DieuPhap Homepage

    

 

Từ Điển Phật Học


...... ... .

 

TỔ Đ̀NH MINH ĐĂNG QUANG

PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN

BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH

THIỆN PHÚC

 

Tu

 

Tu: Abhyasa (p & skt).

1)      Gia nhập vào giáo đoàn để trở thành Tăng sĩ Phật giáo: To enter into religion—To become a Buddhist monk.

2)      Phát triển: Bhaveti (p)—To contemplate—To develop.

3)      Sự phát triển: Bhavana (p)—Development.

4)      Tu Bổ: To maintain.

5)      Tu Chỉnh: To put in order.

6)      Tu Hành: To cultivate—To observe or keep commandments—To practice.

7)      Tu Sửa: To mend.

8)      To drink at a draught (tu một hơi).

9)      Tu có nghĩa là tu tập hay thực tập những lời giáo huấn của Đức Phật, bằng cách tụng kinh sáng chiều, bằng ăn chay học kinh và giữ giới; tuy nhiên những yếu tố quan trọng nhất trong “thực tu” là sửa tánh, là loại trừ những thói hư tật xấu, là từ bi hỷ xả, là xây dựng đạo hạnh. Trong khi tụng kinh ta phải hiểu lư kinh. Hơn thế nữa, chúng ta nên thực tập thiền quán  mỗi ngày để có được tuệ giác Phật. Với Phật tử tại gia, tu là sửa đổi tâm tánh, làm lành lành dữ—“Tu” means correct our characters and obey the Buddha’s teachings. “Tu” means to study the law by reciting sutras in the morning and evening, being on strict vegetarian diet and studying all the scriptures of the Buddha, keep all the precepts; however,  the most important factors in real  “Tu” are to correct your character, to eliminate bad habits, to be joyful and compassionate, to build virtue. In reciting sutras, one must thoroughly  understand the meaning.         Furthermore, one should  also         practise meditation on a daily basis to get insight. For laypeople, “Tu” means to mend your ways, from evil to wholesome (ceasing transgressions and performing good deeds). 

Tu Ác: Huân tập những điều ác, ngược lại với bản tánh ác—To cultivate evil—Cultivated evil in contrast with evil by nature.

Tu Bạt: Tên của phái “Khổ Hạnh Ngoại Đạo”—Name of an externally ascetic sect.

Tu Bạt Đà La: Subhadra (skt)—C̣n gọi là Tô Bạt Đà La, tên của vị Tỳ Kheo đệ tử cuối cùng được quy-y với Phật. Ông là một người Bà La Môn, lúc đó đă 120 tuổi (ông tới thành Câu Thi Na gặp lúc Đức Phật sắp nhập diệt, bèn xuất gia và đắc đạo)—Name of the last convert of the Buddha, a Brahmin, 120 years old at the time of convert. 

Tu Bồ Đề: Subhuti (skt)—C̣n gọi là Tu Phù Đê, Tu Phu Đê, Tu Bổ Đề, Tu Bổ Để, Tàu dịch là Không Sinh, Thiện Hiện, Thiện Cát, hay Thiện Nghiệp. Ông là một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật. Ông là đệ tử đầu tiên liễu ngộ “tánh không.” Ông được nổi bậc về ḷng bi mẫn và chẳng bao giờ gây chuyện với bất cứ ai. Ông cũng là người đương thời chuyên thuyết giảng kinh Ma Ha Bát Nhă—One of the ten great disciples of the Buddha. He is thought to have been first in his understanding of Sunyata, or the void. He was pre-eminent in compassion and that he never quarreled with anyone.  He is the principal interlocutor in the Mahaprajnaparamita sutra.

Tu Bổ: To maintain—Maintenance.

Tu Chân: Sucinta, Sucinti, or Sucitti (skt)—Tên của một loại Trời—Name of a deva.

Tu Chính: To amend—To rectify--Amendment.

Tu Chính Án: Amendment.

Tu Chứng: To practice and experience.

Tu Công Đức: To cultivate meritorious virtues.

Tu Dạ Ma: Suyama or Yama (skt)—C̣n gọi là Tu Diệm Ma, Tu Viêm, Tu Viêm Ma, Tàu dịch là Diệu Thiện hay Diệu Thời Phân, tên của Tu Ma Thiên Vương, vị cai quản cung trời Dạ Ma—The ruler of the Yama Heaven.

Tu Di: See Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section and Meru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Tu Di Đàn: Tu Di Tọa—Phật tọa—A kind of throne for a Buddha.

Tu Di Đảnh: Merukuta (skt)—Con trai thứ hai của Phật Đại Thông Trí Thắng có tên là Tu Mật La Thiên hay A Súc Bệ Phật—Second son of Mahabhijna Buddha, whose name is Abhirati—See Abhirati in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Tu Di Tọa: See Tu Di Đàn.

Tu Di Trong Hạt Cải—Hạt Cải Trong Tu Di: Mount Sumeru contained in a Mustard Seed, and a Mustard Seed contained in Mount Sumeru—See Sumeru Mountain in English-Vietnamese Section. 

Tu Di Tướng: Merudhvaja (skt)—Tên của vũ trụ của Tu Di Đăng Vương Phật, ở về phương tây bắc, con trai thứ 12 của Phật Đại Thông Trí Thắng—Name of the universe of Merukalpa Buddha, in the northwest, twelfth son of Mahabhijna.

Tu Dưỡng: To cultivate.

Tu Đa La: Sutra (skt)—C̣n gọi là Tô Đát Lăm, Tố Đát Lăm, Tu Đa La, Tu Đan La—Tu Đố Lộ—Tu Đa Lan-Tu Đan Lan Đa.

1)      Xâu lại thành dây cho khỏi sút ra: To sew—To thread—To string together.

2)      Sợi chỉ hay sợi dây: A thread, or a string.

3)      Xâu lại thành tràng hoa: Strung together as a garland of flowers.

4)      Kinh điển Phật Giáo, thường giới thiệu bằng “Như Thị Ngă Văn”: Buddhist sutras, usually introduced by “Thus Have I Heard.”

5)      Phần thứ nhất trong Tam tạng, nhưng lắm khi ám chỉ tất cả kinh Phật: The Sutra-pitaka, or the first portion of the Tripitaka, but sometimes applied to the whole Buddhist Canon.  

Tu Đà: Sudra (skt)—C̣n gọi là Thủ Đà La, giai cấp thấp nhất trong bốn giai cấp ở Ấn Độ vào thời Đức Phật c̣n tại thế—The fourth and the lowest caste in India at the time of the Buddha—See Tứ Giai Cấp Ấn Độ (4).

Tu Đà Ban Na: See Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Tu Đà Hoàn: Srotapanna (skt)—Thánh quả đầu tiên trong Tứ Thánh Quả. Trong quả vị nầy, dù chưa vượt thoát khỏi  ṿng luân hồi sanh tử, hành giả không c̣n bị thối chuyển và chắc chắn sẽ đạt quả vị A La Hán sau bảy lần tái sanh giữa cơi nhân Thiên—This is the first step of the four before attaining Arhat Enlightenment. Although in this stage, the person is not yet free from the cycle of births and deaths, he will never again regress in his cultivated path and is guaranteed to reach Arhathood after seven more times of rebirths among Heaven and Humans—See Tứ Thánh Quả in Vietnamese-English Section, and Srota-apanna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 

Tu Đà Lư Sá Na: Sudarsana (skt).

1)      Thiện Kiến—Beautiful.

2)      Tên của một loài Dạ Xoa: Name of a yaksa.

Tu Đà Tu Ma: Sudhaman (skt)—Một vị vua được đề cập tới trong Đại Trí Độ Luận (theo Đại Trí Độ Luận, xưa có vua Tu Đà Tu Ma, tŕ giới tinh tấn, thường theo hạnh nói thật. Một sớm cỡi xe vào vườn chơi th́ gặp một vị Bà La Môn đi tới xin bố thí. Vua nhận lời và bảo đợi đó khi vua trở lại sẽ bố thí. Khi vua vào vườn lại gặp vua quỷ hai cánh là Lộc Túc, từ không trung bay tới bắt vua bay đi. Đến núi quỷ ở, nó đặt vua trong 99 vị vua khác. Vua Tu Đà Tu Ma nước mắt như mưa. Lộc Túc hỏi vua Tu Đà Tu Ma v́ cớ ǵ mà khóc như trẻ nít, vua Tu Đà Tu Ma nói: Ta không sợ chết, chỉ sợ thất tín với vị Bà La Môn, và nói rơ lư do cho Lộc Túc nghe. Lộc Túc bèn cho về và hẹn bảy ngày sau phải trở lại. Vua về nước bố thí cho vị Bà La Môn và lập thái tử lên làm vua. Qua bảy ngày vua đến gặp thái tử bảo là đến kỳ hẹn gặp Lộc Túc, thái tử khuyên vua nên bỏ ư định  nầy, nhưng vua đọc ngay bài kệ về hạnh nói thật như sau: “Hạnh nói thật là điều răn thứ nhất. Hạnh nói thật đi lên thang trời. Nói thật là bậc người lớn lao. Hạnh nói sai trái đi vào địa ngục. Ta nay giữ lời nói thật thà bỏ tuổi thọ đời ḿnh, ḷng không hối hận.” Thế rồi vua đến nơi gặp Lộc Túc, Lộc Túc nghe vua khởi lên niềm tịnh tín, thả ngay vua cùng 99 vua khác trở về)—A king mentioned in the Maha-Prajna-Paramita sastra.

Tu Đạo:

1)      Tu hành theo pháp môn của tôn giáo: To practice the way—To cultivate the way of religion—To be religious.

2)      Tự tu tập: The way of self-cultivation.

3)      Con đường tu tập: The way of practice.

4)      Ngôi vị Thanh Văn Thừa từ Nhất Lai đến A La Hán: In the Hinayana, the stage from Anagama to arhat.

5)      Một trong thập địa Bồ Tát: In Mahayana, one of the bodhisattva stages.

Tu Đạt:

1)      Sudana (skt)—Tiền thân của Đức Thích Ca Mâu Ni, khi ngài bỏ cả quyền hành ngôi báu  để tu hạnh bố thí—Sakyamuni as a prince in a former life (previous incarnation), when he forfeited the throne by his generosity (almsgiving).

2)      Sudatta (skt)—Tên của trưởng giả Cấp Cô Độc, người nước Xá Vệ, đă dâng cúng ngôi tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên lên Đức Phật—Well-given, interpreted as a good giver, beneficient, known as benefactor of orphans, etc. Name of Anathapindaka, who bestowed the Jetavana vihara on the Buddha. 

Tu Đạt Đa: Sudatta or Sudana (skt)—See Tu Đạt (2).

Tu Đạt Lê Xá Na: Sudarsana (skt)—C̣n gọi là Thiện Kiến Thiên hay Thiện Quán Thiên, cơi Phạm Thiên thứ 16, và cơi Tứ Thiền Thiên thứ sáu—The heaven of beautiful appearance, the sixteenth Brahmaloka, and sixth of the fourth Dhyana—See Phạm Thiên, and Tứ Thiền Thiên (4).

Tu Đạt Nă: Sudana (skt)—See Tu Đạt (1).

Tu Đạt Thiên: Sudrsas (skt)—See Thiện Hiện Thiên in Vietnamese-English Section.

Tu Đắc Thiên Nhĩ: Một lối giải thích tương đương cho thiên nhĩ thông—Another equivalent interpretation for deva-ear—See Thiên Nhĩ Thông.

Tu Đính: To amend—To rectify.

Tu Đức: Tu đức qua công phu, ngược lại với bản tánh tốt—Power of goodness attained by practice, in contrast with natural capacity for goodness (Tánh đức).

Tu Già Đa: Sujata (skt & p)—Người con gái của một điền chủ trong vùng Senani gần thị trấn Ưu Lâu Tần Loa trong thời Đức Phật c̣n tại thế, nay là làng Urel cách thị trấn Gaya 6 dậm trong quận Gaya thuộc tiểu bang Bihar trong vùng đông bắc Ấn Độ. Nàng Tu Già Đa phát tâm hứa sẽ dâng cúng cho vị thần cây đa cạnh nhà một bữa ăn cháo sữa nếu như nàng sanh được con trai. Ḷng mong ước của nàng được măn nguyện sau khi nàng hạ sanh một cháu trai. Nàng sai người hầu gái sửa soạn nơi cho cô đến lễ bái tạ ơn. Khi ra đến nơi, người gái thấy thái tử Sĩ Đạt Đa ngồi dưới gốc cây đa, tưởng Ngài là vị thần cây hiện ra để thọ nhận lễ vật, bèn chạy về thông báo cho Tu Già Đa. Tu Già Đa rất vui mừng, mang thức ăn đựng trong bát vàng đến cúng dường cho Ngài. Đây là bữa ăn duy nhất của Đức Phật trước khi Ngài chứng đạo giác ngộ sau 49 ngày ngồi thiền định dưới cội cây Bồ Đề tại làng Bồ Đề Đạo Tràng (Phật Đà Ca Da) trong tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Độ—Daughter of a land owner in the vilage of Senani near the small city of Uruvela during the Buddha’s time, present-day Urel village which is situated six miles from the city of Gaya in the Gaya district of the Bihar state in northeast India. Sujata made a promise to the God of the banyan tree near by that she would offer a meal of milk-rice to the God if she gave birth to a son. Her wish was fulfilled, the son was born, and she sent her maid to prepare the place for the offering. Her maid, finding Siddhartha sitting under the banyan, thought that he was the tree-God present in person to receive the offering. She brought the news to Sujata, who in great joy, brought the food in a golden bowl and offered it to him. This was the only meal of the Buddha previous to the night of his enlightenment after 49 days of his sitting meditation under the Bodhi-Tree which is located in the Budha-Gaya village in the Bihar state of northeast India. 

Tu Già Đà: Sugata (skt)—Tu Già Đa—Tu Già Độ—Sa Già Đà—Tô Yết Đa—Sa Bà Yết Đa.

1)      Hảo Khứ: Người đi đúng đường—One who has gone the right way.

2)      Thiện Thệ: Một trong những danh hiệu của Đức Phật—One of the Buddha’s titles.

3)      Hoan Nghênh: Svagata (skt)—Welcome.

Tu Hành: Carya (skt).

(I)     Nghĩa của Tu Hành—The meanings of “Cultivation”—Tu tập chánh pháp—Conduct—To observe and do—To cultivate—To practice—To mend one’s ways—To cultivate oneself in right practice—To lead a religious life.

(II)  Tầm quan trọng của việc Tu Hành trong Phật Giáo—The importance of Practice in Buddhism:

1)      Phật tử thường có truyền thống tôn Phật kính Tăng, và bày tỏ ḷng tôn kính với xá lợi Phật, những biểu tượng tôn giáo như h́nh ảnh, tịnh xá hay tự viện. Tuy nhiên, Phật tử chẳng bao giờ thờ ngẩu tượng—It is traditional for Buddhists to honour the Buddha, to respect the Sangha and to pay homage the religious objects of veneration such as the relics of the Buddha, Buddha images, monastery, pagoda, and personal articles used by the Buddha. However, Buddhists never pray to idols.

2)      Thờ cúng Phật, tổ tiên, và cha mẹ quá văng đáng được khuyến khích. Tuy nhiên, chữ “thờ cúng” tự nó đă không thích đáng theo quan điểm của đạo Phật. Từ “Bày tỏ ḷng tôn kính” có lẽ thích hợp hơn. Phật tử không nên mù quáng thờ phụng những thứ nầy đến nỗi quên đi mục tiêu chính của chúng ta là tu hành. Người Phật tử quỳ trước tượng Phật để tỏ ḷng tôn kính đấng mà h́nh tượng ấy tượng trưng, và hứa sẽ cố gắng đạt được những ǵ Ngài đă đạt 25 thế kỷ trước, chứ không phải sợ Phật, cũng không t́m cầu ân huệ thế tục từ h́nh tượng ấy—The worship of the Buddha, ancestors, and deceased parents, are encouraged. However, the word “worship” itself is not appropriate from the Buddhist point of view. The term “Pay homage” should be more appropriate. Buddhists do not blindly worship these objects and forget their main goal is to practice. Buddhists kneel before the image of the Buddha to pay respect to what the image represents, and promise to try to achieve what the Buddha already achieved 25 centuries ago, not to seek worldly favours from the image. Buddhists pay homage to the image not because they are fear of the Buddha, nor do they supplicate for worldly gain.

3)      Thực hành là khía cạnh quan trọng nhất trong đạo Phật. Đem những lời Phật khuyên dạy ra thực hành trong đời sống hằng ngày mới thực sự gọi là “tu hành.” Đức Phật thường nhắc nhở tứ chúng rằng Phật tử không nên tùy thuộc vào người khác, ngay cả đến chính Đức Phật, để được cứu độ. Trong thời Đức Phật c̣n tại thế, có nhiều đệ tử hay ngắm nghía vẻ đẹp của Phật, nên Ngài nhắc nhở tứ chúng rằng: “Các ông không thể nh́n thấy Đức Phật thật sự bằng cách ngắm nh́n vẻ đẹp nơi thân Phật. Những ai nh́n thấy giáo lư của ta mới thật sự nh́n thấy ta.”—The most important aspect in Buddhism is to put into practice the teaching given by the Buddha. The Buddha always reminded his disciples that Buddhists should not depend on others, not even on the Buddha himself, for their salvation. During the Buddha’s time, so many disciples admired the beauty of the Buddha, so the Buddha also reminded his disciples saying: “You cannot see the Buddha by watching the physical body. Those who see my teaching see me.”

(III)            Lời Phật dạy về Tu Hành trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on Cultivation in the Dharmapada Sutra:

·        Chuyên làm những việc không đáng làm, nhác tu những điều cần tu, bỏ việc lành mà chạy theo dục lạc, người như thế dù có hâm mộ kẻ khác đă cố gắng thành công, cũng chỉ là hâm mộ suông—He who applies himself to that which should be avoided, not cultivate what should be cultivated; forgets the good, but goes after pleasure. It’s only an empty admiration when he says he admires people who exert themselves in meditation (Dharmapada 209).

Tu Hành Chân Chánh Không Thể Nào Tự Khinh Mà Không Cố Gắng Hết Ḿnh: To cultivate earnestly we cannot look down on ourselves and not to exert enough efforts.

Tu Hành Giáo Pháp Và Thiền Định: To practise the Dharma and meditation.

Tu Hành Khổ Hạnh: Ascetic practices—Tu hành giới luật thanh tịnh thân tâm, có mười hai điều khổ hạnh—Practices of precepts to purify one’s body and mind. There are twelve ascetic rules:

1)      Đầu chẳng đội mủ: Never wear a hat.

2)      Chân không mang giày: Never wear shoes.

3)      Không giữ tiền bạc; nếu có ai cho th́ giải thích rồi trả lại: Never keep money; if people offer money because they don’t know, explain and return to them.

4)      Mặc áo vá: Wearing patched robes.

5)      Chỉ ăn đồ khất thực: Eating only begged food.

6)      Ngày chỉ ăn một ngọ: Eating only a meal a day at noon time.

7)      Không ăn thêm hay ăn sái giờ: Not to eat further food or eating in the afternoon.

8)      Sống nơi yên tỉnh cô liêu: Living in secluded, solitary place.

9)      Sống nơi trống trải: Living in the open.

10)  Tham thiền dưới gốc cây: Meditating under a tree.

11)  Sống bất cứ nơi nào: Living in whatever place.

12)  Chỉ ngồi chứ không nằm: Sitting only, never lying down.  

Tu Hành Kiên Cố: Firmness in observing Buddhist morality.

Tu Hành Lơ Là: To cultivate perfunctorily.

Tu Hành Thối Chuyển: Regressive cultivation—Nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật tại Tây Thiên, tam niên vấn Phật yếu tiền—In the first year of cultivation, the Buddha stands right before our eyes; the second year he has already returned to the West; third year if someone inquires about the Buddha or request recitations, payment is required before a few words are spoken or a few verses recited. 

Tu Hành Tinh Tấn: To practice diligently.

Tu Hành Trụ: Trụ thứ ba trong thập trụ—Bodhisattva’s stage of conduct, the third of his ten stages. 

** For more information, please see Thập Trụ.

Tu Hạnh Phổ Hiền: To practice the deeds of Samantabhadra—See Mười Đại Nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.

Tu Hoặc: Tư Hoặc—Khi tu đạo dứt bỏ mọi nghi hoặc, mê muội tham, sân, si—Illusion, such as desire, hate, etc., in practice or performance, i.e. in the process of attaining enlightenment.

** For more information, please see Tư Hoặc.

Tu Khổ Hạnh: Recluse—Ascetic practices—See Tu Hành khổ hạnh.

Tu Kiên: Tu hành kiên định—Firmness in observing or maintaining; established conviction, i.e. of the bodhisattva of the Differentiated Teaching, that all phenomena in essence are identical. 

Tu La: Asura (skt)—A Tu La, loại quỷ thần thường đánh nhau với trời Đế Thích—Demons who war with Indra.

Tu La Đạo: A Tu La đạo (thường là kẻ hay kiếm chuyện gây gỗ), một trong lục đạo—Asura way, or destiny, one of the six paths.

Tu La Quân: Quân binh của A Tu La, đánh nhau với trời Đế Thích—The army of Asuras, fighting on the asura battlefield against Indra.

