Như Quang Can

 

HOA VÀ MƯA TRONG VĂN KINH ĐỨC PHẬT

 

 

Nhà thơ Gotama đă làm vô số bài thơ diễm tuyệt trong suốt cuộc đời hoằng pháp của ngài. Văn kinh của Đức Gotama là những gịng thơ tuyệt tác mà hoa và mưa thường được ngài đem ra làm ẩn dụ. Trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada) có nguyên một phẩm nói về hoa, Kinh Tương Ưng cũng có Phẩm Hoa, và rải rác trong văn kinh ngài luôn nhắc về mưa hoặc về nước. Hoa thường tượng trưng cho những điều tươi đẹp và theo Phật giáo, mưa tượng trưng cho điềm lành. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, mưa cũng có thể là sự hiểm nguy mà Đức Phật thường lưu ư các đệ tử của ngài.

 

I. HOA

 

Mở đầu Phẩm Hoa, Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy:

 

Ai chinh phục đất này
Dạ ma, Thiên giới này?
Ai khéo giảng Pháp cú,
Như người khéo hái hoa

(PC 44)

 

Đức Thế Tôn nói câu kệ ngôn này để dạy năm trăm thầy tỳ khưu đang phí thời giờ bàn luận về đất khi ngài ở Xá Vệ. Không những chỉ dạy các tỳ khưu phải biết khéo giảng kinh Đức Thế Tôn c̣n dạy các tỳ khưu phải giữ ǵn phẩm hạnh khi đi hoá duyên hoằng pháp. Ngài dạy các đệ tử khi đi vào làng phải có phẩm hạnh của loài ong, luôn bảo trọng thí chủ như loài ong trân trọng loài hoa:

 

Như ong đến với hoa

Không hại sắc và hương

Che chở hoa, lấy nhuỵ

Bậc thánh đi vào làng

 (PC 49)

Bài kệ này Đức Thế Tôn đọc lên để tán thán công hạnh của ngài Mục Kiền Liên khi ngài cải hoá được vị chưởng khố keo kiệt Niggardly mà không làm hại đến đức tin cũng như làm hao hụt tài sản của gia chủ.

 

Dạy thêm về chánh ngữ, đức Phật ví người nói lời lành và làm điều lành với một bông hoa. Cũng trong Phẩm Hoa, Kinh Pháp Cú số 51 và 52, Đức Phật dạy lời nói và hành động phải đi đôi với nhau th́ mới lợi lạc như một bông hoa vừa rực rỡ sắc lại thắm đượm hương thơm. Lời dạy này liên quan đến cư sĩ Chattapani ở thành Xá Vệ, người làu thông Tam Tạng Kinh Điển và đă chứng Nhị quả. Trong lúc cư sĩ Chattapani đang đảnh lể đức Phật th́ vua Ba Tư Nặc ở Kosala cũng đến đảnh lể ngài. Sự kiện này làm cho Chattapani khó xử v́ trước sự hiện diện của Đức Thế Tôn là vua của các vua Chattapani không thể đứng lên chào vua Ba Tư Nặc, chỉ là vua của một nước. Suy nghĩ như thế, ông ngồi yên không đứng dậy chào mặc dù vua Ba Tư Nặc lộ vẻ bất b́nh. Sau đó khi vua Ba Tư Nặc đứng trên lầu nh́n thấy Chattapani đi ngang th́ cho đ̣i ông vào.  Chattapani cởi bỏ dù, dép, cung kính đứng một bên. Vua Ba Tư Nặc thắc mắc sao hôm trước ở chổ đức Thế Tôn Chattapani không chào vua mà hôm nay lại cung kính chào th́ ông giải thích v́ hôm trước có mặt đức Thế Tôn, nếu chào vua một nước th́ thiếu sự cung kính đối với đức Thế Tôn nên ông không chào. Vua hài ḷng với sự giải thích đó nên mời ông vào hoàng cung giảng kinh cho các cung phi nghe th́ ông lại từ chối viện lẻ đó không phải là việc làm của một cư sĩ nên đề nghị vua thỉnh một vị tỳ kheo. Đức Phật được thỉnh đến nhưng ngài cử Đại Đức Ananda và sau thời giảng th́ bà Mallika đắc đạo quả v́ bà chú tâm học hỏi từng lời giảng dạy của ngài Ananda. Trong thí dụ trên, cư sĩ Chattapani và bà Mallika đều là những người nói và hành theo chánh pháp. Qua sự việc này, đức Thế Tôn đọc câu kệ ngôn Pháp Cú số 51 và 52:

