Mậu Tí tản mạn về bức tranh “đám cưới chuột”

QUÁCH ĐẠI HẢI

Họ hàng nhà chuột chung sống với con người từ thời thượng cổ. Chúng có mặt khắp nơi từ vùng cực giá băng, xứ Phi nóng nực đến núi rừng, hải đảo, thảo nguyên... Tùy theo đặc điểm sống và vóc dáng chuột tự chia ra nhiều loài từ “con nhắt” có thể ép ḿnh chui qua kẽ tủ đến những thằng cống lúc nhúc hàng đàn, đến loài chuột trũi chuyên đào hang, loài chuột tuyết...

Nhưng cái loài đáng kinh ghét này kể ra cũng hay hay khi chúng góp mặt mua vui cho con người trong nghệ thuật tạo h́nh. Sự ranh mănh tinh quái ngoài đời của chúng đáng sợ bao nhiêu th́ trong bộ phim hoạt h́nh nhiều tập của hăng Oanđinây nổi tiếng lại trở nên đáng yêu bấy nhiêu. Sự thông minh linh hoạt có phần láu cá của chú chuột Jery và nét ngờ nghệch của mèo Tôm đă chinh phục được các khán giả nhí .

Ngoài tự nhiên tạo hóa cho chuột một vóc h́nh cân đối hài ḥa c̣n trong tranh tượng cổ chúng được cách điệu đẹp hơn về h́nh thức, được nhân cách hóa giàu tính triết học, xă hội. Chuột có mặt nhiều và sinh động trong điêu khắc ở đền thờ Ấn Độ giáo, trong tranh trung cổ châu Âu đặc biệt độc nhất vô nhị là ở tranh dân gian khắc ván Việt Nam. Bức tranh “Đám cưới chuột” (cũng có tên là Trạng chuột vinh quy) măi măi c̣n nguyên giá trị nghệ thuật, giá trị triết học nhân văn.

 Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nghệ  sĩ dân gian tài hoa đưa ông mèo vào tranh Đám cưới chuột làm nhân vật minh họa cho một chủ đề lớn. Mèo là khắc tinh của chuột nên trong tranh được cách điệu ngoại h́nh và nội tâm hung dữ thành nhân vật cường hào, lư dịch (một chức quan cơ sở thời phong kiến, c̣n thân phận người dân thấp hầu bé họng được biểu tả bằng đám chuột luôn phải chịu sự nhũng nhiễu của ông xă mèo.

Tranh được bố cục phá thể tài t́nh với hai cảnh chiều ngang rơ rệt khiến ta liên tưởng đến một vở diễn có hai màn đầy đủ lớp lang. Vở kịch Đám cưới chuột bắt đầu bằng màn làm thủ tục xin phép ông  xă mèo với đầy đủ lệ bộ phải có ở một chàng chuột vừa đỗ Trạng nguyên: Chim, cá béo, kèn, sáo... Lễ vật thật là sang nhưng xem ra xă mèo vẫn ra oai một chút cho xứng danh bậc tiên chỉ (bằng chứng là dáng ngồi nhà quan của “ông” rất bệ vệ và chắc chắn lắm mặt ông bạch to, râu chĩa ra như những thanh kiếm, tay phải  giơ cao đầy sức nặng răn đe) nên làm cho đám trai đinh nhà chuột vừa dâng lễ vừa khiếp đảm. Cảnh họ nhà chuột dâng lễ cho ông xă mèo làm ta có cảm tưởng như có tiếng gầm gào, chít chít nơi đây thật là một buổi đi đăng kư kết hôn lạnh toát sống lưng.

Kịch được chuyển màn hai rất lôgich, thay cho không khí nặng nề của màn một là lễ rước dâu thật tưng bừng nghe đâu đây như có cả tiếng pháo và nhạc hỷ, Trạng chuột đội mũ cánh chuồn cưỡi ngựa hồng vẻ mặt vô cùng sung măn ngoái đầu ngầm nh́n cô dâu chuột thẹn thùng trong kiệu hoa. Đám rước có cờ biển, có lọng. Màn này chỉ có tám nhân vật tượng trưng thôi nhưng rất có không khí vu quy - những đôi mắt đa nghi rất ranh của đám cưới chuột được tả rất sinh động, kẻ nh́n phải, kẻ liếc trái luôn mở to đề pḥng sự bất trắc có khi xă mèo đă nhận lễ rồi nhưng vẫn xơi tái cả đám “Ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau”.

Thật đáng là một vở bi hài kịch các cụ nhà ta tài thật khi nâng lên và thổi vào đám chuột một nét tiếu lâm sắc nét, dùng ngôn ngữ đồ họa câm lặng để nói lên mọt thực tế hiện hữu chua chát “Thiếu thức vua không thể thua lệ làng” hoặc “Quan sang cũng ở làng mà ra” cái đắt của tranh là ở chỗ đó, tính tương phản trong sắc màu, đường nét, tính đối chát tâm lư là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật dân gian, trong trường hợp này (đám cưới chuột) đề tài đồ họa và giá trị chuyện tiếu lâm đă dung ḥa vào một thể thống nhất.

Xuân này là của “chuột vàng” sáu mươi năm mới đến có một lần (1948 - 2008) vả lại chuột lại đứng hàng thứ nhất trong mười hai con giáp, trộm nghĩ ta cũng nên giảm án cho “Họ nhà Thử” chí ít cũng qua mấy ngày Tết để họ nhà chuột nhận bàn giao năm mới từ họ nhà Chư, tiết trời dần chuyển sang ngày mới dông dài một tư những chuyện biết về loài chuột cùng quư độc giả mua vui nhân dịp đón xuân về.

Tết Mậu Tư 2008

Q.Đ.H