Tu La Tửu: Sura (skt)—Rượu Tu La, cũng được diễn dịch như là A Tu La Tửu nghĩa là “không có rượu.” Ư nói cái ǵ không hiện hữu—Wine, spirits, but it is also interpreted as asura wine, i.e. the non-existent. 

Tu Là Chuyển Nghiệp: Dù mục đích tối thượng của đạo Phật là giác ngộ và giải thoát, Đức Phật cũng dạy rằng tu là cội nguồn hạnh phúc, hết phiền năo, hết khổ đau. Phật cũng là một con người như bao nhiêu con người khác, nhưng tại sao Ngài trở thành một bậc giác ngộ vĩ đại? Đức Phật chưa từng tuyên bố Ngài là thần thành ǵ cả. Ngài chỉ nói rằng chúng sanh mọi loài đều có Phật tính hay hạt giống giác ngộ và sự giác ngộ ở trong tầm tay của mọi người, rồi nhờ rời bỏ ngai vị Thái Tử, của cải, và quyền lực để tu tập và tầm cầu chân lư mà Ngài đạt được giác ngộ. Phật tử chúng ta tu không phải mong cầu xin ân huệ, mà phải tu tập theo gương hạnh của Đức Phật, phải chuyển nghiệp xấu thành nghiệp lành hay không c̣n nghiệp nào nữa. Con người ở đời  giàu có và thông minh, nghèo hèn và ngu dốt. Mỗi người mỗi khác, mỗi người một hoàn cảnh riêng biệt sai khác nhau. Phật tử tin rằng  nguyên nhân chỉ v́ mỗi người tạo nghiệp riêng biệt. Đây chính là luật nhân duyên hay nghiệp quả, và chính nghiệp tác động và chi phối tất cả. Chính nghiệp nơi thân khẩu ư tạo ra kết quả, hạnh phúc hay khổ đau, giàu hay nghèo. Nghiệp không có nghĩa là số phận hay định mệnh. Nếu tin vào số phận hay định mệnh th́ sự tu tập đâu c̣n cần thiết và lợi ích ǵ? Nghiệp không cố định cũng không phải là không thay đổi được. Con người không thể để bị giam hăm trong bốn bức tường kiên cố của nghiệp. Ngược lại, con người có khả năng và nghị lực có thể làm thay đổi được nghiệp. Vận mệnh của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào hành động của chính chúng ta; nói cách khác, chúng ta chính là những nhà kiến trúc ngôi nhà nghiệp của chính chúng ta. Tu theo Phật là tự ḿnh chuyển nghiệp. Chuyển nghiệp là chẳng những phải bỏ mọi tật xấu của chính ḿnh, mà cũng đừng quan tâm đến những hành động xấu của người khác. Chúng ta không thể nào đổ lỗi cho ai khác về những khổ đau và bất hạnh của chính ḿnh. Chúng ta phải đối diện với cuộc sống chứ không bỏ chạy, v́ có chỗ nào trên quả đất nầy là chỗ cho chúng ta chạy trốn nghiệp của ḿnh đâu. V́ thế chúng ta phải chuyển nghiệp bằng cách tu tập các hạnh lành để mang lại hạnh phúc cho chính ḿnh, hơn là cầu xin hoặc sám hối. Chuyển nghiệp là thường nhớ tới nghiệp, phải dùng trí tuệ để phân biệt thiện ác, lành dữ, tự do và trói buộc  để tránh nghiệp ác, làm nghiệp lành, hay không tạo nghiệp nào cả. Chuyển nghiệp c̣n là thanh lọc tự tâm hơn là cầu nguyện, nghi lễ cúng kiến hay tự hành xác. Ngoài ra, chuyển nghiệp c̣n là chuyển cái tâm hẹp ḥi ích kỷ thành cái tâm mến thương rộng lớn và thành tựu tâm từ bi bằng cách thương xót chúng sanh mọi loài. Nói cách khác, chuyển nghiệp là thành tựu tứ vô lượng tâm, đặc biệt là hai tâm từ và bi. Phật tử chân thuần nên luôn nhớ rằng trong đời nầy ai cũng phải một lần chết, hoặc sớm hoặc muộn; khi chết, không ai mang theo được bất cứ thứ ǵ của trần tục, chỉ có nghiệp lành hay nghiệp dữ do ḿnh tạo ra sẽ phải theo ḿnh như h́nh với bóng mà thôi—Although the supreme goal of Buddhism is the supreme Enlightenment and liberation, the Buddha also taught that Buddhist practice is the source of happiness. It can lead to the end of human suffering and miseries. The Buddha was also a man like all other men, but why could he become a Great Enlightened One?  The Buddha never declared that He was a Deity. He only said that all living beings have a Buddha-Nature that is the seed of Enlightenment. He attained it by renouncing his princely position, wealth, prestige and power for the search of Truth that no one had found before.  As Buddhist followers, we practice Buddhist tenets, not for entreating favors but for for following the Buddha’s example by changing bad karmas to good ones or no karma at all. Since people are different from one another, some are rich and intelligent, some are poor and stupid. It can be said that this is due to their individual karma, each person has his own circumstances. Buddhists believe that we reap what we have sown. This is called the law of causality or karma, which is a process, action, energy or force. Karmas of deeds, words and thoughts all produce an effect, either happiness or miseries, wealth or poverty. Karma does not mean “determinism,” because if everything is predetermined, then there would be no free will and no moral or spiritual advancement. Karma is not fixed, but can be changed. It cannot shut us in its surroundings indefinitely. On the contrary, we all have the ability and energy to change it. Our fate depends entirely on our deeds; in other words, we are the architects of our karma. Cultivating in  accordance with the Buddha’s Teachings means we change the karma of ourselves; changing our karmas by not  only giving up our bad actions or misdeeds, but also forgiving offences directed against us by others. We cannot blame anyone else for our miseries and misfortunes. We have to face life as it is and not run away from it, because there is no place on earth to hide from karma. Performing good deeds is indispensable for our own happiness; there is no need of imploring favors from deities or simply showing repentance.  Changing karma also means remembrance of karma and using wisdom to distinguish virtue from evil and freedom from constraint so that we are able to avoid evil deeds, to do meritorious deeds, or not to create any deeds at all. Changing karma also means to purify our minds rather than praying, performing rites, or torturing our bodies.  Changing karma also means to change your narrow-minded heart into a heart full of love and compassion and accomplish the four boundless hearts, especially the hearts of loving-kindness and compassion. True Buddhists should always remember that sooner or later everyone has to die once. After death, what can we bring with us? We cannot bring with us any worldly possessions; only our bad or good karma will follow us like a shadow of our own. 

Tu Lợi:  Surya (skt)—Tu Lợi Da.

1)      Mặt Trời: The sun.

2)      Tên của một loài Dạ Xoa, nguời cai quản mặt trời: Name of a yaksa, the ruler of the sun.

Tu Lợi Da: See Tu Lợi (1).

Tu Luyện: To cultivate and to train.

Tu Ma Đề: Sumati (skt)—C̣n gọi là Tu Ma Đầu, Tàu dịch là Diệu Ư, Hảo Ư, biệt danh của cơi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà—Of wonderful meaning, or wisdom, the abode of Amitabha, his Pure Land. 

Tu Ma Đề Trưởng Giả Kinh: Kinh Đức Phật giảng về vô thường sau cái chết của con trai gia đ́nh trưởng giả Tu Ma Đề (sau khi con trai Tu Ma Đề trưởng giả trong thành Vương Xá chết, hai ông bà trưởng giả buồn rầu khôn xiết, nhân đó Phật thuyết Kinh Tu Ma Đề, nói về tất cả các pháp đều vô thường để khuyến dụ họ tu)—A sutra about the impermanence of life, preached by the Buddha after the death of Sumati’s son in Rajagaha.

Tu Ma Na: Sumana (skt)—C̣n gọi là Tu Mạn Na, là tên một loài hoa như hoa lài lớn rất thơm, cây cao từ 4 đến 5 bộ Anh, x̣e ra xung quanh như cái lọng, bông màu vàng lợt—A plant 4 or 5 feet high with light yellow flowers, the “great flowered jasmine.”

Tu Mạn Na: See Tu Ma Na.

Tu Mi: Beard and eyebrows (man).

Tu Mi Nam Tử: A man—To be a man.

Tu Nhẫn: Bồ Tát tu tập thập hồi hướng và Trung Quán thấy rằng chư pháp, sự lư đều dung ḥa nên sanh tu nhẫn—Bodhisattvas who practice the ten kinds of dedication and meditation of the mean, have patience in all things for they see that all things, phenomena and noumena, harmonize.

Tu Niết Mật Đà: Sunirmita or Nirmanarati (skt)—Tên của cơi trời hay chư Thiên Lạc Hóa—Heavens or devas of joyful transformation.

Tu Phật: To practise Buddha’s truth—Theo Thiền sư Dogen th́ tu Phật là học lấy chính ḿnh, học lấy chính ḿnh là tự quên chính ḿnh, tự quên chính ḿnh là kinh qua vạn pháp, kinh qua vạn pháp là buông bỏ thân tâm ḿnh và thân tâm của ngoại trần—According to Zen Master Dogen, to learn the Buddha’s truth is to learn ourselves, to learn ourselves is to forget ourselves, to forget ourselves is to be experienced by the myriad dharmas, to be experienced by the myriad dharmas is to let our body-and-mind, and the body-and-mind of external world fall away (Shobogenzo—Book 1 p. 34).  

Tu Phiến Đa Phật: Susanta (skt)—Tên của Tu Phiến Đa Phật, một vị Phật cực kỳ thanh tịnh—A Buddha who is entirely pure, or very placid. 

Tu Phước: Những cách thực hành khác nhau cho Phật tử, như thực hành bố thí, in kinh ấn tống, xây chùa dựng tháp, tŕ trai giữ giới, vân vân. Tuy nhiên, tâm không định tĩnh, không chuyên chú thực tập một pháp môn nhứt định th́ khó mà đạt được nhất tâm. Do đó khó mà văng sanh Cực Lạc—Sundry practices—Practices of blessing—Various practices for a Buddhist such as practicing charity, distributing free sutras, building temples and stupas, keeping vegeterian diet and precepts, etc. However, the mind is not able to focus on a single individual practice and it is difficult to achieve one-pointedness of mind. Thus, it is difficult to be reborn in the Pure Land.

Tu Sám: Phép tu sám hối (phát nguyện tŕ tụng sám hối mỗi ngày, hoặc trước tượng Phật làm lễ ăn năn sám hối. Tŕ tụng sám hối rồi phải  ăn ở cho chân chính, không phạm ba nghiệp thân, khẩu, ư)—To undergo the  discipline of penitence.

Tu Sĩ: Monk—Priest.

Tu Sinh: Do tu hành mà có được (tu chứng), khác với được nhờ tự nhiên pháp—That which is produced by cultivation, or observance.

Tu Sở Đoạn: Qua thực tập cắt đứt mọi ảo ảnh—To cut off illusion in practice or performance.

Tu Tánh: To cultivate the nature.

Tu Tắt: Con đường dễ—Pháp môn Tịnh Độ dựa vào cả tự lực lẫn tha lực từ chư Phật và chư Bồ tát—Easy path of practice—The Pure Land method which relies on both self-power and other-power, the power and assistance of the Buddhas or Boddhisattvas.

Tu Tập: To practice—To practice the path —To practice the Dharma—To cultivate—Cultivation.

Tu Tập Bát Thánh Đạo: To develop the Noble Eightfold Path—Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, Đức Phật đă dạy rằng để tu tập Bát Thánh Đạo, các Tỳ Kheo phải tu tập phát triển những pháp sau đây—In the Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), the Buddha taught that in order to develop the Noble Eightfold Path the Bhikkhus should develop the followings:

(A)  Tam Cầu—Three searches:

·        Thắng Tri Tam Tầm Cầu: Direct knowledge of the three searches—See Tam Chủng Tầm Cầu.

·        Liễu Tri Tam Tầm Cầu: Parinna (p)—Full understanding of the three searches.

·        Đoạn Diệt Tam Tầm Cầu: Parikkaya (p)—The utter destruction of the three searches.

·        Đoạn Tận Tam Tầm Cầu: Pahana (p)—The abandoning of the three searches.

(B)  Tam Kiêu Mạn—Three kinds of

       arrogance:

·        Thắng Tri Tam Kiêu Mạn: The direct knowledge of all three kinds of arrogance—See Tam Kiêu Mạn.

·        Liễu Tri Tam Kiêu Mạn: The full understanding of all three kinds of arrogance.

·        Đoạn Diệt Tam Kiêu Mạn: The utter destruction of all three kinds of arrogance.

·        Đoạn Tận Tam Kiêu Mạn: The abandoning of all three kinds of arrogance.

(C)  Tam Lậu Hoặc—Three taints:

·        Thắng tri Tam Lậu Hoặc: The direct  knowledge of all three taints—See Tam Lậu Hoặc.

·        Liễu Tri Tam Lậu Hoặc: The full understanding of all three taints.

·        Đoạn Diệt Tam Lậu Hoặc: The utter destruction of all three taints.

·        Đoạn Tận Tam Lậu Hoặc: The abandoning of all three taints.

(D)  Tam Hữu—Three kinds of existence:

·        Thắng Tri Tam Hữu: The direct knowledge of all three kinds of existence—See Tam Hữu (B).

·        Liễu Tri Tam Hữu: The full understanding of all three kinds of existence.

·        Đoạn Diệt Tam Hữu: The utter destruction of all three kinds of existence.

·        Đoạn Tận Tam Hữu: The abandoning of all three kinds of existence.

(E)  Tam Khổ—Three kinds of suffering:

·        Thắng Tri Tam Khổ: The direct knowledge of all three kinds of suffering—See Tam Khổ.

·        Liễu Tri Tam Khổ: The full understanding of all three kinds of suffering.

·        Đoạn Diệt Tam Khổ: The utter destruction of all three kinds of suffering.

·        Đoạn Tận Tam Khổ: The abandoning of all three kinds of suffering.

(F)   Tam Hoang Vu—Three kinds of barrenness:

·        Thắng Tri Tam Hoang Vu: The direct knowledge of all three kinds of barrenness—See Tam Hoang Vu.

·        Liễu Tri Tam Hoang Vu: The full understanding of all three kinds of barrenness.

·        Đoạn Diệt Tam Hoang Vu: The utter destruction of all three kinds of barrenness.

·        Đoạn Tận Tam Hoang Vu: The abandoning of all three kinds of barrenness.

(G)  Tam Cấu Nhiễm—Three stains:

·        Thắng Tri Tam Cấu Nhiễm: The direct knowledge of all three stains—See Tam Cấu Nhiễm.

·        Liễu Tri Tam Cấu Nhiễm: The full understanding of all three stains.

·        Đoạn Diệt Tam Cấu Nhiễm: The utter destruction of all three stains.

·        Đoạn Tận Tam Cấu Nhiễm: The abandoning of all three stains.

(H)  Tam Dao Động—Three kinds of troubles:

·        Thắng Tri Tam Dao Động: The direct knowledge of three kinds of troubles—See Tam Dao Động.

·        Liễu Tri Tam Dao Động: The full understanding of three kinds of troubles.

·        Đoạn Diệt Tam Dao Động: The utter destruction of three kinds of troubles.

·        Đoạn Tận Tam Dao Động: The abandoning of three kinds of troubles.

(I)     Tam Thọ—Three Feelings:

·        Thắng Tri Tam Thọ: The direct knowledge of three feelings—See Tam Thọ.

·        Liễu Tri Tam Thọ: The full understanding of three feelings.

·        Đoạn Diệt Tam Thọ: The utter destruction of three feelings.

·        Đoạn Tận Tam Thọ: The abandoning of three feelings.

(J)    Tam Khát Ái—Three Cravings:

·        Thắng Tri Tam Khát Ái: The direct knowledge of three kinds of craving—See Tam Khát Ái.

·        Liễu Tri Tam Khát Ái: The full understanding of three kinds of craving.

·        Đoạn Diệt Tam Khát Ái: The utter destruction of three kinds of craving.

·        Đoạn Tận Tam Khát Ái: The abandoning of three kinds of craving.

(K) Tứ Bộc Lưu—Four floods:

·        Thắng tri Tứ Bộc Lưu: The direct knowledge of  four floods—See Tứ Bộc Lưu.

·        Liễu Tri Tứ Bộc Lưu: The full understanding of four floods.

·        Đoạn Diệt Tứ Bộc Lưu: The utter destruction of four floods.

·        Đoạn Tận Tứ Bộc Lưu: The abandoning of four floods.

(L)  Tứ Ách Phược—Four bonds:   

·         Thắng Tri Tứ Ách Phược: The direct knowledge of four bonds—See Tứ Ách Phược.

·        Liễu Tri Tứ Ách Phược: The full understanding of four bonds.

·        Đoạn Diệt Tứ Ách Phược: The utter destruction of four bonds.

·        Đoạn Tận Tứ Ách Phược: The abandoning of four bonds.

(M) Tứ Chấp Thủ—Four kinds of clinging:

·         Thắng Tri Tứ Chấp Thủ: The direct knowledge of four kinds of clinging—See Tứ Chấp Thủ.

·        Liễu Tri Tứ Chấp Thủ: The full understanding of four kinds of clinging.

·        Đoạn Diệt Tứ Chấp Thủ: The utter destruction of four kinds of clinging.

·        Đoạn Tận Tứ Chấp Thủ: The abandoning of four kinds of clinging.

(N) Tứ Hệ Phược—Four knots:

·         Thắng Tri Tứ Hệ Phược: The direct knowledge of four knots—See Tứ Hệ Phược.

·        Liễu Tri Tứ Hệ Phược: The full understanding of four knots.

·        Đoạn Diệt Tứ Hệ Phược: The utter destruction of four knots.

·        Đoạn Tận Tứ Hệ Phược: The abandoning of four knots.

(O) Ngũ Dục—Five cords of sensual pleasure:

·        Thắng Tri Ngũ Dục: The direct knowledge of  five cords of sensual pleasure—See Ngũ Dục.

·        Liễu Tri Ngũ Dục: The full understanding of five cords of sensual pleasure.

·        Đoạn Diệt Ngũ Dục: The utter destruction of five cords of sensual pleasure.

·        Đoạn Tận Ngũ Dục: The abandoning of five cords of sensual pleasure.

(P)  Ngũ Triền Cái—Five hindrances:

·        Thắng Tri Ngũ Triền Cái: The direct knowledge of five hindrances—See Ngũ triền Cái.

·        Liễu Tri Ngũ Triền Cái: The full understanding of five hindrances.

·        Đoạn Diệt Ngũ Dục: The utter destruction of five hindrances.

·        Đoạn Tận Ngũ Dục: The abandoning of five hindrances.

(Q)  Ngũ Thủ Uẩn—Five aggregates subject

        to clinging:

·        Thắng Tri Ngũ Thủ Uẩn: The direct knowledge of five aggregates subject to clinging—See Ngũ Thủ Uẩn.

·        Liễu Tri Ngũ Thủ Uẩn: The full understanding of five aggregates subject to clinging.

·        Đoạn Diệt Ngũ Thủ Uẩn: The utter destruction of five aggregates subject to clinging.

·        Đoạn Tận Ngũ Thủ Uẩn: The abandoning of five aggregates subject to clinging.

(R)  Ngũ Hạ Phần Kết—Five lower fetters:

·        Thắng Tri Ngũ Hạ Phần Kết: The direct knowledge of five lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết.

·        Liễu Tri Ngũ Hạ Phần Kết: The full understanding of five lower fetters.

·        Đoạn Diệt Ngũ Hạ Phần Kết: The utter destruction of five lower fetters.

·        Đoạn Tận Ngũ Hạ Phần Kết: The abandoning of five lower fetters.

(S)  Ngũ Thượng Phần Kết—Five higher

       fetters:

·        Thắng Tri Ngũ Thượng Phần Kết: The direct knowledge of five higher fetters—See Ngũ Thượng Phần Kết.

·        Liễu Tri Ngũ Thượng Phần Kết: The full understanding of five higher fetters.

·        Đoạn Diêt Ngũ Thượng Phần Kết: The utter destruction of five higher fetters.

·        Đoạn Tận Ngũ Thượng Phần Kết: The abandoning of five higher fetters.  

(T)  Thất Tùy Miên—Seven underlying

       tendencies:

·        Thắng Tri Thất Tùy Miên: The direct knowledge of seven underlying tendencies—See Thất Tùy Miên.

·        Liễu Tri Thất Tùy Miên: The full understanding of seven underlying tendencies.

·        Đoạn Diệt Thất Tùy Miên: The utter destruction of seven underlying tendencies.

·        Đoạn Tận Thất Tùy Miên: The abandoning of seven underlying tendencies.

Tu Tập Căn Lành: To cultivate good roots.

Tu Tập Đạo Đức: Cultivation of morality.

Tu Tập Đạo Đức Và Tinh Thần: To cultivate moral and spiritual growths.

Tu Tập Lực: Lực đạt được qua quá tŕnh tu tập—The power acquired by the practice of all good conduct—The power of habit.

Tu Tập Một Ḿnh: To ordain oneself   

Tu Tập Thiền: Tu tập Thiền gồm có ba cấp và mỗi cấp có bốn cách—To practice meditation consists of three grades and each grade has four kinds, to make the total of twelve ways.

