trong từng hơi thở "không có thời gian", "ở ngoài thời gian". Chính ở cái thời gian "ở ngoài thời gian" ấy - không gian tâm linh mới được thiết lập. Không gian tâm linh thiết lập khá ước lệ: "Trước sân". Tại sao là "trước sân", là "đ́nh tiền" mà không là "bên sân, sau sân" (đ́nh biên, đ́nh hậu)? Rơ ràng "sân" ấy là mảnh đất tâm. Cái tâm ấy là mảnh đất để cho cành mai nở. Sát-na tâm "trực ngộ, "hiện kiến" là nó luôn chảy trôi, nó luôn mở ra, ngạc nhiên, đón nhận dung thông các pháp đến từ ngoại giới. Cái tâm ấy phải "không" mới đón nhận được. Do vậy, cái tâm ấy không thể là "bên tâm, sau tâm" - mà phải là cái tâm luôn trực kiến cái hiện tiền; phải là "đ́nh tiền, tâm tiền" mới chính xác. Rồi cành mai nở. Cành mai nở là tuệ giác bừng nở. Tuệ giác bừng nở, nở nơi mảnh đất tâm, không c̣n bị quy định bởi không-thời-gian tại thế, ước lệ nữa. Cuối cùng, để thêm tính thuyết phục cho sự giải mă này, ta phải trở lại một ngàn năm trước, để biết rằng Măn Giác Thiền Sư thuộc ḍng thiền Vô Ngôn Thông, đời thứ tám. Và ḍng thiền này, thuở b́nh minh của nó, khi Vô Ngôn Thông truyền pháp cho Cảm Thành để h́nh thành ḍng thiền Kiến Sơ - th́ ông đă ngộ được yếu chỉ: "Tâm địa nhược không tuệ nhật tự chiếu" [1] từ Bách Trượng Hoài Hải. Vậy Măn Giác Thiền Sư là hậu duệ của truyền thừa, sáng tạo câu thơ "Đêm qua, sân trước, một cành mai" để thi vị hóa, tăng giá trị văn học, mỹ học cho câu thiền ngữ xưa bằng những h́nh tượng nghệ thuật không là điều kỳ diệu sao? Tuệ nhật tự chiếu - cành mai nở - đấy là mùa xuân vĩnh cửu, là miền đất hứa cho những người con Phật và cả cho những chúng sanh đang lăng xăng xuôi ngược giữa miền cát lầm bụi đỏ này! Ôi! Một bức thông điệp về mùa xuân đă một ngàn năm qua đi mà dường như vẫn c̣n cháy sáng ư tưởng, bập bùng giữa tâm thức trần gian. Có ai nghe, ai thấy? Hăy vẫn tịch lặng muôn đời trong hố thẳm vô ngôn? Th́ cành mai vẫn nở! Bodhisvàha!
Am Mây Tía, xuân 2007 Minh Đức Triều Tâm Ảnh
|