 

Như bông hoa tươi đẹp

Có sắc mà không hương

Cũng vậy, lời khéo nói

Không làm, không kết quả

(Pháp Cú 51)

 

Như bông hoa đẹp tươi

Có sắc lại thêm hương

Cũng vậy, lời khéo nói

Có làm, có kết quả

(Pháp Cú 52)

 

Trong câu chuyện tiền thân của ngài, Đức Phật cũng có nhắc đến kiếp ngài làm con của một vị triệu phú, nhờ nói lời chân thật nên ngài có được một bó hoa sen thơm ngát:

 

Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị v́ xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là con một vị triệu phú. Trong thành có một hồ sen thường nở hoa, một người có lỗ mũi sứt canh giữ cái hồ ấy.

 

Một hôm, một ngày hội lớn được tổ chức ở Ba-la-nại, ba người con trai của triệu phú muốn đeo ṿng hoa để vui chơi lễ hội, liền bảo nhau:

 

- Chúng ta sẽ tán tỉnh con người bị sứt mũi này và xin vài ṿng hoa.

 

V́ vậy, vào giờ người ấy hái hoa sen, họ đi đến gần hồ và đứng đợi một bên. Một người trong bọn nói với người giữ hồ ấy qua bài kệ đầu:

 

Như tóc râu bị cắt,

Sẽ mọc lên như cũ,

Cũng vậy, lỗ mũi ông

Sẽ mọc lại như tóc,

Nay tôi xin hoa sen,

Hăy cho tôi một bông!

 

Người giữ hồ tức giận không cho hoa sen. Rồi người thứ hai nói lên bài kệ thứ hai với người giữ hồ ấy:

 

Như hột giống mùa thâu

Được gieo trong thửa ruộng,

Sẽ được mọc lên mau,

Cũng vậy, lỗ mũi ông

Ước mong sẽ mọc lên,

Nay tôi xin hoa sen,

Hăy cho tôi một bông!

 

Người giữ hồ vẫn tức giận không cho hoa sen. Rồi người thứ ba nói lên bài kệ thứ ba với người giữ hồ ấy:

 

Hai đứa nói nhảm nhí,

Chúng nghĩ được bông sen,

Dầu nói có, nói không,

Mũi cũng không mọc lại,

Này bạn hăy cho tôi

Hoa sen, tôi xin bạn!

 

Nghe lời anh ta, người giữ hồ sen nói:

 

- Cả hai người này đều nói láo. Chỉ có bạn nói đúng sự thật. Bạn xứng đáng được các bông sen.

 

Rồi người giữ hồ cho anh ta một bó hoa sen và đi về hồ của ḿnh.

 

(Kinh Tiểu Bộ, Chuyện Tiền Thân Đức Phật số 261)

 

 

Trong câu chuyện tiền thân kể trên, Đức Phật chính là người thanh niên thứ ba biết nói lời chân thật. Như vậy ta thấy là kiếp nào đức Phật cũng thực hành chánh ngữ đúng như lời ngài truyền dạy chúng ta.

 

Nói về hoa, có lẻ hoa sen là loài hoa được Đức Thế Tôn yêu thích hơn cả v́ tính thanh tịnh của nó. Ngài thường dùng hoa sen để giáo hoá chúng sanh và đôi khi cũng tự ví ḿnh với một đoá sen:

Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn ta sanh trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hăy như vậy thọ tŕ.

Với lậu hoặc chưa đoạn,
Ta có thể là tiên,
Có thể Càn-thát-bà,
Có thể là loài chim
Hay đi đến Dạ-xoa,
Hay vào trong thai người,
Với Ta lậu hoặc tận,
Bị phá hủy, trừ khử
Như sen trắng tươi đẹp
Không bị nước thấm ướt,
Đời không thấm ướt Ta,
Do vậy Ta được gọi,
Ta là Phật Chánh giác,
Hỡi này Bà-la-môn.

(Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Phẩm Tùy Thuộc Thế Giới)

(Câu này cũng được dạy trong Kinh Tương Ưng Uẩn, Phẩm Hoa, câu số 26, 27)

Hương hoa c̣n được đức Phật ví với phạm hạnh của con người. Hương thơm của một người có chánh hạnh sẽ lan toả khắp nơi mà đặc biệt là hương thơm này có khả năng bay ngược gió:

 

Hương các loại hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời
.

(PC 54)

 

Và mùi hương này không những chỉ ngát thơm trong dục giới, nó c̣n ngát thơm tới tận cơi chư thiên:

 

Ít giá trị hương này,
Hương già la, chiên đàn;
Chỉ hương người đức hạnh,
Tối thượng tỏa Thiên giới

 (PC 56)

 

 

Khi phân tích về ba hạng người trong thế gian, Đức Phật nói có ba hạng người mà đáng tán thán nhất là hạng người nói như hoa. Đây là lời dạy của Đức Thế Tôn về Hạng Người Nói Như Hoa trong Tăng Chi Bộ Kinh, phẩm Ba Pháp.

 

Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người nói như hoa? Ở đây, này các Tỷ kheo, có người khi đi vào hội trường, hay khi đi vào hội chúng hay khi đi đến giữa các người bà con, hay khi đi đến giữa các người đồng một tổ hợp, hay di đến cung vua, hay bị dẫn như là người làm chứng, được nói: “Ngươi biết ǵ, hăy nói lên.” Người ấy không biết nói rằng: “Tôi không biết”; có biết, nói rằng: “Tôi có biết”; không thấy, nói rằng: “Tôi không thấy”; có thấy, nói rằng: “Tôi có thấy.” Không v́ ḿnh hay v́ người, hay v́ một vài lợi vật nhỏ mà đă có ư nói láo. Người như vậy, này các Tỳ kheo, được gọi là người nói như hoa.

 

Trong đa số các ẩn dụ về hoa của đức Phật hoa được ví với điều thanh tịnh và tốt đẹp. Trong một trường hợp đặc biệt, có lẻ là trường hợp duy nhất, đức Phật dùng hoa để ám chỉ những hiểm hoạ đe doạ con người. Đó là trường hợp vua Lưu Ly dùng tất cả quyền lực của ḿnh để tiêu diệt ḍng họ Thích, thề lấy máu ḍng họ Thích lau chỗ ngồi của ḿnh để rửa mối thù bị sĩ nhục thuở xưa. Trong khi truy đuổi theo một người của gịng họ Thích, vua Lưu Ly và đoàn tuỳ tùng bị nước lũ cuốn trôi ra biển khi họ ngủ đêm bên một bờ sông. Do nhân duyên này đức Phật dạy:

 

- Các tỳ kheo! Trong lúc các chúng sanh này lo thoả măn tham vọng của họ, Diêm vương cắt ngắn mạng sống của họ và ném họ vào bốn biển phiền năo, giống như lũ lụt cuốn trôi ngôi làng đang say ngủ. Và ngài đọc câu kệ Pháp Cú như sau:

 

Người nhặt các loại hoa

Ư đắm say, tham nhiễm,

Bị thần chết mang đi

Như lụt trôi làng ngủ

 

(Pháp Cú 47)

 

Các loại hoa trong câu Pháp Cú này là các đam mê dục lạc cơi trần mà chúng sanh say mê góp nhặt đến nỗi quên những hiểm nguy đang ŕnh rập ḿnh.

 

Cuối Phẩm Hoa trong Kinh Pháp Cú, đức Phật khuyến khích chúng sanh tu tập bằng một sự lư giải rất thực tế: Đấng giác ngộ không đến từ ngôi cao chín bệ, không rơi xuống từ trời mà sản sanh từ cơi phàm phu, mê muội đầy uế nhiễm:

 

Như giữa đống rác nhớp,
Quăng bỏ trên đường lớn,
Chỗ ấy hoa sen nở,
Thơm sạch, đẹp ư người.