1-4) Tứ Thiền Sắc Giới: Rupadhatu (skt)—Four form-realm-meditations—Sắc Giới Thiền lấy Sắc Giới Thiên làm đối tượng—The four form-realm-meditations have the form-heaven as their objective—See Tứ Thiền Thiên.

5-8) Tứ Thiền Vô Sắc Giới: Arupadhatu (skt)—Four formless-realm-meditations—Vô Sắc Giới Thiền lấy Vô sắc Giới Thiên làm đối tượng. Theo truyền thuyết, Đức Phật tu tập Vô sắc thiền với Arada Kalama, một nhà tu khổ hạnh đă đạt được trạng thái Thức Vô Biên; và với Udraka Ramaputra, một nhà tu khổ hạnh khác đă đạt được trạng thái cao nhất là Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Cuối cùng Đức Phật đă vượt qua các thầy ḿnh, và, không c̣n ǵ để học hỏi nữa, Ngài tự dấn bước trên con đường của ḿnh, mặc cho những lời yêu cầu nồng hậu của hai nhà tu khổ hạnh kia, mời Ngài ở lại để dạy cho các đố đệ của họ—Four formless-realm-meditations have the formless heaven as their objective. It is a well-known fact that in the Buddha’s career he practiced  the formless dhyana with Arada Kalama, and ascetic who attained the mental state of boundless consciousness, and Udraka Ramaputra, another ascetic who reached the highest stage  of being neither conscious nor unconscious. Finally, the would-be Buddha surpassed his teachers and, having found no more to learn from them, went his own way in spite of their eager requests to stay and train their respective pupils—See Tứ Không Xứ.

9-12) Tứ Vô Lượng Thiền: Apramana-dhyana (skt)—Vô lượng thiền hoàn toàn giống như thiền của hệ thống Du Già. Vấn đề bên nào vay mượn bên nào, chúng ta không thể nói được. Cả hai đều mang chất Phật giáo—The measureless-meditations are exactly identical with those of the Yoga system. Which one is indebted to the other we cannot say. Both look quite Buddhistic—See Tứ Vô Lượng Tâm.

·        Từ: Matri (skt)— Benevolence—Ban vui cho người—To give joy to others.

·        Bi: Karuna (skt)—Mercy—Cứu khổ—To remove the suffering of others.

·        Hỷ: Mudita (skt)—Cheerfulness—Vui sướng hạnh phúc—To keep oneself happy.

·        Xả: Upeksa (skt)—Indifference.

Tu Tập Thiện Tâm: To cultivate a good heart—To plant a good heart.

Tu Thân: To improve oneself. 

Tu Thiền Lục Diệu Môn: Sáu cửa huyền diệu trong tu tập thiền định, đa phần là thực tập thở—The six mysterious gates or ways of practicing meditation, consisting mostly of breathing exercises.

** For more information, please see Lục Diệu

     Môn.

Tu Thiện: Tu tập thiện pháp, đối lại với bẩm tánh thiện—To cultivate goodness—The goodness that is cultivated, in contrast with natural goodness.

Tu Thiện Đề: Subhuti (skt)—See Tu Bồ Đề in Vietnamese-English Section.

Tu Thư: To write books.

Tu Tiên: Tu theo Lăo giáo, nghĩa là luyện “Trường sanh.” Tuy nhiên, Phật tử chơn thuần chúng ta ai cũng biết rằng chư Tiên trên cơi trời đều có thọ mạng, khi hết phước báo vẫn phải trầm luân—To practice Taoism means to regard the preservation of the body and mind as an ideal, to be reborn in the Celestial realm with a definite life-span,  once one’s blessings end one may be fallen down into the evil paths.    

Tu Tính: Tu chỉnh rèn luyện thân tâm để trở về cái bản tánh thanh tịnh của chúng sanh (Phật tánh)—To cultivate the nature; the natural proclivity.

Tu Tính Bất Nhị Môn: Tu tính chẳng phải hai môn (tu là tu chỉnh rèn luyện thân tâm, tính là cái bản tính vốn thanh tịnh hay Phật tánh của chúng sanh, hai lẽ ấy chẳng khác nhau nên gọi là tu tính bất nhị môn)—The identity of cultivation and the cultivated.

Tu Tỉnh: To improve—To mend one’s ways.

Tu Tịnh Độ Ít Bị Ma Cảnh Nhờ Có Thần Lực Của Chư Phật; Trái Lại, Người Tu Thiền Gặp Nhiều Ma Cảnh V́ Chỉ Nương Vào Tự Lực: Those who practice Reciting Amitabha Buddha’s name seldom encounter demonic occurrences owing to the Buddhas’ powers; Zen practitioners, on the contrary, face many demonic occurrences because they rely only on their strength (self-power).

Tu Viện: Nunnery—Convent—Monastery.

Tu Xuất: To abandon the Buddhist order.

: Thêu trên vải—To embroider.

Tú Diệu: Nhị thập bát tú và thất diệu—The twenty-eight constellations and seven luminaries.

Tú Lợi Mật Đa: Suryamitra (skt)—Thần Mặt Trời—The sun-god.

Tú Năng: Thần Tú và Huệ Năng, hai vị tổ của Phật Giáo Nam và Bắc Trung Hoa sau Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn—Shen-Hsiu and Hui-Neng, the two patriarchs of South and North Chinese Buddhism after the fifth patriarch Hung-Jen. 

**For more information, please see Thần Tú,

    and Huệ Năng. 

Tú Phật: Bức h́nh Phật được thêu trên vải—Embroidered picture of a Buddha.

Tú Tài Trương Chuyết: Zhang-Juo Hsiu-Ts’ai—Một hôm Tú Tài Trương Chuyết đến tham vấn Thiền Sư Thạch Sương. Sư hỏi: “Ông tên ǵ?” Trương Chuyết đáp: “Dạ con tên Trương Chuyết.” Sư liền nói: “Trong đây cái xảo c̣n không có, huống là cái chuyết (vụn vằn).” Tú Tái Trương Chuyết bỗng tỉnh ngộ và làm bài kệ:

       “Quang minh tịch chiếu biến hà sa

       Phàm Thánh hàm linh cộng ngă gia

       Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện

       Lục căn tài động bị vân già

       Phá trừ phiền năo trùng tăng bệnh

       Thú hướng chan như tổng thị tà

       Tùy thuận chúng duyên vô quái ngại

       Niết Bàn sanh tử đẳng không hoa.”

       (Sáng soi lặng lẽ khắp hà sa

       Phàm Thánh hàm linh chung một nhà

       Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện

       Sáu căn vừa động bị che ḷa

       Muốn trừ phiền năo càng thêm bệnh

       Hướng đến chân như thảy đều tà

       Tùy thuận các duyên không quái ngại

       Niết Bàn sanh tử thảy không hoa).

One day Zhang-Juo Hsiu-Ts’ai came to interview Master Shih-Shuang-Qing-Chu. Shih-Shuang asked: “What is your name?” Zhang-Juo said: “Venerable, my name is Zhang-Juo.” Shih-Shuang then said: “Here, the skillful does not even exist let alone the clumsy (‘Juo’ in Chinese means ‘clumsy’).” Zhang-Juo instantly got awakened and composed the following verse:

“The brilliant light silently shines throughout themyriad worlds,

Saints, human beings, and living creatures are all living under one roof.

If only no thought arises, will the whole world reveal itself.

Once the six sense-organs agitate, it will be clouded.

Trying to eliminate afflictions simply worsens the ailment,

Hoping to reach true nature is equally wrong.

Just live in accordance with circumstances,

Nirvana and samsara are just the real flowers. :

1)      (a): Stagnant (water).

2)      (n): Prison—Jail—Gaol.

Tù Hăm: To live shut up.

Tù Túng: Not having enough room (space) for action.

Tụ: Samasa (skt)—Tụ họp—Assemble—Collect—An assemblage.

Tụ Chúng: To assemble—To gather. 

Tụ Đế: Samudaya (skt)—Diệu Đế thứ nh́ trong Tứ Diệu Đế, tức “tập đế,” hay khổ đau phiền năo gây ra bởi dục vọng—The second of the four dogmas, that of “accumulation,” i.e. that suffering is caused by the passions—See Tứ Diệu Đế.

Tụ Họp: Tụ tập—To cluster—To flock (meet—come) together—To assemble.

Tụ Mạt: Thế giới hiện tượng hay các pháp vô thường được ví với bọt nước, có đó rồi mất đó—The phenomenal world likened to assemble scum, or bubbles.

Tụ Tập: See Tụ Họp.

Tuân: Tuân theo: To obey—To follow—To observe—To comply with—To accord with.

Tuân Hành: To carry out—To execute—To perform.

Tuân Lệnh: To obey an order.

Tuân Mạng: To obey a command.

Tuân Theo: See Tuân.

Tuân Thủ: To follow—To observe—To obey and keep, e.g. the rules.

Tuấn Kiệt: Talented man.

Tuấn Pháp: Severe laws.

Tuấn Tú: Refined—Elegant.

Tuần:

1)      Theo hay tháp tùng: To follow—To accord with.

2)      Thời gian 10 ngày hay 10 năm: A period of ten days and/or ten years—A decade.

3)      Thời gian 7 ngày: A period of seven days—Week.

4)      Một ṿng—Round.

5)      Tuân theo: To accord with—According to—To follow.

6)      Tuần hành—Patrol—To go on patrol—To wander about—To inspect.  

Tuần Án: Tuần hành và ghi nhận những than phiền trong tự viện—To patrol and receive any complaints.

Tuần Binh: Soldier on patrol.

Tuần Canh: Người canh tuần hỏa hoạn về đêm—To patrol as night-watchman, or guarding against fire.

Tuần Dương Hạm: Cruiser.

Tuần Đơn: The ten days’ account in a monastery.

Tuần Đường:

1)      Canh tuần tự viện—To patrol, or circumambulate the hall.

2)      Nhà Tăng—A monk’s halls:

a)      Nhà Trụ Tŕ: Nơi uống trà và ngồi thiền—The tea hall.

b)      Nhà Đại Chúng: Nơi họp chúng tụng niệm—The assembly hall.

c)      Nhà Thủ Tọa: Nơi ngồi thiền—The meditating hall.

d)      Nhà Duy Na: Nơi dùng vào các ngày Thánh Tiết—Room for supervisor of monks.

e)      Nhà Tham Đầu: Nơi dùng cho khách Tăng—Room for guest monks.

f)        Nhà Đô Tự: Nhà kho—The storage.

g)      Nhà Thỉnh Khách Thiêu Hương: Nơi uống trà của khách Tăng—Tea Room for guest monks.

h)      Nhà Sa Di: Nơi để các vị Sa Di tham vấn về thiền—Room for Sramanera or novice monks to ask and practice meditation.      

Tuần Giáo: See Tuần Tích.

Tuần Hỏa: See Tuần Canh.

Tuần Hoàn: Pradaksina (skt)—Đi ṿng vai phải hướng về đấng tôn quư—Moving around so that the right shoulder is towards the object of reverence—To circulate.

Tuần Kiểm: Patrol and control.

Tuần Lễ: A week.

Tuần Liêu: Tuần hành pḥng ốc trong tự viện—To inspect all the buildings of a monastery.

Tuần Nhật: Ten days.

Tuần Pḥng: Patrol.

Tuần Phục: Submissive.

Tuần San: Weekly newspaper.

Tuần Sau: Next week.

Tuần Thám: Reconnaisance.

Tuần Thân Quán: Thân Niệm Xứ Quán—Thiền quán chi tiết về sự bất tịnh của thân (quán thân bất tịnh từ đầu tới chân, 36 bộ phận đều là bất tịnh), một trong tứ niệm xứ—The meditation which observes the body in detail and considers its filthiness, one of the four foundations of mindfulness.

Tuần Tích: Tuần Giáo—Cầm gậy đi du hóa hay đi giảng đạo các nơi—To walk about with a metal staff, i.e. to teach.

Tuần Tiểu: See Tuần Hành.

Tuần Tự: Theo thứ tự—To follow in order.

Tuất: Giờ Tuất từ 7 đến 9 giờ tối—The “Su” hour from 7 to 9 P.M.

Túc:

1)      Chân: Foot—Leg.

2)      Đầy đủ: Enough—Full.

3)      Chỗ trú ngụ qua đêm: A halting place where one passes the night—Stay.

4)      Xưa kia: Former—Early.

Túc Báo: Quả báo cảm ứng từ nghiệp nhân ở đời trước, hay hậu quả của những hành động trong tiền kiếp—The consequence of deeds done in former existence.

Túc Căn: Cội căn được vun trồng trong tiền kiếp—The root of one’s present lot planted in previous existence. 

Túc Chấp: Bản chất thiện ác chấp trước từ đời trước và được lưu lại trong tâm cho đến đời nầy—The character acquired in a previous existence and maintained.

Túc Chấp Khai Phát: Quả hiện tại do những thiện căn đă gieo trồng từ trong tiền kiếp đến nay mới nẩy nở—The present fruition of the meritorious character developed in previous existence. 

Túc Chỉnh: Grave and correct.

Túc Dạ: Nghỉ lại đêm trước trong các cuộc lễ—To stay the night, the previous night before any special services or ceremony.

Túc Diệu: Hai mươi tám cḥm sao và thất đại hùng tinh—The twenty-eight constellations and seven luminaries.

Túc Duyên: Nhân duyên truyền lại từ tiền kiếp—Causation or  inheritance from previous existence.

Túc Kỵ: Đêm trước ngày lễ thọ trai—The night before a fast day.

Túc Lự Thiền Sư: Zen Master Túc Lự—Thiền sư Việt Nam, quê tại Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Thông Thiền, và là pháp tử đời thứ 14 ḍng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài trụ tại chùa Thông Thánh để dạy thiền. Nơi và lúc nào ngài thị tịch vẫn chưa ai rơ—A Vietnamese Zen master from North Vietnam. He was a disciple of Zen master Thông Thiền, and became the dharma heir of the fourteenth generation of the Wu-Yun-T’ung Zen Sect. Later, he stayed at Thông Thánh Temple to teach Zen. His whereabout and when he passed away were unknown.

Túc Mạng: Tiền kiếp hay cuộc sống ở những đời trước (Phật cho rằng người đời đều có cuộc sống trong đời quá khứ, hoặc là trời, người, ngạ quỷ, súc sanh, lăn lóc luân hồi, đó là túc mệnh)—Previous life or lives.

Túc Mạng Lực: Khả năng của Phật, biết trước luân hồi sanh tử trong quá khứ—The Buddha-power to know all previous transmigrations.

Túc Mạng Minh: Tuệ giác nh́n thấy những điều kiện sanh tử trong tiền kiếp của ḿnh và của người. Tuệ giác của một vị A La Hán—Insight into the mortal conditions of self and others in previous lives—The knowledge of the arhat of his own and other previous transmigrations.  

Túc Mạng Thông: Purvanivasanusmrti (skt)—Một trong lục thông, khả năng nh́n thấy và nhớ lại tiền kiếp của ḿnh và của người. Đây là trí huệ của một vị Phật—The Divine knowledge—One of the six transcendental powers, can remember past lives—Knowledge of former past lives of one’s own and of others—Buddha-knowledge of all forms of previous existence of self and others—See Lục Thông.

Túc Mệnh: See Túc Mạng.

Túc Mệnh Lực: Một trong Thập Lực của Như Lai—One of ten Buddha-powers—See Thập Lực (9).

Túc Mệnh Minh: See Túc Mạng Minh.

Túc Mệnh Thông: See Túc Mạng Thông.

Túc Mục: Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Túc Mục là tên của vị Tiên nhân đầu tiên nói  về thuyết Nhân Minh. Tác phẩm của ông gồm năm quyển—According to Keith in The Dictionary of Chinese Buddhist Terms, this is the name of Aksapada Gotama, to whom is ascribed the beginning of logic; his work is seen in five books of aphorism on the Nyaya.

Túc Nghiệp: Nghiệp tiền kiếp—Former karma, the karma of previous existence.

Túc Nguyện: Nguyện vọng từ trong tiền kiếp—A  vow made in a former existence.

Túc Nguyện Lực: Lực tác dụng của nguyện vọng vố có trong tiền kiếp—The power of an ancient vow.

Túc Nhân: Nghiệp nhân, cả thiện lẫn ác, đă gieo trồng từ nhiều đời trước—Good or evil cause in previous existence.

Túc Phúc: Phúc đức thiện căn đời trước hay phúc nghiệp tiền kiếp—Happy karma from previous existence.

Túc Tác: Những hành động hay tác nghiệp trong tiền kiếp—Deeds of a former life.

Túc Tác Ngoại Đạo: Một trong những giáo phái ngoại đạo t́m giải thoát bằng cách tự khổ hạnh để giải thoát những trừng phạt và chướng nghiệp tiền kiếp—One of the ascetic sect who sought release from penalties from the deeds of a former life by severe austerities now.  

Túc Tập: Những tu tập, thực hành, thói quen,  hay hành động trong tiền kiếp—The practices, habits or deeds of or inherited from former existence. 

Túc Thế: Tiền kiếp hay việc sống chết của một đời hoặc nhiều đời trước—A former existence.

Túc Thiện: Những thiện căn gieo trồng  trong tiền kiếp—Good deeds done in previous existence.

Túc Trái: Những nợ nần hay tội lỗi chưa trả trong tiền kiếp (tuy nhiên, chưa chuốc khổ quả, đến đời nầy mới thấy hiện ra các báo ứng, khổ dụng. Người ta thường nói “tiền oan túc trái,” nghĩa là những oan trái từ xưa, hay oán thù nợ nần năm cũ)—The unrepaid debts from  or sins of former incarnations.

Túc Trú: Purva-nivasa (skt)—Nơi trú ngụ trong tiền kiếp—Former abidings or habitations.

Túc Trú Thông: Túc trú tùy niệm trí chứng thông—The Buddha knowledge of the former incarnations of himself and others. 

Túc Trụ: Purva-nivasa (skt)—Nơi trú ngụ của những tiền kiếp—Former abidings, or habilitations.

Túc Trụ Tùy Niệm Trí Chứng Thông: Phật trí biết được tiền kiếp của chính ḿnh và chúng sanh—The Buddha-knowledge of the former incarnations of himself and others.

Túc Trực: To attend at all time.

Túc Vương Hoa: Naksatra-raja-sankusumitabhijna (skt)—Một vị Bồ Tát  trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—King of the star-flower, a bodhisattva in the Wonder Lotus Sutra.

Túc Vương Hư: Naksatra-raja-vikridita (skt)—Túc Vương Hư là vua của cḥm sao nhị thập bát tú, một loại tam ma địa trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The play of the star-king, or king of the constellations, one of the samadhi in the Lotus sutra.

Túc Ư: Ư nguyện từ trước—The former intention or vow.

Tục:

1)      Trần tục: Common—Ordinary—Usual—Vulgar—Secular. 

2)      Tiếp tục: To continue—To join on—To add—Supplementary—A supplement.

Tục Danh: Nickname.

Tục Đế: Thế đế—Samvrti-satya (skt)—Ordinary categories in contrast with categories of reality (chân đế)—Common or ordinary statement, as if phenomena were real—See Nhị Đế.

Tục Giới: Giới dành cho Phật tử tại gia (ngũ giới hay bát giới, c̣n gọi là hữu lậu giới, đối lại với đạo cụ giới hay cụ túc giới của người xuất gia)—The common commandments for the laity, in contrast with commandments for monks and nuns.

Tục H́nh: Vẻ trần tục của người tại gia—Ordinary appearance.  (the laity).

Tục Lụy: Troubles of the world.

Tục Lưu: Những nguyên tắc hay tư tưởng trần tục, đối lại với sự chân thực—The common flow or run—Common principles, or axioms; normal unenlightened ideas, in contrast with reality.

Tục Mệnh: Phép cầu đảo cho cuộc sống tiếp tục bằng Thần Phan Ngũ Sắc—Prayer for continued life, for which the flag of five colours is displayed.

Tục Mệnh Thần Phan: See Tục Mệnh.

Tục Ngă: Giả ngă (đối lại với chân ngă hay thực ngă) bao gồm ngũ uẩn—The popular idea of the ego or soul (false ego—giả ngă), composed of the five skandhas (this is to be distinguished from the true ego).

Tục Ngữ: Proverb.

Tục Nhân: Grhastha (skt)—Nga La Sa Tha—Người tu tại gia—An ordinary householder—An ordinary man—The laity.

Tục Pháp Đế: The worldly truth, in contrast with the superior truth (Thắng pháp đế). 

Tục Tằn: Rude—Rough—Coarse.

Tục Tỉu: Obscene.

Tục Trần: Bụi bặm của phàm tục, nói về tất cả các việc của thế gian—Common dust, earthly pollution—The world.

Tục Trí: Cái trí thiển cận của phàm phu hay thường trí, do bởi  ảo tưởng tô vẻ làm mê mờ bản tâm (trí hiểu biết tục đế hay trí hữu lậu tạp nhiễm)—Common or worldly wisdom, which by its illusion blurs or colours the mind, blinding it to reality.

Tục Truyền: Tradition.

Tuế: Vatsara (skt)—Năm—A year.

Tuế Dạ: See Phân Tuế.

Tuệ: Prajna or Jnana (skt).

1)      Tác dụng phân biệt sự lư: Wisdom, discernent or understanding—The power to discern things and their underlying principles.

2)      Quyết đoán nghi ngờ: The power to decide the doubtful.

3)      Tuệ là sự cấu tạo của Chánh Kiến và Chánh Tư Duy: Right Understanding and Right Thought constitute wisdom.

4)      Trí và tuệ thường có chung nghĩa; tuy nhiên thông đạt sự tướng hữu vi th́ gọi là “trí.” Thông đạt không lư vô vi th́ gọi là “tuệ.”—Prajna is often interchanged with wisdom. Wisdom means knowledge, the science of the phenomenal, while prajna more generally to principles or morals.

** For more information, please see Tam Huệ. 

Tuệ Ấn: Trí Ấn—Trí tuệ của Như Lai khế hợp với thực tướng của các pháp, đó là quyết định không thay đổi—Wisdom sign or seal which never changes.

Tuệ Căn: Một trong ngũ căn, căn có thể quán đạt chúng sanh để nẩy sinh ra đạo lư—The root or organ of wisdom, one of the five organs.

Tuệ Cự: Ngọn đuốc trí tuệ—The torch of wisdom.

Tuệ Đăng: Ngọn đèn sáng trí tuệ phá tan tối tăm hắc ám—The lamp of wisdom.

Tuệ Đăng Vương: Vị vua đă bố thí máu thịt ḿnh để cứu người—A king who gave his flesh and blood to save the lives of others.

Tuệ Giác: Panna (p)—Prajna (skt)—Huệ hay trí huệ Bát Nhă—Wisdom—See Bát Nhă, and Tuệ in Vietnamese-English Section.

Tuệ Giải: Trí tuệ có thể giải thích tất cả vạn hữu—The function of wisdom—To explain all things.

Tuệ Giải Thoát: Các vị A La Hán chỉ đắc được tuệ chứng giải thoát, chỉ thích giác ngộ đạo lư, chứ không thích tác dụng công đức của sự việc, nên chỉ đoạn được kiến tư phiền năo hay chướng ngại của trí tuệ vô lậu, chứ không ĺa bỏ được chướng ngại của thiền định, ví như người thích truy cầu t́m hiểu chứ không thích hành tŕ—The escape by or into wisdom, i.e. of the arhat who overcomes the hindrances to wisdom or insight, but not the practical side of abstraction, better able to understand than to do.

Tuệ Học: Một trong tam học, quán chiếu chân lư để cắt đứt phiền năo—One of the three studies, the study of wisdom—See Tam Học.

Tuệ Huyễn: Trí tuệ và sự huyễn ảo—Wisdom-illusion—Wisdom conjuring, the kaleidoscope of wisdom.

Tuệ Khả: Hui-K’o—See Huệ Khả.

Tuệ Khải: See Huệ Khải.

Tuệ Kiếm: Trí tuệ có thể cắt đứt mọi phiền năo nên gọi là kiếm huệ—The sword of wisdom which cuts away illusion.

Tuệ Kiến: Sự thấy biết bằng trí tuệ—Wise view, or insight into wisdom, the views of wisdom. 

Tuệ Kính: Trí tuệ có thể thấy mọi sự việc nên gọi là tuệ kính—The mirror of wisdom.

Tuệ Lâm: Hui-Lin—See Huệ Lâm.

Tuệ Lực: See Huệ Lực.

Tuệ Lưu: Ḍng trí tuệ có khả năng tẩy sạch mọi cấu uế—The living stream of wisdom able to cleanse all impurity.

Tuệ Mệnh: Wisdom-life—See Huệ Mệnh.

Tuệ Minh: Hsuan-Lang—See Huyền Lang.

Tuệ Mục: Con mắt trí tuệ—The eye of wisdom.

Tuệ Năng: Hui-Neng—See Huệ Năng.

Tuệ Nghĩa: Hiểu biết thực nghĩa của chân lư bằng trí tuệ—The apprehension of the meaning of reality through wisdom.

Tuệ Nghiệp: Thực hành thiện nghiệp bằng trí tuệ—Practical goodness resulting from wisdom—Undertaking and doing.

Tuệ Nguyệt: See Huệ Nguyệt.

Tuệ Nhăn: Prajnacakshus or Jnanacakshus (skt)—Con mắt trí tuệ thấy vạn hữu giai không. Với con mắt nầy, Bồ Tát ném cái nh́n vào tất cả những cái kỳ diệu và bất khả tư ngh́ của cảnh giới tâm linh, thấy tận hố thẳm sâu xa nhất của nó—The wisdom eye that sees all things as unreal. With the wisdom-eye, a Bodhisattva takes in at a glance all the wonders and inconceivabilities of the spiritual realm to its deepest abyss. 

Tuệ Nhẫn: Tuệ nhẫn là một trong thập nhẫn—One of the ten kinds of patience, wisdom-patience.

Tuệ Nhật: See Huệ Nhật.

Tuệ Phược: Sự trói buộc của ngu si mê muội làm vẩn đục gương sáng trí tuệ—The bond of ignorance and stupidity which fetters the wisdom mirror.

Tuệ Quán: Hui-Kuan—See Huệ Quán.

Tuệ Siêu: Hui-Ch’ao—See Huệ Siêu.

Tuệ Số: Trạng thái tâm, đối lại với tâm—Mental conditions in contrast to mind itself.

Tuệ Tạng:

1)      Luận Tạng ghi chép và giải thích về Tuệ Học—Wisdom-store, the Abhidharma Pitaka, which embodies the science of ascertaining the meaning of the sutras.

2)      Tam Tạng Kinh Điển: The whole of the Tripitaka. 

Tuệ Thân: Một trong ngũ phần pháp thân, là thân đă được thành tựu từ vô lậu trí tuệ—Wisdom body, one of the five divisions of the Dharmakaya, which is the embodiment of inherent wisdom.

** For more information, please see Ngũ Phần

     Pháp Thân.

Tuệ Thọ: Tiếng các vị tỳ kheo lớn gọi các tỳ kheo nhỏ—A term to address to a monk by his superior.

Tuệ Tịnh: Hui-Ching—See Huệ Tịnh.

Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung (1230-1297): Ông tên thật là Trần Tung, sanh năm 1230, là con cả của Trần Liễu. Ông là cháu kêu vua Trần Thái Tông bằng chú—Thuở thiếu thời ông bẩm chất thông minh thuần hậu. Trong thời chiến đấu với quân Mông Cổ, ông đă hai lần làm tướng cầm quân dẹp giặc. Khi thái b́nh, ông lui về ẩn tu tại Phong ấp Vạn Niên. Tại đây ông tu thiền với Thiền sư Tiêu Dao. Ông sống đời đơn giản, không chạy theo thế lực chánh trị. Ông sống an nhàn tự tại trong thế giới nhiễu nhương và không bị dính mắc vào bất cứ thứ ǵ. Theo ông th́ nếu không tham th́ không làm tội. Chính v́ thế mà cả Tăng lẫn tục đều đến học Thiền với ông. Vua Trần Thánh Tông tôn ông là Tuệ Trung Thượng Sĩ và gửi Thái Tử Trần Khâm (sau nầy là vua Trần Nhân Tông) đến học Thiền với ông—His real name was Trần Tung, he was born in 1230, the eldest son of Trần Liễu. He was a nephew of King Trần Thái Tông. He was intelligent and well-behaved when he was very young. During the war time with the Mongolian, he had been a general twice, leading his troops against the invasive Mongolian army to the victory. During the peace time, he retired to Van Nien hamlet, the land rewarded by the king. He practiced meditation under the instruction of Zen Master Tiêu Dao and was enlightened. He led a simple life, not engaging in any competition for political power. He lived freely in his world and did not have any idea of clinging to anything. To him, no greed involved, no sins committed. Thus, laity and monks from all over came to study Zen with him. King Trần Thánh Tông honored him with the respected title “Tuệ Trung Thượng Sĩ” (a highest intellect who always lives within his wisdom). The king also sent his young prince Trần Khâm (later became King Trần Nhân Tông) to come to study Zen with him.    

Tuệ Túc: Chân tuệ, một trong hai chân mà Đức Phật lấy để du hành khắp tam giới. Chân c̣n lại là “Phước Túc.”—The leg of wisdom, one of the two legs that the Buddha used to travel in the three worlds. The other is the leg of blessing or happiness.

Tuệ Tư: See Huệ Tư.

Tuệ Uyển: Hui-Yuan—See Huệ Uyển.

Tuệ Uyển Âm Nghĩa: See Huệ Uyển Âm Nghĩa.

Tuệ Văn: Một vị sư Trung Hoa, nhị tổ tông Thiên Thai—A Chinese monk, second patriarch of the T’ien-T’ai sect.

** For more information, please see Thiên

     Thai Cửu Tổ.

Tuệ Vân: Mây trí tuệ mà Như Lai dùng để bảo hộ hay che chở chúng sanh—The clouds of wisdom with which the Tathagata covers all beings.

Tuệ Viên Măn: Anna (p)—Ajnata (skt)—Trí tuệ cao nhất—Trí tuệ kiện toàn—Tuệ tâm linh—Highest knowledge—Perfect knowledge—Spiritual knowledge.

Tuệ Viễn: See Viễn Sư.

Tủi Phận: To deplore one’s lot.

Tum Húm: Narrow.

Túm Rụm: See Tum Húm.

Tùm Lum: In confusion—In disorder.

Tụm: To gather together by goups of several people.

Tụm Năm Tụm Bảy Tán Gẩu: To gather together by groups of several people for idle talk.

Tung: To throw—To fling—To cast—To toss up. 

Tung Hoành: Vertical or horizontal—Free in all directions.

Tung Hô: To cheer.

Tung Tăng: To run here and there.

Tung Tích: Trail—Trace.

Túng:

1)      To be short of money.

2)      To tolerate evil doings.

Túng Ngặt: needy.

Túng Quẫn: Needy—Hard pressed for money.

Túng Thiếu: To be in financial difficulties.

Túng Tiền: To be pressed for (short of) money.  

Tùng:

1)      Cây tùng: A pine.

2)      Đồng ư: To agree with.

3)      Phụ tùng: Secondary.

4)      Theo: To follow—To arise from.

5)      Tùng học: Followers.

Tùng Duyên Sanh: Pratyaya-mayam (skt)—To arise from condition—Consisting condition.

Tùng Duyệt Đẩu Suất: Tsung-Yueh-T’ou-Shuai—See Tùng Duyệt Thiền Sư.

Tùng Duyệt Thiền Sư: Thiền sư Tùng Duyệt Đẩu Suất sanh năm 1044 tại Cám Châu, bây giờ là tỉnh Giang Tây—Zen master Tzong-Yueh Tou-Shuai was born in 1044 in Kan-Chou, a place in modern Jiang-Xi province.

·        Sư làm “thủ chúng” ở tu viện Đạo Ngộ, trong một dịp hướng dẫn Tăng chúng đến yết kiến Ḥa Thượng Trí ở Vân Cái. Sau một vài câu đàm luận, thiền sư Trí đă biết được biệt tài của sư. Ḥa Thượng Trí bèn cười bảo: “Xem thủ tọa khí chất phi phàm, tại sao thốt ra lời dường như kẻ say?” Sư đỏ mặt xuất mồ hôi thưa: “Cúi mong Ḥa Thượng chẳng tiếc từ bi.” Ḥa thượng Trí lại dùng lời châm chích thêm. Sư mờ mịt, liền xin nhập thất tham vấn riêng với Ḥa Thượng. Ḥa thượng Trí hỏi: “Ông đă từng thấy Ḥa thượng Pháp Xướng chăng?” Sư thưa: “Có từng xem ngữ lục của Ngài, tự hiểu rơ, chứ không mong thấy.”—Tzong-Yueh was the head monk at Tao-Wu Monastery, and on one occasion he led a group of monks on a journey to visit Zen master Yun-Kai Zhi. After only a few sentences of conversation, Zhi knew that Tzong-Yueh possessed special ability. Zhi laughed and said: “I observe that your breath is unusual. Why is it that when you speak your breath is like that of a drunkard?” Tzong-Yueh’s face became flushed and he broke out in sweat, and he said: “I hope the master won’t spare your compassion.” Zhi continued to talk to Tzong-Yueh, goading him. Tzong-Yueh was flushed and didn’t understand. He asked to have a private interview with Zhi. In the abbot’s room, Zhi asked Tzong-Yueh: “Have you ever seen Zen master Fa-Chang?” Tzong-Yueh said: “I have read the record of his talks. I understood it all, so I don’t want to see him.”

·        Ḥa Thượng Trí hỏi tiếp: “Từng thấy Ḥa thượng Văn ở Động Sơn chăng?” Tùng Duyệt thưa: “Người Quan Tây vô năo, mang một cái quần vải khai nước đái, có chỗ nào hay?” Ḥa thượng Trí nói ngay: “Ông nên đến ngay chỗ khai nước đái ấy mà tham vấn.” Sư theo lời dạy của Ḥa thượng Trí, t́m đến yết kiến Ḥa thượng Văn và thâm nhận được áo chỉ. Sư trở lại yết kiến Ḥa thượng Trí. Trí hỏi: “Sau khi thấy người Quan Tây đại sự thế nào?” Sư thưa: “Nếu chẳng được Ḥa Thượng chỉ dạy, đă luống qua một đời.” Sư bèn lễ tạ Ḥa Thượng Trí mà lui ra—Zen master Zhi continued to ask Tzong-Yueh: “Have you seen Zen master Tung-Shan Wen?” Tzong-Yueh said: “Kuan-Hsi’s disciples don’t have any brains. If you put on a cotton garment that smells like piss, what good is it?” Zhi said: “You should go and practice at that place that smells like piss.” Following Zhi’s instructions, Tzong-Yueh went and practiced with Zen master Wen at Tung-Shan, and deeply realized his great teaching. Later Tzong-Yueh returned to see Zen master Zhi. Zhi asked: “Now that you’ve seen Kuan-Xi’s disciples, what about the great matter?” Tzong-Yueh said: “Had it not been for your instructions, it would have slipped past me my entire life.” Tzong-Yueh then bowed and retreated.

·        Một lần sư thượng đường thuyết pháp: “Tai mắt một bề trong, ở yên trong hang vắng, gió thu vào cổ tùng, trăng thu sanh sông biếc. Thiền Tăng khi ấy lại cầu chơn, hai con khỉ đột bốn đuôi duỗi.” Nói xong sư bèn hét lên một tiếng—One time he entered the hall to address the monks, saying: “When a person’ eyes and ears are clear, then he resides in a remote mountain valley. The autumn wind rustles the ancient pines and the autumn moon reflects from the cold waters. A patch-robed monk who reaches that place must go still further to realize the truth, for this is still just two apes with four tails hanging down.” After saying this the master shouted.

·        Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Đẩu Suất trọn không biện biệt, lại kêu rùa đen là trạnh, không thể nói diệu bàn huyền, chỉ biết khua môi động lưỡi, khiến cho Thiền Tăng trong thiên hạ xem thấy trong mắt một giọt máu, chớ có đổi sân làm hỷ người tiếu ngạo yên Hà đó chăng? Sư im lặng giây lâu nói: “Thổi lên một bản thăng b́nh nhạc, mong được sanh b́nh chưa hết sầu.”Another time Tou-Shuai entered the hall to address the monks, saying: “I can’t differentiate anything. I see a hard-shelled turtle and I mistakenly call it soft-shelled. I can’t talk any wondrous talk, or speak about truth. I just flap my lips and drum my tongue. When all the monks in the world see me, they laugh so hard in derision that their tears turn to blood. Don’t I turn their derision to happiness? Are you laughing at me now?”  After a pause, the master said: “I blow a light hearted tune on my flute and it causes people to forget a lifetime of troubles.”

·        Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Mới thấy tân xuân lại sang đầu hạ, bốn mùa dường tên sáng tối như thoi, bỗng chợt mặt hồng trở thành đầu bạc, cần phải nỗ lực riêng dụng tinh thần, cày lấy vườn ruộng của ḿnh, chớ phạm lúa mạ của người, tuy nhiên như thế kéo cày mang bừa, phải là con trâu trắng ở núi Tuyết mới được. Hăy nói lỗ mũi ở chỗ nào? Sư im lặng giây lâu lại nói: “Bậy! Bậy!”—One day Zen master Tou-Shuai enterd the hall to address the monks, saying: “Fist comes the new spring, and then it’s the beginning of summer. The four seasons pass like a shuttle. Before you know it, a red-faced baby has turned into an old white-hair. You must truly exert yourself and use extraordinary effort. Cultivate your own field, and don’t steal someone else’s seedings. Applying yourself in this way, your cultivation will certainly result in finally seeing the white ox on snow mountain.”

·        Vào mùa đông năm 1091, sau khi tắm gội, sư họp Tăng chúng lại nói kệ:

“Bốn mươi tám năm,

  Thánh phàm giết sạch,

  Chẳng phải anh hùng,

  Long An đường trơn.”

Nói xong sư ngồi yên thị tịch, được vua ban danh hiệu “Chơn Tịnh Thiền Sư.”

In the winter of 1091, after bathing, the master assembled the monks and recited this verse:

“After forty-eight years,

  Sacred and mundane are completely  

  killed off,

  Although not heroic,

  The Longan road is slippery.”

Upon finishing the verse, the master passed away (still sitting). He received posthumous title of “True Stillness Zen Master.”        

Tùng Địa Dơng Xuất:

1)      Nhẩy lên từ đất—To spring forth—To burst from the earth--Springing out of the Earth.

2)      Tựa của chương 15 trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa—The title of Chapter 15 in Lotus Sutra.

Tùng Địa Dơng Xuất Bồ Tát: Bồ Tát từ đất hiện lên (khi Đức Phật Thích Ca giảng xong phần Tích Môn, bước qua phần Bản Môn trong Kinh Pháp Hoa th́ vô số các vị Đại Bồ Tát đă từng được Đức Thích Ca Như Lai giáo hóa bỗng từ dưới mặt đất hiện lên rồi trụ trên không trung, các vị đó gọi là Bản Hóa Bồ Tát)—Bodhisattvas who spring forth from the earth when Sakyamuni Buddha expounded the Lotus Sutra, Chapter 15.

Tùng Lâm: Pindavana (skt)—Khu rừng cây tùng—Pine forest—A Clump of forest—A large assembly of monks—A monastery.

Tùng Phục: To submit.

Tùng Tăng: Vị Tăng mới xuất gia—A half-monk—A neophyte.

Tùng Thẩm Triệu Châu: See Triệu Châu Ṭng Thẩm.

Tụng: Geya (skt)—Già Tha—Kệ Đà—Kệ Tha—Tụng kinh—To recite (chant) prayers—To murmur, recite, intone, memorize by repeating in a murmur—Hymns, songs, verses, stanzas, the metrical part of a sutra.

Tụng Giới Ba La Đề Mộc Xoa: To recite Pratimoksa, usually twice a month for Bhikshu and Bhikshuni.

Tụng Giới Bồ Tát: To recite the Bodhisattva precepts.

Tụng Kinh: To recite the Buddhist sutra—To intone sutras.

Những lời Phật dạy về “Tụng Kinh” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on “Sutra Reciting” in the Dharmapada Sutra:

1)      Dù tụng nhiều kinh mà buông lung không chịu thực hành theo, th́ chẳng hưởng được phần ích lợi của Sa-môn, khác nào kẻ chăn ḅ, chỉ lo đếm ḅ cho người khác (để lấy công, chứ sữa thịt của ḅ th́ không hưởng được)—The heedless man even if he can recite many sacred sutras, but fails to act accordingly; he has no share in the fruits of the monastic life, but is like a cowherd who counts the cows of the master, but has none of his own (Dharmapada 19).

2)      Tuy tụng ít kinh mà thường y giáo hành tŕ, hiểu biết chân chánh, diệt trừ tham sân si, tâm hiền lành thanh tịnh, giải thoát và xả bỏ thế tục, th́ dù ở cơi nầy hay cơi khác, người kia vẫn hưởng phần ích lợi của Sa-môn—Even if a man recites few sutras, but acts in accordance with the teaching, overcoming all lust, hatred and ignorance, with true knowledge and serene mind, clinging to nothing here and hereafter, he shares the fruits of a monastic life (Dharmapada 20).

3)      Tụng đến ngàn câu vô nghĩa, chẳng bằng một câu có nghĩa lư, nghe xong tâm liền thanh tịnh—A recitation composed of a thousand words without sense, is no better than one single beneficial word upon hearing which one is immediately pacified (Dharmapada 100).

4)      Tụng đến ngàn câu kệ vô nghĩa, chẳng bằng một câu kệ có nghĩa lư, nghe xong tâm liền thanh tịnh—One beneficial line by hearing it one is immediately pacified is better than a thousand verses with words without sense (Dharmapada (101).

5)      Tụng đến trăm câu kệ vô nghĩa, chẳng bằng một pháp cú, nghe xong tâm liền thanh tịnh—One single word of the Dharma by hearing it one is immediately pacified, is better than a hundred stanzas, comprising senseless words (Dharmapada 102).

Tụng Kinh Cầu An: To recite the Buddhist sutra for peace and security.

Tụng Kinh Cầu Quốc Thái Dân An: Recitation for the welfare of the nation and the security of the people.

Tụng Kinh Đầu Năm: New Year Mantra Recitation.

Tụng Kinh Hoa Nghiêm: Avatamsaka Sutra Recitation.