 

 Cũng vậy giữa quần sanh,
Uế nhiễm, mù, phàm tục,
Đệ tử bậc Chánh Giác,
Sáng ngời với Tuệ Trí.

 

(PC 58, 59)

 

 

II. MƯA

 

Nói về mưa, Đức Phật có kể về một lần ngài làm mưa trong câu chuyện tiền thân. Năm đó tại nước Kosala bị hạn hán, các ao, hồ, bể nước đều khô cạn, các sinh vật sống dưới nước nằm mắc cạn và bị các loài quạ, diều hâu kéo đến ăn chúng. Quá xúc động, ngài đă dùng Phật lực của ḿnh làm Thiên chủ Đế Thích cảm nhận được nên gởi ngay thần mưa đến Kosala làm thành một trận mưa không gián đoạn. Trong Kinh Tăng Chi Bộ, chương Bốn Pháp, Phẩm Mây Mưa, Đức Thế Tôn đă đưa ra bốn loại mây và mưa để so sánh với bốn hạng người hiện hữu ở đời: hạng người có nói, không làm, ví như có sấm mà không có mưa; hạng người có làm nhưng không nói ví như có mưa mà không có sấm; hạng người không nói, cũng không làm, ví như không có mưa mà cũng không có sấm; và hạng người có nói, có làm ví như vừa có mưa mà vừa có sấm. Dĩ nhiên những cơn mưa có cả sấm đi kèm đáng được tán thán hơn cả v́ nó đến có sự báo trước để mọi người chuẩn bị và những hạt mưa đến có sự chờ đón sẽ đem lại rất nhiều lợi lạc cho mọi người.

 

Mùa mưa có lẻ là mùa ưa thích nhất của Đức Phật nên ngài thường luôn bắt đầu bằng mùa mưa trong các câu kinh giảng dạy của ngài:

 

“Mùa mưa, ta sống ở đây

Mùa đông, mùa hạ, cũng ngay nơi này.”

Người ngu cứ tưởng là như vậy,

Đâu ngờ nguy hiểm “chết” chờ đây.

 

(Pháp Cú 286)

 

Khi vị thương gia Đại Nghiệp bị mưa lũ phải kẹt lại ở gần thành Xá Vệ, ông nói sẽ ở đây hết hè, sang thu, qua đông, đến mùa Xuân ấm áp sẽ trở về xứ mà không hề biết ông sẽ chết trong 7 ngày nữa nên ngài dạy câu kinh trên sau khi trở về từ đám táng của thương gia Đại Nghiệp. Chữ “chết” đức Phật dùng ở đây ám chỉ cái chết về tâm linh tạo nhân cho quả luân hồi.

 

Trong các ẩn dụ về mưa, Đức Phật có một ẩn dụ tuyệt hay là hai câu kinh Pháp Cú số 13 và 14:

 

Như mái nhà vụng lợp

Mưa liền xâm nhập vào

Cũng vậy, tâm không tu

Tham dục liền xâm nhập

 

Như ngôi nhà khéo lợp

Mưa không xâm nhập vào

Cũng vậy, tâm khéo tu

Tham dục không xâm nhập

 

(Pháp Cú 13, 14)

 

Ẩn dụ mưa được Đức Phật sử dụng thật khéo léo trong đoạn văn kinh này. Đức Phật luôn so sánh tấm thân phàm của chúng ta như một căn nhà và mái nhà là phần vô cùng quan trọng v́ nó làm nhiệm vụ che nắng, che mưa cho người trú ngụ trong nhà. Do đó nếu mái nhà của ta vụng lợp th́ người sống dưới mái nhà đó sẽ bị thấm ướt, sẽ bị bệnh và tánh mạng có thể đi đến chỗ hoại diệt. Chữ mưa được dùng để chỉ tham ái, dục vọng. Không ǵ có thể so sánh ḷng ái dục hay hơn mưa v́ mưa, hoặc nước, ở thể lỏng, có thể xâm nhập vào bất cứ nơi đâu trong căn nhà, tức là tâm chúng ta. Và những hạt nước này không những chỉ thâm nhập tâm người phàm mà c̣n thâm nhập cả giới tỳ kheo nữa. Trong khi Phật ví thân người phàm là cái nhà th́ thân tỳ kheo được ví như chiếc thuyền:

 

Thuyền rỗng không này ví tấm thân,

Tỳ kheo mau tát cho khô nước

Hăy dập tắt ngay lửa tham sân

Thuyền nhẹ đi ngay đến Niết bàn

(PC 369)

 

Và chiếc thuyền này cũng bị đe dọa bởi nước, ẩn dụ của ác tâm và phiền năo. Nhưng tát khô nước bằng cách nào? Bằng cách nhận rơ sự hiểm nguy của 5 điều kiết sử, năm điều say đắm mà Đức Phật ví như gịng nước lũ phải lánh xa và làm tăng trưởng năm căn lành là Tin, Tấn, Niệm, Định, và Huệ.

 

Đoạn năm từ bỏ năm
Tu tập năm tối thượng,
Tỷ kheo cắt năm trói
Xứng danh vượt "bộc lưu"

 

(PC 370)

Năm điều cần phải đoạn là 5 kiết sử của hạ giới: dục giới tham, sân, thân kiến, giới cấm thủ và hoài nghi. Năm điều phải từ bỏ là 5 kiết sử của thượng giới: sắc giới tham, trạo cử, ngă mạn, và vô minh.

 

Nói đến mưa, đến nước, là nói đến sự hiểm nguy ŕnh rập, cho dù một giọt nhỏ ta cũng không nên xem thường. Tích tiểu thành đại, giọt nước dù nhỏ đến đâu tích luỷ lâu ngày cũng sẽ đầy ly, tràn vại. Cũng vậy, tội, phước ta đừng xem là nhỏ. Tuy nhỏ nhưng mà kết quả sẽ to tát không ngờ:

 

Chớ chê khinh điều ác,
Cho rằng "chưa đến ḿnh",
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi b́nh cũng đầy tràn.
Người ngu chứa đầy ác
Do chất chứa dần dần

 

(PC 121)

 

Chớ chê khinh điều thiện
Cho rằng "chưa đến ḿnh",
Như nước nhỏ từng giọt,
Rồi b́nh cũng đầy tràn.
Người trí chứa đầy thiện,
Do chất chứa dần dần.

 

(Pháp Cú 122)

 

Mưa là nhân tố làm tăng trưởng hạt giống xấu. Nếu ta bị ái dục buộc ràng th́ ḷng ái dục này sẽ sinh sôi nẩy nở vô cùng nhanh chóng khi gặp phải những hạt mưa tham ái:

 

Ai sống trong đời này,
Bị ái dục buộc ràng
Sầu khổ sẽ tăng trưởng,
Như cỏ Bi gặp mưa
.

(PC 335)

 

Nếu chúng ta điều phục được ḷng ái dục th́ ngược lại, tâm ta sẽ trở thành chiếc lá sen giủ bỏ hạt nước rơi trên ḿnh nó:

 

Ai sống trong đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước lá sen
.

 

(PC 336)

 

 

Tóm lại, để tránh uế nhiễm Đức Phật dạy chúng ta làm sạch ḿnh bằng nước từ ao hồ chánh pháp và bằng giới luật:

 

Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm,
Không cấu uế, trong sạch,
Được thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí,
Thường tắm, trừ uế tạp,
Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.

Kinh Tương Ưng Bộ, phẩm Cư Sĩ, chương XI. Sangàrava

Qua hoa và mưa trong văn kinh đức Phật ta rút ra được những bài học đầy hương sắc, đầy h́nh tượng giúp chúng ta luôn chánh niệm tỉnh giác và tích cực tu sửa ngơ hầu thu ngắn đoạn đường luân hồi của ḿnh. Mong rằng tất cả chúng ta sẽ thực hành đúng như lời Phật dạy:

Như bông hoa đẹp tươi

Có sắc lại thêm hương

Cũng vậy, lời khéo nói

Có làm, có kết quả

 

NHƯ QUANG

(Mùa an cư ’05)