Tụng Kinh Quan Thế Âm: Kuan Shi Yin Sutra Recitation.

Tụng Niệm: To pray and to meditate.  

Tụng Tŕ: Assiduously recite.

Tuổi: Age—Years of age.

Tuổi Già: The decline of life—Old age.

Tuổi Già Cứ Chạy Theo Thời Gian: Old age comes swiftly with the passage of months and years.

Tuổi Già Sức Yếu: Old age and declining strength.

Tuổi Hạc: Very old.

Tuổi Thanh Xuân: Youth.

Tuổi Thơ: Childhood.

Tuổi Trẻ: Youth.

Tuổi Xanh: Tender youth.

Tuy: Though—In spite of—Although.

Tuy Hai Mà Một: Although two, they are really one.

Tuy Nhiên: However.

Tuy Thế: Nevertheless.

Túy:

1)      Thuần Túy: Pure.

2)      Say Rượu: Drunk—Intoxicated.

Túy Tượng: Con voi điên, giống như những kẻ xấu ác khó hàng phục—A  mad elephant, like evil hard to subdue. 

Tùy:

1)      Tùy thuộc: To depend on.

2)      Tùy tùng: To follow.

3)      Tùy với: To comply with.

4)      Tùy theo: According to.

Tùy Căn Cơ: According to the capacity or capability—Pháp Phật thuyết giảng tùy căn cơ tŕnh độ của từng người—The teaching of the Buddha according with the capacity of everyone.

Tùy Cầu: Tùy theo sự cầu nguyện của chúng sanh—According to prayer.

Tùy Cầu Bồ Tát: Bồ tát Quán Âm Tầm Thanh Cứu Khổ—Bodhisattva (Kuan-Yin) who sees that all prayers are answered.

Tùy Cầu Thiên Tử: Tùy Cầu Tức Đắc Thiên Tử—Tên của một vị Ác Tăng chết đi tuy bị đọa vào địa ngục, nhưng trước khi chết hối hận và cầu nguyện, nên được sanh lên cơi trời với tên là “Tùy Cầu Đắc Thiên Tử”—Name of a deva who was formerly a wicked monk who died and went to hell, but when dying repented, prayed and was reborn the deva.

Tùy Chuyển Lư Môn: Tùy theo căn cơ của người nghe mà thuyết phương tiện (chưa được chư Phật và chư Bồ Tát thuyết giảng), đối lại với Chân Thực Lư Môn tùy theo bản ư của chư Phật và chư Bồ Tát mà làm sáng tỏ thực nghĩa—The sect or teaching of adaptable philosophies not revealed by the Buddhas and Bodhisattvas, in contrast with the truth as revealed by them.

Tùy Cơ: Tùy theo cơ hội hay căn cơ, như giáo thuyết của Đức Phật thích hợp với căn cơ của mọi người—According to opportunity, capacity, or capability, i.e. the teaching of the Buddha according with the capacity of everyone.

Tùy Cơ Ứng Biến: To accommodate (adapt) oneself to circumstances.

Tùy Duyên: Chịu theo cái duyên mà sự vật bên ngoài kéo tới gây ra cảm xúc cho tự thể, như sóng là hệ quả của gió (nước nhờ duyên gió thổi mà sinh ra sóng)—According with conditioning cause, or resulting from conditioning cause, or circumstances as waves result from wind.

Tùy Duyên Bất Biến: Bất biến trong những hành động tùy duyên, như thể của chân như là bất biến, nhưng khi tiếp xúc với cái duyên th́ nẩy sinh ra vô số sự vật khác nhau—Ever changing in conditions yet immutable in essence—Adapting to conditions fundamtentally unchanging.

Tùy Duyên Chân Như: Chân như là bản thể của vạn vật, là chân thực, như thường, bất biến, bất động, lại là chỗ dựa cho các sự tướng của nhân duyên (chân như là thể, vạn vật là tướng; thể và tướng nương nhau, không bao giờ xa ĺa nhau), như nước và sóng (nước bất biến, nương theo gió ngoại duyên, mà tạo thành hàng hàng lớp lớp sóng)—The bhutatathata in the relative or phenomenal conditions—The absolute in its phenomenal relativity; and considered as immutable, the bhutatathata, which is likened to the water as opposed to the waves.

Tùy Duyên Hóa Vật: Chuyển hóa chúng sanh tùy theo điều kiện hay hoàn cảnh của họ—To convert or transform people according to their conditions, or to circumstances in general.

Tùy H́nh Hảo: Hảo Tướng—Thân Phật có đủ tướng hảo của bậc đại nhân, từng tướng lại có một số vẻ đẹp biểu lộ tùy theo h́nh dung của mỗi tướng—Excellent in every detail; the individual excellences of others united in the Buddha.

** For more information, please see Tam Thập

     Nhị Hảo Tướng Phật.

Tùy Hỷ: Vui theo điều thiện. Vui theo cái vui của người (thấy người làm việc thiện, ḷng ḿnh hoan hỷ vui sướng theo)—To rejoyce in all good—To rejoice in the welfare of others, or to do that which one enjoys, or to follow one’s inclination.  

Tùy Hỷ Công Đức: Rejoice at others’ merits and virtues—Đây là hạnh nguyện thứ năm trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Tùy hỷ công đức  là phát tâm chứng nhất thiết trí mà siêng tu cội phước, chẳng tiếc thân mạng, làm tất cả những hạnh khó làm, đầy đủ các môn Ba La Mật, chứng nhập các trú địa của Bồ Tát, đến trọn quả vô thượng Bồ đề, vân vân bao nhiêu căn lành ấy, dù nhỏ dù lớn, chúng ta đều tùy hỷ—This is the fifth of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. Rejoice at others’ merits and virtues means from the time of our initial resolve for all wisdom, we should diligently cultivate accumulation of blessings without regard for their bodies and lives, cultivate all the difficult ascetic practices and perfect the gates of various paramitas, enter bodhisattva grounds of wisdom and accomplish the unsurpassed Bodhi of all Buddhas. We should completely follow along with and rejoice in all of their good roots (big as well as small merits).    

Tùy Khả Năng: According to one’s capability.

Tùy Kinh Luật: Hành động đúng theo luật được diễn tả trong Luật Tạng—According to the discipline as described in the sutras, i.e. the various regulations for conduct in the Sutra-pitaka; according to the wisdom and insight as described in the Vinaya-pitaka.

Tùy Loại: Tùy theo chủng loại. Đức Phật và Bồ Tát tùy theo chủng loại chúng sanh mà thị hiện thuyết giáo khác nhau—According to class or type. Buddhas and Bodhisattvas reveal themselves in varying forms according to the need or nature of the beings whom they desire to save.

Tùy Loại Sanh: Chư Phật và chư Bồ Tát sanh vào điều kiện của những người mà họ muốn cứu độ—Buddhas and Bodhisattvas are born into the conditions of those they seek to save.

Tùy Loại Ứng Đồng: See Tùy Loại. 

Tùy Miên:

1)      Buồn ngủ: Ngầy ngật—Yielding to sleep, sleepiness, drowsiness, comatose, one of the klesa, or temptations.

2)      Theo tông nghĩa của Hữu Bộ Tiểu Thừa, “Tùy Miên” là một tên khác của phiền năo: Used by the Sarvastivadins as an equivalent for klesa, the passions and delusions.

3)      Theo tông nghĩa của phái Duy Thức Đại Thừa, đây là tên gọi chung cho chủng tử của “Phiền Năo Chướng” và “Sở Tri Chướng” (tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến): Used by the school of consciousness as the seed of klesa (greed, hatred, ignorance, pride, doubt, wrong views).

Tùy Nghi: Tùy theo mục đích yêu cầu—For whatever purpose it may serve—As suitable, proper, or needed.

Tùy Nghĩa: Tùy theo ư nghĩa—According to intention, to meaning, or to the right.

Tùy Ngôn Thủ Nghĩa: Yatharutarthabhinivishta (skt)—Chấp vào văn tự mà cho rằng văn tự hoàn toàn phù hợp với ư nghĩa—To cling to the letter as fully in accordance with the sense.

Tùy Phái: Messenger.

Tùy Pháp Hành: Những người lợi căn tu hành bằng cách nghiền ngẫm và thực tập giáo lư, đối lại với hạng độn căn chỉ biết tin vào người khác—The religious life which is evolved from practicing the teaching of others—Those who follow the truth by reason of intellectual ability, in contrast with the non-intellectual, who put their trust in others.

** For more information, please see Tùy Tín

     Hạnh.

Tùy Phần: Tùy theo hạn phận của sức lực mà hoàn thành công việc đă được giao phó—According to the part assigned or expected; according to lot or duty.

Tùy Phần Giác: Giác ngộ từng phần, một trong “tứ giác” được nói đến trong Khởi Tín Luận—Partial enlightenment, the third of the four intelligences or apprehensions of the Awakening of Faith.

** For more information, please see Tứ Giác.

Tùy Phiền Năo: Tùy Hoặc—Phiền năo khởi lên bởi phiền năo căn bản, đối lại với phiền năo căn bản khởi lên từ lục căn—Sequent, or associated klesa-trials, or evils, either all of them as always dogging the foot-steps—Consequent afflictions resulting or arising from the fundamental afflictions, in contrast with afflictions arising from the six senses.

** For more information, please see Nhị Phiền

     Năo.

Tùy Pḥng: Tùy theo nơi hay bất cứ nơi nào—According to place; suitable to the place; in whatever place; wherever.

Tùy Pḥng Tỳ Ni: Vinaya (skt)—Những luật nghi thích hợp với điều kiện địa phương, hay luật lệ thích hợp cho mọi nơi—Rules which are suitable to local conditions; or to conditions everywhere.

Tùy Sắc Ma Ni: Một loại ngọc mani không có màu sắc riêng, nó tùy theo màu sắc của vật soi vào nó mà hiện sắc tướng của ḿnh—A  precious stone that takes on the colour of its surroundings.

Tùy Sức: According to one’s force.

Tùy Tâm: According to mind or wish.

Tùy Tâm Chúng Sanh Mà Hiện Thân Cứu Độ: To appear in the world to save sentient beings in any physical form (any form they wish).

Tùy Theo: According to.

Tùy Thời: According to the situation (circumstances).

Tùy Thuận:

1)      Tin và thực tập theo giáo thuyết của Đức Phật: To believe and follow the teaching of the Buddha.

2)      Tùy thuận theo ai: To accord with someone—To follow someone—To obey.

Tùy Thuộc: To depend (rely) on.

Tùy Tín Hành: Những người độn căn tu hành bằng cách tin vào giáo lư, đối lại với những người lợi căn tu hành bằng cách thực tập giáo lư—The religious life which is evolved from faith on the teaching of others. It is that of the unintellectual type, in contrast with those whose intelligence is sharp, their religious life is evolved from practice on the teaching of others. 

Tùy T́nh: Nhượng bộ hay tùy theo sự ước nguyện của người khác--Yielding to other people’s wishes.

Tùy Tục Thuyết: Samvritya-desana (skt)—Giáo lư tương đối—Relative teaching.

Tùy Tùng: To accompany—To follow.

Tùy Tự: Tùy theo bản nguyện của chính ḿnh—At one’s own will--Voluntary

Tùy Tự Ư Ngữ: Tùy theo ư nghĩ của ḿnh mà thuyết giảng (có ba loại: tùy theo ư ḿnh, tùy theo ư người, tùy theo ư của ḿnh và người)—Voluntary addresses, or remarks volunteered by the Buddha.

Tùy Tướng: Tiểu tướng sanh, trụ, dị, diệt của vạn hữu—The secondary state, i.e. birth, stay, change, and death, in all phenomena.

Tùy Tướng Giới: Tùy thuận theo h́nh tướng và tuân theo giáo pháp sống tu của Phật, như nhuộm áo cạo tóc để trở thành một Tăng Sĩ—To follow the forms and discipline of the Buddha, i.e. become a monk.

Tùy Viên: Attaché.

Tùy Xá Lợi: Vaisali (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong trung Anh Phật Học Từ Điển, dân tộc Tùy Xá Lợi là dân tộc của một nước cộng ḥa cổ Vaisali, trong số những đệ tử Phật đầu tiên—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Licchavis were the people of the ancient republic of Vaisali who were among the earliest followers of sakyamuni.

Tùy Ưù:

1)      Theo ư ai: At will—Following one’s own wishes.

2)      Tên cũ của “An Cư Kiết Hạ”: The old name for summer retreat or Vassa.

Tuyên Án: To deliver (pronounce) a sentence.

Tuyên Bố: To announce publicly or officially—To proclaim.

Tuyên Dương:  To commend—To cite—To praise.

Tuyên Giám Đức Sơn: See Đức Sơn Tuyên Giám.

Tuyên Hóa: Hsuan-Hua (1918-1995)—Một Pháp Sư Trung Hoa nổi tiếng tại Mỹ, ông là viện chủ Thiền Viện Kim Sơn tại California, chủ tịch hội Phật Giáo Á Mỹ. Năm 19 tuổi, khi mẹ ông qua đời, ông xuất gia và thọ giới Sa Di. Sau Thế Chiến thứ hai, ông du hành đến Nam Hoa tự viện thuộc tỉnh Quảng Đông để thăm viến Ḥa Thượng Hư Vân. Trong chuyến du hành nầy ông đă thọ cụ túc giới tại núi Phổ Đà. Vào năm 1962, ông đến định cư tại Mỹ. Mùa hè năm 1968, ông thuyết giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm cho chúng hội trong 96 ngày. Ông cũng giảng những kinh khác như kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Hoa Nghiêm, Tứ Thập Nhị Chương, vân vân. Ông cũng xây dựng ngôi Vạn Phật Thánh Thành tại Cựu Kim Sơn trước khi ông thị tịch vào năm 1995—Hsuan-Hua (1918-1995), a famous Chinese Dharma Master, Abbot of Gold Mountain Dhyana Monastery in California and Chairman of Sino-American Buddhist Association. At age 19 after his mother died, he took Sramanera ordination. After World War II, he traveled to Nan-Hua monastery in Canton province to visit Most Venerable Hsu-Yun. He received Bhikshu ordination at Mount P’u-T’o during this journey. He settled in the United States in 1962. In summer 1968, he conducted a Surangama Sutra Assembly lasting 96 days. He also delivered lectures on other sutras as the Lotus Sutra, the Diamond Sutra, the Hua-Yen Sutra, the Sutra of the Forty-Two Sections, etc. He established the City of Ten Thousand Buddhas Monastery before he passed away in 1995.     

Tuyên Huấn: Information and training.

Tuyên Linh: Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong ấp Tân Quới Đông B, xă Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1861 với tên Tiên Linh Tự. Năm 1907, Ḥa Thượng Như Trí (tục danh Lê Khánh Ḥa) về trụ tŕ và đổi tên chùa thành Tuyên Linh Tự vào năm 1924. Ḥa Thượng Như Trí là người đầu tiên chủ xướng “Phong Trào Chấn Hưng Phật Giáo” từ thập niên 1920, ngài cho xuất bản tạp chí Pháp Âm, lập các trường Phật học để đào tạo Tăng Ni, trong đó chùa Tuyên Linh ra đời trước nhất. Trong chùa có hai tấm bảng gỗ khắc tên bằng chữ Hán những thí chủ đă cúng đất và địa đồ lập chùa trong đợt trùng tu do Tổ Khánh Ḥa tổ chức năm 1941—Name of a famous ancient pagoda located in Tân Quới Đông B hamlet, Minh Đức village, Mỏ cày district, Bến Tre province, South Vietnam. The pagoda was built in 1861 with the name of Tiên Linh Tự. In 1907, Head of the pagoda, Most Venerable Như Trí (his worldly name was Lê Khánh Ḥa) renamed it Tuyên Linh Tự. He was the founder of the “Movement of Improving Buddhism” in the 1920s. He also had Pháp Âm Magazine published and established the Buddhist schools for Monks and Nuns’ Training of which the Buddhist School of Tuyên Linh Pagoda was first opened. There are two wooden boards on which one can read the name of the Buddhist laymen written in Chinese characters. These contributors donated lands and maps on the occasion of rebuilding the pagoda organized by Patriarch Khánh Ḥa in 1941.

Tuyên Lưu: Hoằng hóa giáo pháp—To spread abroad—Widespread.

Tuyên Ngôn: To proclaim—To declare.

Tuyên Phán: To pronounce (pass—deliver) a sentence.

Tuyên Thệ: To be sworn in before someone—To take an oath.

Tuyên Thuyết: Diễn thuyết giáo pháp—To preach all over the place.

Tuyến:

1)      Đường: Line.

2)      Sợi chỉ: A thread.

3)      Sợi dây: A wire.

Tuyến Hương: Ốp nhang, loại cháy chậm và lâu tàn—Thread or string incense, slow-burning and prolonged.

Tuyền:

1)      Con suối: Spring.

2)      Quay tṛn: To revolve—To turn around—To whirl.

Tuyền Đài: Hell—Hades.

Tuyền Hỏa Luân: Ṿng lửa xoay tṛn, ám chỉ sự không thật của vạn hữu—A whirling wheel of fire, a circle yet not a circle, a simile of the seeming but unreal, i.e. the unreality of phenomena.

Tuyền Lâm: Spring and forest.

Tuyển: Tuyển chọn—To select—To choose.

Tuyển  Đức: To choose a virtuous man.

Tuyển Hữu: Visvamitra or Kausila (skt)—Tên vị Bà La Môn mà thái tử Tất Đạt Đa dă học chữ hồi c̣n nhỏ—Name of Siddhartha’s schoolmaster.

Tuyển Lựa: See Tuyển.

Tuyển Trạch: See Tuyển.

Tuyết: Snow.

Tuyết Đậu Thiền Sư: Zen master Xue-T’ou—See Trùng Hiển Tuyết Đậu Thiền Sư.

Tuyết Phong Thiền Sư: Zen Master Xue-Feng Yi-Cun—See Nghĩa Tồn Tuyết Phong Thiền Sư.

Tuyết Sơn: Ngọn Hy Mă Lạp Sơn, nằm về phía bắc Ấn Độ—The snow mountains, the Himalayas, northern India.

Tuyết Sơn Bộ: Haimavatah (skt)—Trường phái Tuyết Sơn, một trong năm phân chi của Đại Chúng Bộ. Qua tên gọi chúng ta có thể biết bộ phái nầy ban đầu hoạt động tại vùng Tuyết Sơn. Trong cuốn sách nói về mười tám bộ phái, Vasumitra đă gọi Tuyết Sơn Bộ là thừa kế của Thượng Tọa Bộ, nhưng một số học giả khác th́ lại cho rằng phái nầy là một nhánh của Đại Chúng Bộ. Cũng giống như Nhất Thiết Hữu Bộ, phái nầy cho rằng Bồ Tát không có địa vị ǵ cao trọng đặc biệt, nhưng khác với Hữu Bộ ở chỗ họ cho rằng chư Thiên và quỷ thần không thể có cuộc sống phạm hạnh (brahmacharya), và những người ngoại đạo không thể có được quyền lực siêu nhiên—The Himalaya School, one of the five divisions of the Mahasanghikah. The very name suggests that the Haimavatah school was originally located in the Himalayan regions. Vasumitra, in his book on the Eighteen Sects, calls the Haimavatas the inheritors of the Sthaviravadins, but other scholars consider this school as a branch of the Mahasanghikas. Like the Sarvasivadins, the Haimavatas believed that the Bodhisattvas had no special eminence, but unlike them, they said that the gods could not live the holy life of brahmacharya and that heretics could not have miraculous powers—See Mahasamghika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Tuyết Sơn Đại Sĩ: See Tuyết Sơn Đồng Tử.

Tuyết Sơn Đồng Tử: C̣n gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ. Theo Kinh Bản Sanh, đây là vị Đại Sĩ trẻ tuổi trên núi Tuyết, tiền thân của Đức Phật Thích Ca—According to the Sutra of the former lives of the Buddha, this is the great man, or youth of the Himalayas, the Buddha in a former incarnation.

Tuyết Sơn Hạ: Himatala (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Tuyết Sơn Hạ là một vương quốc cổ được một người thuộc ḍng dơi Thích Ca cai trị vào khoảng năm 43 sau Tây Lịch. Vùng nầy có lẽ nằm về phía nam Kundoot and Issar, phía bắc của Hindukush, nơi phát nguyên của sông Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is an ancient kingdom ruled in 43 A.D. by a descendant of the Sakya family. Probably the region south of Kundoot and Issar, north of Hindukush near the principal source of the Oxus. 

Tuyết Sương: Snow and dew.

Tuyệt:

1)      Cắt đứt: Chấm dứt—To cut off—To terminate—To end—To sunder.

2)      Tuyệt đối: Không c̣n so sánh được nữa—Superlatively.

Tuyệt Cảnh: Very lovely landscape.

Tuyệt Chủng: Extinct race.

Tuyệt Diệt: To annihilate—To exterminate.

Tuyệt Diệu: Admirable—Supreme excellent.

Tuyệt Duyên: Non-conducting—Non-conductive.

Tuyệt Đăi: Siêu việt, không thể đối đăi được nữa—Final—Supreme—Special.

Tuyệt Đăi Chân Như: Chân như là siêu việt tuyệt đối, ĺa mọi giới hạn của hiện tượng—Bhutatathata as absolute, apart from all phenomena and limiting terms; or as being, in contrast to the bhutatathata as becoming.

Tuyệt Đại: Superlatively great.

Tuyệt Đẳng: Beyond compare.

Tuyệt Đẹp: Extremely beautiful.

Tuyệt Đích: Beyond compare—Absolute—Perfect.

Tuyệt Đỉnh: The highest point.

Tuyệt Đối: Vượt ra ngoài sự so sánh—Absolute—Absolutely—Beyond compare—Supreme—Special—Outstanding—Tuyệt đối là thực tại của những hiện tượng. Tuyệt đối luôn luôn có bản chất đồng nhất. Niết bàn hoặc thực tại tuyệt đối không phải là thứ ǵ được tạo sanh hoặc thành tựu. Theo triết học Trung Quán, Nguyệt Xứng cho rằng với các bậc Thánh giả th́ Tuyệt Đối chỉ là sự im lặng, v́ nó là cái ǵ bất khả thuyết hay bất khả diễn đạt bằng lời. Có rất nhiều chữ để mô tă về Tuyệt Đối—The Absolute is the Reality of the appearances. The Absolute is always of uniform nature. Nirvana or the Absolute Reality is not something produced or achieved.  According to the Madhyamaka philosophy, Candrakirti, to the saints, the Absolute is just silence, for it is inexpressible by speech. There are many words used for the Absolute:

·        Chân Như: Tathata (skt)—Như thị—Suchness.

·        Không tánh: Sunyata (skt)—Emptiness—Void.

·        Niết Bàn: Nibbana (p)—Nirvana (skt)—Nirvana.

·        Bất nhị: Adraya (skt)—Non-dual.

·        Bất sanh: Anutpanna (skt)—Unproduced.

·        Cơi vô phân biệt: Nirvikalpa (skt)—The realm of non-discrimination.

·        Bản thể của pháp: Dharmadhatu or Dhamrata (skt)—Bản chất của vật tồn hữu—The true nature of dharma or the essence of being.

·        Bất khả diễn đạt: Anabhilapya (skt)—The inexpressible.

·        Đích thực như nó đang là: Tattva (skt)—Thatness.

·        Không thể diễn tả bằng ngôn từ hay hư luận: Nisprapanca (skt)—Free of verbalization and plurality.

·        Như thực: Yathabhuta (skt)—Cái thực sự đang là—That which really is.

·        Chân đế: Bhutata or Bhutatathata (skt)—The true reality.

·        Chân lư: Satya (skt)—Truth.

·        Như Lai Tạng: Tathagata-garbha (skt)—The womb of Tathagatas.

·        Thực tại mà ta phải tự thể nghiệm trong nội tâm: Aparapratyaya (skt)—Reality which one must realize within oneself.

Tuyệt Giao: To cut off all relations with.

Tuyệt Hảo: Excellent—Perfect---Very good—Extremely good.

Tuyệt Không: Not at all—By no means.

Tuyệt Học: Ngừng học, vượt ra ngoài chuyện học—To cease study—Beyond the need of study.

Tuyệt Không: Not at all—By no means.

Tuyệt Lộ: To encounter cul-de-sac.

Tuyệt Luân: Excellent—Unequalled.

Tuyệt Mạng: To die.

Tuyệt Mục: As far as the eyes can see.

Tuyệt Mỹ: Excellent.

Tuyệt Nhiên: Never.

Tuyệt Sắc: Peerless beauty.

Tuyệt Tác: Masterpiece.

Tuyệt Tài: Unequalled talent.

Tuyệt Thực: Ngưng không ăn—To cut off food—To cease to eat.

Tuyệt T́nh: To break off friendship or love  relationship with someone.

Tuyệt Tộc: Extinct family.

Tuyệt Trần: To surpass everybody.

Tuyệt Tự: Heirless.

Tuyệt Vọng: Hopeless—Desperate—In despair—To look in the dark side of things.

Tuyệt Vô Âm Tín: Without news.

Tuyệt Vời: See Tuyệt Trần.

Tuyệt Xảo: Very skilful.

 

 

 

 

 

:

1)      Bốn: Four.

2)      Chú tâm vào: To turn the attention to.

3)      Đầu tư: To invest capital.

4)      Riêng tư: Private—Secret—Selfish.

5)      Tâm sở pháp: Mental action or contents, mentality, intellection.

6)      Thứ tư: Fourth.

7)      Tiền vốn: Funds

8)      Tư duy: Sankhara (p)—Tên của tâm sở pháp (đem cái tác dụng khiến tâm tạo tác mà đặt tên)—Thought—To think.

Tư Ấn: Ấn riêng của nhà sư, có h́nh giống như sọ người để nhắc nhở về sự ngắn ngủi của cuộc sống—A monk’s private seal, which should resemble a skull as reminder of the brevity of life.

Tư Bản: Capital.

Tư Cách: Aptitude—Manner.

Tư Cách Của Bậc Chơn Tu: The personality of the true cultivator.

Tư Chất: Natural qualities.

Tư Dục: Evil desires.

Tư Duy: To think—Thought—To reflect—To consider or reflect on an object with discrimination—See Thiền.

Tư Duy Nhị Nguyên: Dualistic thoughts.

Tư Duy Tu: Thực tập tư duy—The cultivation of ponderance.

Tư Duyên: Những ngoại duyên vật chất cần thiết cho một vị Tăng như y áo, thực phẩm, và pḥng ốc—The material necessaries of a monk, clothing, food, and shelter.

Tư Đà Hàm: Sakrdagamin (skt)—See Tứ Thánh Quả (2).

Tư Đà Hàm Quả: Sakrdagamiphala (skt)—T́nh trạng c̣n quay trở lại một lần nữa—The state of coming back once more—See Tứ Thánh Quả (2).

Tư Giả: Thể của tư hoặc là hư vọng vô thực nên gọi là tư giả—Thought or its content as illusion.

Tư Hoặc (Tu Hoặc): Tư tưởng khởi dậy qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài hay những thói quen như tham, sân, si, vân vân—The illusion of thought—Thoughts arising through contact with the world or by habits such as desires, anger, infatuation, etc.

** For more information, please see Tu Hoặc.

Tư Huệ: Trí huệ đạt được do công phu tu tập thiền định và giáo lư nhà Phật—The wisdom attained by meditating on the principles and doctrines of Buddhism.

Tư Hữu: Private property.

Tư Ích: Private interest.

Tư Kiến: Personal opinion.

Tư Kỷ: Always thinking of self—Selfish.

Tư Lợi: Self-interest—Personal interests.

Tư Lự: Manyati (skt)—To reflect—To worry.

Tư Lương: Sambhara (skt).

(I)     Nghĩa của “tư lương”—The meanings of Sambhara:

1)      Chất liệu chuẩn bị: Preparatory material.

2)      Muốn thực phẩm: To desire food.

3)      Thiền định được xem như món ăn tinh thần cho tâm linh—Thought-food, or mental food, meditation as a kind of mental food.

4)      Thực phẩm cho thân và tâm như đồ ăn, bố thí và trí tuệ, vân vân: Supplies for body or soul, e.g. food, almsgiving, wisdom, etc.

5)      Thực phẩm thuộc tinh thần: Moral provisions. 

(II)  Phân Loại “tư lương”—Categories of Sambhara:

(A)   Nhị Chủng Tư Lương: Two kinds of spiritual provender—See Nhị Chủng Tư Lương.

Tư Lượng: Suy tư và lư luận hay so sánh—Thinking and measuring, or reasoning, comparing.

Tư Lượng Năng Biến Thức: Mana (skt)—Mạt Na Thức hay thức thứ bảy trong bát thức—The seventh vijnana, intellection, reasoning.

** For more information, please see Mạt Na

     Thức.

Tư Lư Nha: Surya (skt).

1)      Mặt Trời: The sun.

2)      Thần mặt Trời: The sun-deva.

Tư Pháp: Justice.

Tư Quyền: Personal rights.

Tư Sinh: Những thứ cần thiết trong đời sống—Necessaries of life.

Tư Tài Trướng: Bản kê khai tài sản của tự viện—Schedule of property of a monastery.

Tư  Tâm: Selfishness—Egoism.

Tư Thế Tọa Thiền: Meditation posture—The posture having eight features of Buddha way of sitting:

1)      Thân thẳng: Lưng thẳng—Straight body—Straight Spine—Straight back—The body should be perpendicular with the floor.

2)      Chân bắt tréo hoặc chân nầy chồng lên chân kia: The legs should be crossed or one over the other.

3)      Bàn tay này nằm trên bàn tay kia,  ḷng bàn tay ngữa lên, hai ngón cái chạm nhau, cả hai bàn tay đặc sát vào bụng với hai ngón cái ngang rún: One hand on top of the other, both palms upwards, the two thumbs should be touching and the hands placed close to  the belly with the thumbs at the level of the navel.

4)      Đầu hơi ngă về trước tránh bị khích động tâm thần: The head should be slightly inclined downwards to prevent mental excitement.

5)      Vai buông lơi nhưng thẳng một cách tự nhiên: Shoulders should be relaxed but straight, level and balanced.

6)      Răng và môi khép lại một cách tự nhiên: The teeth and lips should be closed naturally. Not to open nor too tight closed.

7)      Lưỡi chạm vào bên trong thành răng trên: The tongue should touch the upper teeth which helps prevent dry mouth.

8)      Mắt nửa nhắm nửa mở tránh sư lôi cuốn bên ngoài hay sự buồn ngũ bên trong: The eyes should be half-open (neither wide open nor completely closed) to prevent distractions and or sleepiness.  

Tư Thông: To commit adultery.

Tư T́nh:

1)      Personal relationship.

2)      To commit adultery.

Tư Trạch Lực: Khả năng suy nghĩ lựa chọn những nguyên tắc đúng đắn—Power in thought and selection of correct principles.

Tư Trang: Jewelry and money which a woman bring to the husband’s family at marriage.

Tư Tưởng:

(A)  Nghĩa của Tư Tưởng—The meanings of “Thoughts”—Thoughts—Ideas—Theo Kinh Satipatthana, Đức Phật đă tŕnh bày sự tỉnh thức về con đường giác ngộ. Nơi đây đối tượng tinh thần được chú tâm thẩm tra và quan sát khi chúng phát sinh trong tâm. Nhiệm vụ ở đây là tỉnh thức về những tư tưởng sinh diệt trong tâm. Bạn sẽ từ từ hiểu rơ bản chất của những tư tưởng. Bạn phải biết cách làm sao sử dụng những tư tưởng thiện và tránh cái nguy hiểm của những tư tưởng có hại. Muốn thanh tịnh tâm th́ tư tưởng của bạn lúc nào cũng cần được kiểm soát—In the Satipatthana Sutra, the Buddha explained His Way of Enlightenment. Here, mental objects are mindfully examined and observed as they arise within. The task here is to be aware of the thoughts that arise and pass away within the mind. You must slowly understand the nature of thoughts. You must know how to make use of the good thoughts and avoid the danger of the harmful thoughts. Your thoughts need constant watching if the mind is to be purified.

(B)  Phương Cách tỉnh thức về những Tư Tưởng—Methods of mindfulness of thoughts and mental states—Tỉnh Thức về những Tư Tưởng—Mindfulness of Thoughts.

·        Ngồi một ḿnh tập trung tâm vào những tư tưởng—To sit alone and concentrate the mind on the thoughts.

·        Quan sát những tư tưởng thiện và ảnh hưởng tinh thần của chúng: To watch the good thoughts and observe how they affect your mental state.

·        Quan sát những tư tưởng có hại và thấy chúng làm tinh thần xáo trộn thế nào: To watch the harmful thoughts and observe how they disturb your mental state.

·        Đừng cố ư cưỡng lại những tư tưởng, v́ càng cưỡng lại bạn càng phải chạy theo: Do not try to fight with the thoughts, for the more you try to fight them, the more you have to run with them.

·        Hăy quan sát những tư tưởng một cách vô tư và tạo cơ hội để vượt qua chúng. Sự chuyển động vượt qua tư tưởng và kiến thức mang lại an lạc, ḥa hợp và hạnh phúc. Chỉ quan sát những tư tưởng, từ từ bạn sẽ hiểu được cách kiểm soát những tư tưởng tội lỗi và khuyến khích các tư tưởng thiện: Simply observe the thoughts dispassionately and so create the opportunity to go beyond them. The moving beyond all thoughts and knowledge bring peace, harmony, and happiness. Simply observe these thoughts, you will slowly come to understand how to control evil thoughts and to encourage good thoughts.

·        Trong sinh hoạt hằng ngày, cố gắng quan sát tiến tŕnh suy nghĩ của bạn. Chỉ quan sát chứ đừng đồng nhất với tiến tŕnh: In the course of your working day, try to observe your thinking process. Simply observe and do not identify with this process.

Tư Tưởng Ngưng Đọng (Tưởng Tịch): Active thought has been put to rest.

Tư Tưởng Phân Biệt: Discriminatory thought—Thinking of percepts or concepts as objective realities—Fixation on appearances while ignorant of essence.

Tư Tưởng Tán Loạn: Conceptual distractions.

Tư Tưởng Thanh Tịnh: Pure thoughts.

Tư Tưởng Triết Lư: Philosophical thought.

Tư Tưởng Từ Bi Với Chúng Sanh Mọi Loài: Thoughts of compassion to all beings.

Tư Tưởng Vô Hại: Harmless thoughts.

Tư Tưởng Xấu Xa: Những ư nghĩ xấu xa—Evil thoughts—Negative thoughts—Negative thoughts include

1)      Resentment: Oán hận.

2)      Greed: Tham lam.

3)      Jealousy: Ganh tỵ.

4)      Anger:  Sân giận.

5)      Wishing to harm others: Muốn hại người.

6)      Wrong views: Tà kiến.

7)      Slander: Phỉ báng.

8)      Lying: Nói dối.

9)      Arrogance: Cống cao ngă mạn.

10)  Stealing: Trộm cắp.

11)  Sexual misconduct: Tà dâm.

12)  Substance abuse: Hút, uống hay chích những chất cay độc.

13)  Double-tongued: Nói lưỡi hai chiều.

14)  Harsh speech: Nói lời độc ác.

15)  Bad attitudes: Thái độ xấu ác.

16)  Wrong discernments: Phân biệt sai lầm.

17)  Faithlessness: Không có niềm tin. 

18)  Ignorance: Si mê.

19)  Thought of killing: Tư tưởng sát sanh.

20)  Causing trouble: Gây rối, etc. 

Tư Vấn: To consult—To advise.

Tứ:

1)      Bốn: Catur (skt)—Four.

2)      Tên của tâm sở (quán): Vicara (p & skt).

·        Ḍ xét: Investigation.

·        Cân nhắc: Deliberation.

·        Quan sát: xamination.

·        Suy xét: Consideration.

·        Tầm chân lư: Search for truth.

·        Tư duy biện luận: Discursive thinking. 

Tứ A Hàm: Bốn bộ kinh A Hàm—The Four Agamas or four divisions of the Hinayana scriptures:

1)      Trường A Hàm: Dirghagamas (skt)—22 quyển, tập hợp những kinh văn dài—Long work scriptures—Cosmological, 22 books.

2)      Trung A Hàm: Madhyamagamas (skt)—60 quyển, tập hợp kinh văn không dài không ngắn—Middle Work—Metaphysical, 60 books.

3)      Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—50 quyển, hổn hợp của các kinh A  Hàm khác—General on dhyana, trance, etc, 50 books.

4)      Tăng Nhứt A Hàm: Ekottarikagamas (skt)—51 quyển, sưu tập số của pháp môn—Numerical Arranged Subjects, 51 books.

Tứ Ác: The four evil directions—See Tứ Ác Thú or Tứ Thú.

Tứ Ác Đạo: The four evil destinies—See Tứ Ác Thú.

Tứ Ác Thú: Apaya (skt)—The four evil destinies:

1)      Địc Ngục: Hells.

2)      Ngạ Quỷ: Hungry ghosts.

3)      Súc Sanh: Animals.

4)      A Tu La: Asuras (which is sometimes evil sometimes good). 

Tứ Ác Tỳ Kheo:

1)      Bốn vị Tỳ Kheo hung ác đă vứt bỏ giáo pháp của Phật Đại Trang Nghiêm sau khi Ngài nhập Niết Bàn—The four wicked Bhiksus who threw over the teaching of their Buddha, Ta-Chuang-Yen after his Nirvana.

2)      Bốn vị Tỳ Kheo không tuân giáo pháp, nhưng nhờ thanh tịnh lâu đời nên được sanh làm bốn vị Phật ở bốn hướng (A Sấm, Bảo Tướng, Vô Lượng Thọ, Vi Diệu Thanh)—Four disobedient bhiksus who through much purgation ultimately became the Buddhas of the four points of the compass.

Tứ Ách: Four yokes or fetters—See Tứ Ách Phược. 

Tứ Ách Phược: Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn Ách Phược—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavago (Searches), there are  four yokes or fetters:

1)      Dục Ách Phược: Tham dục—Yoke of Desire or sensuality.

2)      Hữu Ách Phược: Chấp hữu—Yoke of Possession or existence.

3)      Kiến Ách Phược: Tà kiến—Yoke of Unenlightened or non-Buddhist views or wrong views.

4)      Vô Minh Ách Phược: Si mê—Yoke of Ignorance.

Tứ Ái Khởi: See Tứ Ái Sanh.

Tứ Ái Sanh:

(A)  Bốn nguồn phát khởi sự tham ái—Four sources of affection:

1)      Ăn: Cho hay nhận thức ăn—The giving or receiving of Food.

2)      Mặc: Cho hay nhận quần áo—The giving or receiving of Clothing.

3)      Ở: Cho hay nhận chỗ ở—The giving or receiving of bedding.

4)      Quà: Cho hay nhận quà—The giving or receiving of gifts.

(B)  Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có bốn ái sanh—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four arousals of craving:

1)      Do nhơn y phục mà vị Tỳ Kheo khởi lên ḷng tham ái: Craving arises in a monk because of robes.

2)      Do nhơn đồ ăn khất thực mà vị Tỳ Kheo khởi lên ḷng tham ái: Craving arises in a monk because of alms.

3)      Do nhơn pḥng xá mà vị Tỳ Kheo khởi lên ḷng tham ái: Craving arises in a monk because of lodging.

4)      Do nhơn hữu và phi hữu mà vị Tỳ Kheo khởi lên ḷng tham ái: Craving arises in a monk because of being and non-being.

Tứ An Lạc: The four means of happy contentment—See Tứ An Lạc Hành.

Tứ An Lạc Hành: Theo Kinh Pháp Hoa, có bốn an lạc hạnh hay bốn phương cách để đạt được hạnh phúc—According to The Lotus Sutra, there are four means of attaining to a happy contentment:

1)      Thân An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của thân—To attain a happy contentment by proper direction of the deeds of the body.

2)      Khẩu An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của khẩu—To attain a happy contentment by the words of the mouth.

3)      Ư An Lạc Hành: An lạc bằng những thiện nghiệp của ư—To attain a happy contentment by the thoughts of the mind.

4)      Thệ Nguyện An Lạc Hành: An lạc bằng cách giảng dạy kinh pháp—To attain a happy contentment by the will to preach all sutras.

Tứ Ân: Bốn trọng ân—Four Great Debts:

1)      Ân Tam Bảo: Nhờ Phật mở đạo mà ta rơ thấu được Kinh, Luật, Luận và dễ bề tu học. Nhờ Pháp của Phật mà ta có thể tu tŕ giới định huệ và chứng ngộ. Nhờ chư Tăng tiếp nối hoằng đạo, soi sáng cái đạo lư chân thật của Đức Từ Phụ mà ta mới có cơ hội biết đến đạo lư—The debt to the Triple Jewel (Buddha, Dharma, Sangha).

2)      Ân cha mẹ Thầy tổ: Nhờ cha mẹ sanh ta ra và nuôi nấng dạy dỗ nên người; nhờ thầy tổ chỉ dạy giáo lư cho ta đi vào chánh đạo. Bổn phận ta chẳng những phải cung kính, phụng sự những bậc nầy, mà c̣n cố công tu hành cầu cho các vị ấy sớm được giải thoát—The debt to our parents and teachers.

3)      Ân thiện hữu tri thức: Nhờ thiện hữu tri thức mà ta có nơi nương tựa trên bước đường tu tập đầy chông gai khó khăn—The debt to our spiritual friends.

4)      Ân chúng sanh: Ta thọ ơn chúng sanh rất lớn. Không có người thợ mộc ta không có nhà để ở hay bàn ghế thường dùng; không có bác ông phu ta lấy gạo đâu mà ăn để sống; không có người thợ dệt, ta lấy quần áo đâu để che thân, vân vân. Ta phải luôn siêng năng làm việc và học đạo, mong cầu cho nhứt thiết chúng sanh đều được giải thoát—The debt we owe all sentient beings.

Tứ Ân Hiếu Nghĩa: See Phật Giáo Ḥa Hảo (A).

Tứ Ba: See Tứ Ba La Mật Bồ Tát.

Tứ Ba La Di: Tứ Trọng—Tứ Khí—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—See Tứ Đọa.

Tứ Ba La Mật: The four paramitas—See Thường Lạc Ngă Tịnh.

Tứ Ba La Mật Bồ Tát: Bốn vị nữ Bồ Tát thân cận của Đức Đại Nhật Như Lai ở Kim Cang Giới, đều do Đức Đại Nhật Như Lai lưu xuất, mỗi vị là mẹ năng sinh của các vị Phật ở bốn hướng—The four female attendants on Vairocana in the Vajradhatu, evolved from him, each of them a mother of one of the four Buddhas  of the four quarters.

1)      Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát: Vajra-Paramita Bodhisattva.

2)      Bảo Ba La Mật Bồ Tát: Ratna-Paramita Bodhisattva.

3)      Pháp Ba La Mật Bồ Tát: Dharma-Paramita Bodhisattva.

4)      Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát: Karma-Paramita Bodhisattva.

** For more information, please see Tứ Phật. 

Tứ Bách: Bốn trăm—Four hundred.

Tứ Bách Giới: Theo Kinh Dược Sư, Bồ Tát có 400 giới luật—Bốn trăm giới—The four hundred disciplinary laws of a Bodhisattva, referred to in the Medicine Buddha (Bhaishajya-Guru) Sutra.

Tứ Bách Tứ Bệnh: Theo Đại Trí Độ Luận, có bốn trăm lẽ bốn bệnh nơi thân—According to the Sastra on the Prajna Sutra, there are four hundred and four ailments of the body:

1)      Một trăm lẽ một bệnh sốt nóng gây ra bởi Địa Đại—One hundred one fevers caused by the Earth element.

2)      Một trăm lẽ một bệnh sốt nóng  gây ra bởi Hỏa Đại: One hundred one fevers caused by the Fire element.

3)      Một trăm lẽ một bệnh rét (lạnh) gây ra bởi Thủy Đại: One hundred one chills caused by the water element.

4)      Một trăm lẽ một bệnh rét (lạnh) gây ra bởi Phong Đại: One hundred one chills caused by the Wind element.

Tứ Bảo: Four treasures.

Tứ Bát: Bốn b́nh bát bằng đá rất nặng được bốn vị trời dâng hiến cho Phật Thích Ca và được ngài nhồi lại thành một một cách kỳ diệu và dùng như một b́nh bát thường—The four heavy stone begging-bowls offered to Sakyamuni by the four devas, which he miraculously combined into one as used as if ordinary material.

Tứ Bát Tướng: Ba mươi hai tướng tốt của Phật—The thirty-two marks of a Buddha—See Tam Thập Nhị Hảo Tướng của Phật and Dvatrimshadvara-Lakshana.

Tứ Bất Hành Xứ Hạnh: Agata-gamanani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn bất hành xứ hạnh (hành xử sai trái)—According to the Sangiti Sutta in he Long Discourses of the Buddha, there are four ways of going wrong:

1)      Tham dục bất hành xứ hạnh: Chanda (p)—One goes wrong through desire.

2)      Sân bất hành xứ hạnh: One goes wrong through hatred.

3)      Si bất hành xứ hạnh: One goes wrong through delusion.

4)      Bố úy bất hành xứ hạnh: One goes wrong through fear.

Tứ Bất Hoại Tín: Bốn đức tin không hư hoại—The four objects of unfailing faith:

1)      Tin Phật: Believe in Buddha.

2)      Tin Pháp: Believe in the Dharma.

3)      Tin Tăng Believe in the Sangha.

4)      Tin nơi Giới Luật Phật: Believe in Moral precepts.

Tứ Bất Hoại Tịnh: The four objects of unfailing purity—See Tứ Bất Hoại Tín.

Tứ Bất Khả Đắc: Bốn điều không thể đạt được—The four unattainables:

1)      Thường Thiếu Bất Khả Đắc: Trẻ măi không già—Perpetual youth.

2)      Vô bệnh Bất Khả Đắc: Không ốm đau bịnh hoạn—No sickness.

3)      Trường Thọ Bất Khả Đắc: Sống lâu—Perennial life.

4)      Bất Tử Bất Khả Đắc: Không chết—No death.

Tứ Bất Khả Khinh: Theo Kinh A Hàm, có bốn thứ chẳng thể khinh thường—According to the Agama Sutra, there are four things that may not be treated lightly:

1)      Thái tử tuy c̣n nhỏ, nhưng tương lai sẽ làm quốc vương, nên chẳng thể khinh thường: A prince though young now, but he may become a king in the future, so not to treat him lightly.

2)      Rắn tuy nhỏ, nhưng nọc độc có thể làm chết người, nên không thể khinh thường: A snake though small, but its venom can kill people, so not to treat it lightly.

3)      Tia lửa tuy nhỏ, nhưng có thể đốt cháy núi rừng đồng cỏ lớn, nên không thể khinh thường: A fire though tiny, but it may be able to destroy a big forest or meadow, so not to treat it lightly.

4)      Sa Di tuy nhỏ, nhưng có thể thành bậc Thánh, nên không thể khinh thường: A novice though a beginner, but he may become an arhat, so not to treat him lightly. 

Tứ Bất Khả Kư Phụ: Bốn thứ không c̣n được giao phó cho điều ǵ nữa cả—The four to whom one does not entrust valuables:

1)      Người Già: The old.

2)      Cái Chết Gần Kề: Death is near.

3)      Xa xôi: The distant, lest one has immediate need of them.

4)      Quỷ quái: The evil, or the strong; lest the temptation be too strong for the last two.

Tứ Bất Khả Tư Ngh́: Four inconceivables.

(A)  Trong Kinh Tăng Nhứt A Hàm, có bốn điều không thể nghĩ bàn nơi chư Phật—In the Ekottaragama, there are four indescribables—The four things of a Buddha which are beyond human conception:

1)      Thế giới bất khả tư ngh́: The world—The Buddha’s world is beyond human conception.

2)      Chúng sanh bất khả tư ngh́: The living beings—His teaching about living beings’ circumstances is  beyond human conception.

3)      Thiên long bất khả tư ngh́: Dragons or Nagas—His nagas are beyond human conception.

4)      Phật độ cảnh giới bất khả tư ngh́: The size of the Buddha-lands—The bound of his Buddha realm is beyond human conception. 

(B)  Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, ngài Quán Thế Âm Bồ Tát đă bạch với Đức Thế Tôn về bốn thứ bất tư ngh́: “Bạch Thế Tôn! Ngoài mười bốn thứ vô úy, tu chứng vô thượng đạo, lại có thể được bốn bất khả tư ngh́, vô tác diệu đức.”—In the Surangama Sutra, Avalokitesvara Bodhisattva reported to the Buddha about the four inconceivables: “World Honored One! Because I obtained perfect penetration and cultivated to certification of the unsurpassed path, I also became endowed with four inconceivable and and effortless wonderful virtues.”

1)      Một là do tôi trước được diệu văn tâm, tâm linh thoát bỏ văn căn, kiến văn giác tri không thể phân cách, thành một viên dung thanh tịnh bảo giác, cho nên tôi có thể hiện ra nhiều diệu dụng, có thể nói vô biên bí mật thần chú; trong đó hoặc hiện một cho đến tám vạn bốn ngàn đầu, tay, mắt, hoặc từ hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ để cứu hộ chúng sanh được tự tại: First, as soon as I obtained the miraculous wonder of hearing the mind, the mind became essential and the hearing was forgotten; therefore, there was no distinction  between seeing, hearing, sensation, and knowing. I achieved a single, perfect fusion, pure precious enlightenment. For this reason, I am able to manifest many wonderful appearances and can proclaim boundless secret spiritual mantras. For example, I may take appear one head, three heads, five heads, seven heads, nine heads, eleven heads, and so forth, until there may be a hundred and eight heads, a thousand heads, ten thousand heads, or eighty-four thousand vajra heads; two arms, four arms, six arms, eight arms, ten arms, twelve arms, fourteen, sixteen, eighteen arms, or twenty arms, twenty-four arms, and so forth until there may be a hundred and eight arms, a thousand arms, ten thousand arms, or eighty-four thousand mudra arms; two eyes, three eyes, four eyes, nine eyes, and so forth until there may be a hundred and eight eyes, a thousand eyes, ten thousand eyes, or eighty-four thousand pure and precious eyes, sometimes compassionate, sometimes awesome, sometimes in samadhi, sometimes displaying wisdom to rescue and protect living beings so that they may attain great self-mastery.

2)      Hai là bởi tôi tu tập văn tư, thoát khỏi sáu trần, như cái tiếng vượt qua tường, chẳng bị ngăn ngại, nên tôi thần diệu có thể hiện mỗi mỗi h́nh, tụng mỗi mỗi chú, h́nh và chú có thể lấy vô úy ban cho các chúng sanh. Cho nên mười phương quốc độ nhiều như bụi nhỏ đều gọi tên tôi là Thí Vô Úy: Second, because of hearing and consideration, I escape the six defiling objects, just as a sound leaps over a wall without hindrance. And so I have the wonderful ability to manifest shape after shape and to recite mantra upon mantra. These shapes and these mantras dispel the fears of living beings. Therefore, throughout the ten directions, in as many lands as  there are fine motes of dust, I am known as one who bestows fearlessness.

3)      Ba là bởi tôi tu tập bản diệu viên thông, thanh tịnh bản căn, nên đi chơi các thế giới, đều khiến chúng sanh bỏ trân bảo của ḿnh, cầu tôi thương xót: Third, because I cultivated fundamental, wonderful, perfect penetration and purified the sense-organ, everywhere I go in any world I can make it so that living beings  renounce their physical and material valuables and seek my sympathy.

4)      Bốn là tôi được Phật tâm, chứng quả hoàn toàn, có thể lấy các trân bảo đem cúng dường mười phương Như Lai, và giúp chúng sanh trong lục đạo, khắp pháp giới cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu sống lâu được sống lâu, như vậy cho đến cầu đại Niết Bàn được đại Niết Bàn: Fourth, I obtained the Buddhas’ mind and was certified  as having attained the ultimate end, and so I can make  offerings of rare treasures to the Thus Come Ones of the ten directions and to living beings in the six paths throughout the dharma realm. If they seek a spouse, they obtain a spouse. If they seek children, they can have children. Seeking samadhi, they obtain samadhi; seekin long life, they obtain long life, and so forth to the extent that if they seek the great Nirvana, they obtain great Nirvana.  

Tứ Bất Kiến: Bốn điều không thể thấy được—The four invisibles:

1)      Cá không thể thấy nước: water to fish.

2)      Người không thấy không khí hay gió: Air or wind to man.

3)      Kẻ mê muội mờ mịt không thể thấy được thực chất của vạn pháp: The nature of things to the deluded.

4)      Người giác ngộ không thể thấy được cái không v́ nhân tố của chính người ấy và tánh không đă vượt ra ngoài ư niệm: The void to the enlightened, because he is in his own element, and the void is beyond conception.

Tứ Bất Sinh: Four “not-born.”

1)      Bất Khả Tự Sinh: Pháp chẳng tự thân mà sanh ra—A thing is not born or not produced of itself.

2)      Bất Khả Tha Sinh: Pháp chẳng do tha nhân mà sanh ra—A thing is not produced of another or of a cause without itself.

3)      Bất Khả Bất Sinh: Bất Cộng Sanh—Pháp chẳng do cộng nhân tự tha mà sanh—A thing is not “not self-born” when it is time to produce the fruit of karma (of both 1 & 2).

4)      Bất Khả Bất Hạ Sinh: Pháp chẳng do vô nhân mà sanh ra, một khi nghiệp nhân đủ đầy là chồi đâm trái trổ—A thing is not “not born” when it is time to produce the fruit of karma (of no cause).  

Tứ Bất Thành: Bốn thứ bất thành trong ba mươi ba lỗi của nhân minh—Four forms of asiddha or incomplete statement, part of the thirty-three fallacies in logic.

Tứ Bất Thối: Theo Tịnh Độ Tông, có bốn thứ bất thối—According to the Pure-Land sect, there are four kinds of Non-backslidings:

1)      Từ (1) đến (3), xin xem Tam Bất Thối:  From (1) to (3), please see Tam Bất Thối.

4)  Không thối chuyển từ nơi thanh tịnh đă đạt được: Never receding from place or abode attained.

Tứ Bệnh: Bốn bệnh được nói đến trong Kinh Viên Giác—The four ailments, or mistaken ways of seeking perfection, mentioned in The Complete Enlightenment Sutra:

1)      Tác Bệnh: sanh tâm tạo tác (hay tu hành để cầu viên giác là tác bệnh v́ tánh viên giác chẳng phải do tạo tác mà được)—Works or effort (for the purpose to seek perfection is an ailment).

2)      Nhiệm Bệnh: Tùy duyên nhiệm tính (phó mặc cho sanh tử để cầu viên giác th́ gọi là nhiệm bệnh v́ viên giác chẳng phải do tùy duyên)—Laissez-faire.

3)      Chỉ Bệnh: Chỉ vọng tức chân (tịch niệm để cầu viên giác là chỉ bệnh, v́ viên giác chẳng phải do chỉ niệm mà được)—Cessation of all mental operation.

4)      Diệt Bệnh: Diệt phiền năo nơi thân tâm để cầu viên giác gọi là diệt bệnh, v́ tánh viên giác chẳng phải do tịch diệt mà được)—Anniilation of all desire.

Tứ Biên Tội: Bốn tội nặng mà khi phạm phải Tăng Ni sẽ vĩnh viễn bị khai trừ khỏi giáo đoàn (trở thành người ở bên ngoài Phật Pháp)—Four serious sins of expulsion from the order.

1)      Dâm Dục: Committing sexual intercourse.

2)      Sát Sanh: Killing.

3)      Trộm Cắp: Stealing.

4)      Vọng Ngữ: Lying.

Tứ Biện Tài Vô Ngại: See Tứ Vô Ngại in Vietnamese-English Section.

Tứ Binh: Catur-angabalakaya (skt)—The four divisions of a cakravarti’s troops:

1)      Tượng Binh: Hastikaya (skt)—Elephants.

2)      Kỵ Binh (Mă Binh): Asvakaya (skt)—Horses.

3)      Xa Binh (Thiết Giáp Binh): Rathakaya (skt)—Chariot.

4)      Bộ Binh: Pattikaya (skt)—Foot.

Tứ B́nh Đẳng: A fourfold sameness—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Ta nói trong chúng hội giáo lư thâm mật về bốn b́nh đẳng rằng xưa kia Ta đă từng là Đức Phật Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, hay Ca Diếp.” Bốn loại b́nh đẳng đối với những ai tu tập đời sống phạm hạnh—According to The Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “We talk of this in the assembly because of the secret teaching of fourfold sameness, that I was in ancient days the Buddha Krakucchanda, Kanakamuni, or Kasyapa.” Four sorts of sameness for those who disicpline themselves in religious life.

1)      Danh Tự B́nh Đẳng—B́nh đẳng về chữ nghĩa là danh hiệu Phật được nêu như nhau cho hết thảy chư Như Lai, không có sự phân biệt nào trong chư vị trong phạm vi của chữ PHẬT: By “sameness in letters” is meant that the title Budha is equally given to all Tathagatas, no distinction being made among them as far as these letter BUDDHA go.

2)      Ngôn Từ B́nh Đẳng—B́nh đẳng về ngôn từ nghĩa là tất cả chư Như Lai đều nói sáu mươi bốn âm giai hay âm thanh khác nhau mà ngôn ngữ của Phạm Thiên phát âm, và nghĩa là ngôn ngữ của chư Như Lai nghe ra giống như âm giai của loài chim Ca Lăng Tần Già: By “sameness in words” is meant that all the Tathagatas speak in sixty-four different notes or sounds with the language of Brahma is pronounced, and that their language sounding like the notes of Kalavinka bird is common to all the Tathagatas.

3)      Nghĩa B́nh Đẳng—B́nh đẳng về thân nghĩa là tất cả các Đức Như Lai đều không khác biệt khi được xét về Pháp Thân (Dharmakaya), về đặc trưng thuộc về thân thể hay sắc tướng (rupalakshana), và các nét cao đẹp phụ hay hảo tướng. Tuy vậy, chư Như Lai khác nhau khi được nh́n bởi chúng sanh khác nhau mà chư vị đang điều ngự dạy bảo:  By “sameness in body” is meant that all the Tathagatas show no distinction as far as their Dharmakaya, their corporal features (rupalakshana) and their secondary marks of excellentce are concerned. They differ, however, when they are seen by a variety of beings whom they have the special design to control and discipline.

4)      Pháp B́nh Đẳng—B́nh đẳng về chân lư có nghĩa là tất cả chư Như Lai đều đạt cùng một sự thể chứng nhờ vào ba mươi bảy phần chứng ngộ: By “sameness in the truth” is meant that all Tathagatas attain to the same realization by means of the thirty-seven divisions of enlightenment.

Tứ B́nh Gia: Bốn vị đại học giả trong số năm trăm vị A La Hán, những người đă viết ra bộ Luận Vi Diệu Pháp—The four great scholars among the 500 arhats who made the Vibhasa-sastra, a critical commentary on the Abhidharma. Their names are:

1)      Thế Hữu: Vasumitra.

2)      Diệu Âm: Ghosa.

3)      Pháp Cứu: Dharmatrata.

4)      Giác Thiên: Buddhadeva.

Tứ Bố Thí: Bốn loại bố thí—Four kinds of dana or charity:

1)      Bút Thí: Thấy ai phát tâm sao chép kinh điển liền phát tâm Bố Thí viết để giúp duyên cho họ chép kinh—Giving of pens to write the sutras.

2)      Mặc Thí: Thấy người viết kinh liền Bố Thí  Mực để giúp thiện duyên—Giving of ink.

3)      Kinh Thí: Bố Thí Kinh để người có phương tiện đọc tụng—Giving of the sutras themselves.

4)      Thuyết Pháp Thí: Bố Thí bằng cách Thuyết pháp cho người nghe để người tu hành giải thoát—Preaching the sutras for sentient beings so that they can cultivate to liberate themselves.

Tứ Bồ Tát: Bốn vị Bồ Tát—The four Bodhisattvas:

1)         Quán Thế Âm Bồ Tát: Avalokitesvara.

2)         Di Lặc Bồ Tát: Maitreya.

3)         Phổ Hiền Bồ Tát: Samantabhadra.

4)         Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Manjusri.

Tứ Bộ: Bốn quả Thánh (Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán)—The four classes (srota-apanna, sakrdagamin, anagamin, and arhat)—See Tứ Đạo and Tứ Thánh Quả.

Tứ Bộ Chúng: See Tứ Chúng.

Tứ Bộ Đệ Tử: Four classes of disciples—See Tứ Chúng.

Tứ Bộ Kinh: Bốn bộ kinh—Từ Ân Đại Sư lấy bốn bộ kinh làm bản kinh của Tịnh Độ—The four sutras of the Pure Land, according to Tz’u-Ên:

1)      Vô Lượng Thọ Kinh: The Infinite Life Sutra.

2)      Quán Vô Lượng Thọ Kinh: The Contemplation on the Infinite Life Sutra.

3)      A Di Đà Kinh: Amitabha Sutra.

4)      Cổ Âm Thanh Đà La Ni Kinh: The Drum Sound Dharani Sutra.

Tứ Bộ Luật: See Tứ Luật Ngũ Luận.

Tứ Bộ Tăng: See Tứ Chúng.

Tứ Bộ Thần: Four kinds of Deities.

Tứ Bộc Lưu: Four floods—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn bộc lưu (lũ lụt)—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four floods:

1)      Dục Bôc Lưu: Flood of sensuality.

2)      Hữu Bộc Lưu: Flood of becoming or existence.

3)      Tà Kiến Bộc Lưu: Flood of wrong views.

4)      Vô Minh Bộc Lưu: Flood of ignorance.

Tứ Bối:

(A)   Tứ Chúng—Bốn hạng đệ tử của Phật—The four kinds of disciples—See Tứ Chúng.

(B)

1)      Nhân: Người—Men.

2)      Thiên: Trời—Devas.

3)      Long: Rồng—Nagas.

4)      Quỷ: Ghosts.

Tứ Bổn Chỉ Quán: Bốn quyển kinh nói về thiền quán của tông Thiên Thai—The four books of T’ien-T’ai on meditation:

1)      Ma Ha Chỉ Quán: Maha-samadhi.

2)      Thiền Ba La Mật: Dhyana-paramita.

3)      Lục Diệu Môn: Six Wonderful Gates to Meditation.

4)      Tọa Thiền Chỉ Yếu: Guidelines for Meditation.

Tứ Bổn Tướng: Bốn tướng căn bản—The four fundamental states:

1)      Sinh: Birth.

2)      Trụ: Stay.

3)      Dị: Change.

4)      Diệt: Extinction.

Tứ Cá Đại Thừa: Bốn tông phái Đại Thừa—The four Mahayanas—The four Great Schools:

(A)

1)         Hoa Nghiêm: Hua-Yen or Avatamsaka.

2)         Thiên Thai: T’ien-T’ai.

3)         Chân Ngôn: Shingon—Esoteric—Chên-Yen.

4)         Thiền: Zen—Ch’an—Intuitive School.   

(B)

1)      Pháp Tướng: Mahayana-Dharmalaksana School.

2)      Tam Luận: Madhyamika School of Nagarjuna.

3)      Thiên Thai: T’ien-T’ai.

4)      Hoa nghiêm: Hua-Yen or Avatamsaka. 

Tứ Căn Bổn Tánh: See Tứ Trụy Lạc Pháp.

Tứ Căn Bổn Tội: See Tứ trụy Lạc Pháp.

Tứ Chánh Cần: Catvari-Samyakprahanani (skt)—Sammappadhana (p)—Tứ Ư Đoạn—Tứ Chánh Đoạn—Bốn phép siêng năng diệt trừ tội ác và phát triển điều thiện—Four right (great) efforts (exertions)—Right effort of four kinds of restrain, or four essentials to be practiced vigilantly:

1)      Tinh tấn phát triển những điều thiện lành chưa phát sanh—Endeavor to start performing good deeds: Điều thiện chưa sanh, phải tinh cần làm cho sanh. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ư muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, tŕ tâm với mục đích khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi—Effort to initiate virtues not yet arisen—Bringing forth goodness not yet brought forth (bring good into existence)—To produce merit—To induce the doing of good deeds. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to produce unarisen wholesome mental states.

2)      Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều thiện lành đă phát sanh—Endeavor to perform more good deeds: Điều thiện đă sanh, phải tinh cần khiến cho ngày càng phát triển. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ư muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, tŕ tâm với mục đích khiến cho các thiện pháp đă sanh có thể được tăng trưởng, được quảng đại viên măn—Effort to consolidate, increase, and not deteriorate virtues already arisen—Developing goodness that has already arisen (develop existing good)—To increase merit when it was already produced—To encourage the growth and continuance of good deeds that have already started. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to maintain wholesome mental states that have arisen, not to let them fade away, to bring them to greater growth, to the full perfection of development.

3)      Tinh tấn ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh—Endeavor to prevent evil from forming: Điều dữ chưa sanh, phải tinh cần làm cho đừng sanh. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ư muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, tŕ tâm với mục đích khiến cho các ác pháp từ trước chưa sanh không cho sanh—Effort not to initiate sins not yet arisen—Preventing evil that hasn’t arisen from arising (to prevent any evil from starting or arising)—To prevent demerit from arising. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to prevent the arising of unarisen evil unwholesome mental states. 

4)      Tinh tấn dứt trừ những điều ác đă phát sanh—Endeavor to eliminate already-formed evil: Điều dữ đă sanh, phải tinh cần dứt trừ đi. Ở đây vị Tỳ Kheo khởi lên ư muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, tŕ tâm với mục đích khiến cho các ác pháp đă sanh được diệt trừ—Effort to eliminate sins already arisen—Putting an end to existing evil—To abandon demerit when it arises—To remove any evil as soon as it starts. Here a monk rouses his will, makes an effort, stirs up energy, exerts his mind and strives to overcome evil unwholesome mental states that have arisen. 

Tứ Chánh Đoạn: See Tứ Chánh Cần in Vietnamese-English Section.

Tứ Chân Đế: See Tứ Diệu Đế and Tứ Thánh Đế.

Tứ Chấp: Bốn thứ câu chấp—The four  erroneous tenets:

(A)  Bốn thứ câu chấp của ngoại đạo—The four tenets of the outsiders or non-Buddhists:

1)      Tà Nhân Tà Quả: Ngoại đạo nói rằng tứ đại tại thiên, thiên sanh ra vạn vật—Heretical (dị giáo) theory of causation—Creation by a Creator.

2)      Vô Nhân Hữu Quả: Chấp muôn vật không nhân, tự nhiên mà có (không có nhân mà có quả)—Effect independent of cause—Creation without a cause, or spontaneous generation.

3)      Hữu Nhân Vô Quả: Đoạn kiến cho rằng chỉ có hiện tại, chứ không có đời sau, không có hậu quả ǵ trong tương lai đối với việc làm hiện tại—Cause without effect—No future consequences  as a result of past or current karma. 

4)      Vô Nhân Vô Quả: Tà kiến phủ nhận hết thảy nhân quả, cho rằng không có nghiệp nhân thiện ác có thể thụ quả sướng khổ—Neither cause nor effect—Rewards and punishments are independent of morals.

(B)  Bốn loại chấp mà Ngài Long Thọ đă luận—Four-phased system elucidated by Master Nagarjuna:

1)      Chấp Hữu (chấp có): Attachment to existence.

2)      Chấp Vô (chấp không): Attachment to non-existence.

3)      Chấp Diệc Hữu Diệc Không (chấp có cả hai): Attachment to both existence and non-existence.

4)      Chấp Phi Hữu Phi Không (chấp không có cả hai): Attachment to neither.     

(C)  Bốn thứ chấp trước cho cả nội lẫn ngoại đạo, Phật tử lẫn Bà La Môn—The four erroneoustenets of the insiders and outsiders, Buddhists and Brahman:

1)         Ngoại đạo chấp chẳng lư nhị không: Outsiders who do not accept either the cause nor the dharma ideas of void.

2)         Nội đạo chấp giữ vào A Tỳ Đạt Ma Luận mà thừa nhận rằng có nhân không, nhưng không có pháp không (đă chứng lư vô ngă nhưng c̣n chấp vào pháp hữu tính): Insiders who hold the Abhidharma or Sarvastivadah tenet, which recognizes human impersonality, but not the unreality of things.

3)         Thành Thực Tông lại phân biệt hai nghĩa của ‘không’ nhưng lại phân biệt không rơ ràng: Those who hold the Satyasiddhi tenet which discriminates the two meanings of ‘void’ but not clearly.

4)         Đại Thừa lại chấp vào cứu cánh thực tế—Those in Mahayana who hold the tenet of the ‘realists.’

Tứ Chấp Kim Cang: Bốn vị Kim Cang Chủ của tứ đại—The four Vajra-rulers of the four elements:

1)      Địa Kim Cang Chủ ở về phía Đông Nam: The Earth Vajra-ruler, of the Southeast.

2)      Thủy Kim Cang Chủ ở về phía Tây Nam: The Water Vajra-ruler, of the Southwest.

3)      Hỏa Kim Cang Chủ ở về phía Tây Bắc: The Fire Vajra-ruler, of the Northwest.

4)      Phong Kim Cang Chủ ở về phía Đông Bắc: The Wind Vajra-ruler, of the Northeast. 

Tứ Chấp Kim Cang Thần: See Tứ Chấp Kim Cang.

Tứ Chấp Thủ: Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn loại Chấp Thủ—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are four kinds of clinging:

1)      Dục Chấp Thủ: Clinging to sensual pleasure.

2)      Kiến Chấp Thủ: Clinging to views.

3)      Giới Cấm Chấp Thủ: Clinging to rules and vows.

4)      Ngă Luận Chấp Thủ: Clinging to a doctrine of self.

Tứ Châu: Catur-dvipa (skt)—Theo khoa cổ vũ trụ học Phật Giáo, có bốn châu trong thế giới Ta Bà, tứ hướng xung quanh núi Tu Di—Four Saha Continents or four great continents of a world—According to ancient Buddhist cosmology, there are four inhabited continens of every universe. They are land areas and situated in the four directions around Mount Sumeru:

1)      Bắc Cu Lô (Câu Lư) Châu: Uttarakuru (skt)—C̣n gọi là Uất Đan Việt Châu—The Northern of the four continents of a world—See Uttarakuru in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

2)      Nam Thiệm Bộ Châu: Jambudvipa (skt)—C̣n gọi là Châu Diêm Phù Đề—The Southern continent—See Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Nam Thiệm Bộ Châu in Vietnamese-English Section.

3)      Tây Ngưu Hóa Châu: Godana, Aparagodana, or Avaragodanuyah (skt)—C̣n gọi là Cồ Da Ni. Tây Ngưu Hóa Châu hay Tây Lục Địa, nơi mà trâu ḅ sinh sản rất đông và được dùng như tiền tệ; lục địa có h́nh tṛn và dân trên đó cũng có gương mặt h́nh tṛn (ở cơi nầy dân sống thọ đến 500 tuổi)—West Continent, where oxen are used as money; the western of the four continents of every world, circular in shape and with circular-faced people.

4)      Đông Thắng Thần Châu: Purva-Videha (skt)—C̣n gọi là Bổ La Phược Vĩ Nễ Hạ, Phất Bà Đề, hay Phất Vu Đại, một trong bốn đại châu, châu nầy ở trong biển Hàm Hải, về phía đông núi Tu Di, h́nh bán nguyệt. Lục địa chế ngự ma quỷ, có h́nh bán nguyệt, dân trên đó cũng có khuôn mặt h́nh bán nguyệt (chu vi của cơi nầy là 21.000 do tuần, dân trong cơi nầy có thân h́nh tốt đẹp hơn hết, và sống thọ đến 600 tuổi)—East—The eastern of the four great continents of a world, east of Mount Meru, semicircular in shape. The continent conquering spirits, semi-lunar in shape; its people having faces of similar shape.  

Tứ Chi: The four limbs:

1)      Đầu: Head.

2)      Ḿnh: Trunk (body).

3)      Tay: Arms.

4)      Chân: Legs. 

Tứ Chiếng: Everywhere.

Tứ Chủ: Bốn vị chúa tể của thế giới mà phạm vi trải từ Đông, Nam, Tây, sang đến Bắc của dăy Hy mă Lạp Sơn—The four Lords of the world, whose domain were supposed to stretch from East, South, West, to North of the Himalayas:

1)      Đông Phương Nhân Chủ: The Lord of men in the East.

2)      Nam Phương Tượng Chủ: The Lord of elephants in the South, the southern division of India.

3)      Tây Phương Báu Chủ: The Lord of jewels or precious things in the West.

4)      Bắc Phương Mă Chủ: The Lord of horses in the North. 

Tứ Chúng: Varga (skt)—Fourfold disciples (assemblies—groups—orders)—The assembly of monks, nuns, laymen and laywomen:

(A)  Tứ Chúng Tăng Già—The fourfold Assembly in the order:

1)      Tỳ Kheo: Bhiksu (skt)—Monk—See Tỳ Kheo.

2)      Tỳ Kheo Ni: Bhiksuni (skt)—Nuns—See Tỳ Kheo Ni.

3)      Ưu Bà Tắc: Upasaka—Laymen—Male devotees—See Ưu Bà Tắc.

4)      Ưu Bà Di: Upasika—Lay women—Female devotees—See Ưu Bà Di.   

(B)  Tứ Chúng theo tông Thiên Thai—The fourfold assembly, according to the T’ien-T’ai sect:

1)      Phát Khởi Chúng: Chúng hội mà Ngài Xá Lợi Phật đă ba lần cung thỉnh khiến cho Đức Thế Tôn khởi thuyết Kinh Pháp Hoa—The assembly which, Sariputra stirred the Buddha to begin his Lotus Sutra sermons.

2)      Đương Cơ Chúng: Chúng hội nghe hiểu Pháp Hoa, tự ḿnh thọ nhận và hành tŕ những ǵ Phật dạy trong đó—The pivotal assembly, those who were responsive to him. Those hearers of the Lotus who were adaptable to its teaching, and received it.  

3)      Ảnh Hưởng Chúng: The reflection assembly, those like Manjusri, who reflected on or drew out the Buddha’s teaching.

4)      Kết Duyên Chúng: Những chúng sanh kết duyên được thấy và nghe Phật thuyết pháp, nên nhân duyên chứng ngộ của họ sẽ được về đời sau nầy—Those who only profited in having seen and heard a Buddha, and therefore whose enlightenment is delayed to a future life.

(C)  Tứ Chúng Xuất Gia—The fourfold assembly of a monastery:

1)      Tỳ Kheo: Bhiksu (skt)—Monk—See Tỳ Kheo.

2)      Tỳ Kheo Ni: Bhiksuni (skt)—Nun—See Tỳ Kheo Ni.

3)      Sa Di: Sramanera (skt)—A novice monk—See Sa Di.

4)      Sa Di Ni: Sramanerika (skt)—A novice nun—See Sa Di Ni.  

Tứ Chủng A Tu La: Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, và theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, có bốn loại A Tu La—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, and according to the Surangama Sutra, book Nine, there are four kinds of asura.

1)      Noản Sanh A Tu La: Egg-born asuras or ghosts—Thứ nương quỷ đạo, dùng sức hộ pháp, thừa thần thông mà vào hư không. A Tu La đó do trứng sanh ra, thuộc về quỷ thú—Those in the path of ghosts who use their strength to protect the dharma and who can ride their apiritual penetrations to enter into emptiness are asuras born from eggs; they belong to the destiny of ghosts.

2)      Thai Sanh A Tu La: Womb-born asuras—Thứ ở cơi trời, mất đức bị đọa vào chỗ gần mặt trời, mặt trăng. A Tu La đó do thai sinh ra, thuộc về loài người—Those who have fallen in virtue and have been dismissed from the heavens dwell in places near the sun and moon. They are asuras born from wombs and belong to the destiny of humans.

3)      Hóa Sanh A Tu La: Transformation-born asuras—Thứ A Tu La vương ǵn giữ thế giới, sức mạnh không kinh sợ, hay tranh quyền với Phạm Vương, Trời Đế Thích và Tứ Thiên Vương. A Tu La đó do biến hóa sinh ra, thuộc về cơi Trời—There are Asura kings who uphold the world with a penetrating power and fearlessness. They fight for position with the Brahma Lord, the god Sakra, and the four heavenly kings. These Asuras come into being by transformation and belong to the destiny of gods.

4)      Thủy Sanh A Tu La: Water-born asuras—Thứ A Tu La ở đáy biển, dưới hang nước. A Tu La đó do thấp khí sinh, thuộc về súc sanh thú—There is another baser category of asura. They have thoughts of the great seas and live submerged in underwater caves. During the day they roam in emptiness; at night they return to their watery realm. These Asuras come into being because of moisture and belong to the destiny of animals. 

**   For more information, please see A Tu La.

Tứ Chủng Âm Thanh Quảng Đại Của Đức Như Lai: Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (37), âm thanh của Đức Như Lai  không chủ không làm, không có phân biệt, chẳng phải nhập chẳng phải xuất, chỉ từ pháp lực công đức của Như Lai mà phát sanh bốn thứ âm thanh quảng đại—According to The Flower Adornment Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37),The voice of Buddha is without master or maker, without discrimination, not entering, not emerging, yet producing four great voices from the power of the virtuous qualities of Buddha.

1)      Âm thanh quảng đại thứ nhất nói, “Đại chúng nên biết tất cả hành pháp đều là khổ. Những là địa ngục khổ, súc sanh khổ, ngạ quỷ khổ, không phước đức là khổ, chấp ngă và ngă sở là khổ (chấp cái tôi và cái của tôi), tạo những ác hạnh là khổ. Muốn sanh lên cơi trời hay nhơn gian phải gieo căn lành, sanh trong nhơn thiên rời khỏi các chỗ nạn.” Chúng sanh nghe xong bỏ ĺa điên đảo tu những hạnh lành, rời khỏi những chỗ nạn mà sanh lên cơi nhơn thiên: The first great voice says, “You all should know that all conditioned states are miserable. There is the misery of hells, the misery of animality, the misery of hungry ghosthood, the misery of lack of virtue, the misery of clinging to self and possessions, the misery of evildoing. If you want to be born human or divine, you should plant roots of goodness. Born in the human world or in a heaven, you will leave all situations in which enlightenment is difficult.” Sentient beings, having heard this, give up error and perversity, practice good actions, leave all difficulties behind, and are born in the human world or in heaven.

2)      Âm thanh quảng đại thứ hai nói, “Đại chúng nên biết tất cả hành pháp tràn đầy những khổ như ḥn sắt nóng, hành pháp vô thường, là pháp diệt mất. Niết Bàn tịch tịnh vô vi an lạc ĺa xa khốn khổ, tiêu sạch nhiệt năo.” Chúng sanh nghe xong siêng tu pháp lành, nơi Thanh Văn thừa được tùy thuận âm thanh nhẫn: The second great voice says, “You should know that the myriad pains of all conditioned states are as searing as balls hot iron. Conditioned states are impermanent and pass away. Nirvana  is tranquil, unfabricated well-being, beyond all burning, extinguishing all inflaming afflictions.” Having heard this, sentient beings diligently practice good principles, and in the vehicle of listeners to Buddha’s voice attain the tolerance of conformity to the message.

3)      Âm thanh quảng đại thứ ba nói, “Đại chúng nên biết Thanh Văn thừa do lời người khác mà được tỏ ngộ, trí huệ hẹp kém. Lại có Độc Giác thừa tỏ ngộ chẳng do thầy, đại chúng nên học.” Những người thích thắng đạo nghe lời nầy xong liền bỏ Thanh Văn thừa mà tu Độc Giác thừa: The third great voice says, “You should know that those in the vehicle of listeners follow the words of others to understand; their knowledge and wisdom is narrow and inferior. There is a higher vehicle called the vehicle of the individually awakened, whose enlightenment does not depend on a teacher. You should learn it.” Those inclined to a superior path, having heard this voice, give up the path of listeners and cultivate the vehicle of the individually awakened.

4)      Âm thanh quảng đại thứ tư nói, “Đại chúng nên biết hơn hàng nhị thừa c̣n có thắng đạo gọi là Đại thừa, là chỗ tu hành của Bồ Tát thuận sáu môn Ba La Mật, chẳng dứt hạnh Bồ Tát, chẳng bỏ tâm Bồ Đề, ở vô lượng sanh tử mà chẳng mỏi nhàm, hơn hàng nhị thừa, gọi là Đại thừa, là đệ nhứt thừa, là thắng thừa, là tối thắng thừa, là thượng thừa, là vô thượng thừa, là thừa lợi ích tất cả chúng sanh.” Nếu có chúng sanh nào ḷng tin hiểu rộng lớn, căn khí mạnh lẹ, đời trước gieo căn lành, được thần lực của Đức Như Lai gia hộ, có chí nguyện thù thắng mong cầu Phật quả, nghe lời nầy xong liền phát tâm Bồ Đề (see Bồ Đề Tâm): The fourth great voice says, “You should know that there is an even higher path beyond  the ranks of these two vehicles, which is called the great vehicle, practiced by enlightening beings, following the  six transcendent ways, not stopping enlightening practice, not relinquishing the determination for enlightenment, being in the midst of infinite birth and death without getting sick of it. Going beyond the two vehicles of individual liberation, it is called the Great Vehicle, the foremost vehicle, the preeminent vehicle, the supreme vehicle, the highest vehicle, the unexcelled vehicle, the vehicle of benefiting all sentient beings.” If there are any sentient beings whose resolve is very great, whose faculties are strong and keen, who have planted roots of goodness in the past, who are spiritually empowered by the Buddhas, who have superior inclinations and seek Buddhahood, once they have heard this voice they arouse the determination for enlightenment.    

Tứ Chủng Biến Thường: Four theories regarding pervasive permanence—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đă nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ biến thường như sau: “Ông A Nan! Các người thiện nam trong tam ma địa, chính tâm yên lặng sáng suốt. Ma chẳng t́m được chỗ tiện cùng tột căn bản của 12 loài sinh. Xem xét trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong viên thường khởi so đo chấp trước. Nguời ấy bị đạo vào luận bốn thứ biến thường.”—According to the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda as follows: “Ananda, in his practice of samadhi, the good person'’ mind is unmoving, clear, and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate on its pervasive constancy, he could fall into error with four theories of pervasive permanence.”

1)      Một là người đó nghiên cứu cùng tột tâm cảnh, tính chất đều không có nhân. Tu tập có thể biết trong hai vạn kiếp, mười phương chúng sanh sinh diệt, đều là xoay vần, chẳng hề tan mất, rồi chấp cho là thường: First, as this person throroughly investigates the mind and its states, he may conclude that both are causeless. Through his cultivation, he knows that in twenty thousand eons, as beings in the ten directions undergo endless rounds of birth and death, they are never annihilated. Therefore, he speculates that the mind and its states are permanent

2)      Hai là người ấy nghiên cứu cùng tột căn nguyên của tứ đại, tính thường trụ. Tu  tập có thể biết trong bốn vạn kiếp mười phương chúng sanh sanh diệt đều là hằng thường, chẳng hề tan mất. Rồi từ đó chấp cho là thường: Second, as this person thoroughly investigates the source of the four elements, he may conclude that they are permanent in nature. Through his cultivation, he knows that in forty thousand eons, as living beings in the ten directions undergo births and deaths, their substances exist permanently and are never annihilated. Therefore, he speculates that this situation is permanent.

3)      Ba là người đó nghiên cứu cùng tột lục căn, mạt na chấp thụ, trong tâm ư thức, về chỗ bản nguyên, tính hằng thường. Tu tập có thể biết trong tám vạn kiếp tất cả chúng sanh xoay vần chẳng mất, bản lai thường trú, đến cùng tính chẳng mất, rồi chấp cho là thường: Third, as this person thoroughly investigates the sixth sense faculty, the manas, and the consciousness that grasps and receives, he concludes that the origin of the mind, intelect, and consciousness is permanent. Through his cultivation, he knows that in eighty thousand eons, all living beings in the ten directions revolve in transmigration, this origin is never destroyed and exists permanently. Investigating this undestroyed origin, he speculates that it is permanent.

4)      Bốn là người đó đă cùng tột cái căn nguyên của tưởng, hết cái sinh lư, lưu chỉ xoay vần; sinh diệt tưởng tâm, nay đă dứt bặt, tự nhiên thành cái lư bất sanh diệt. Nhân tâm so đo chấp trước cho là thường. V́ chấp thường, mà mất chánh biến tri, đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề: Fourth, since this person has ended the source of thoughts, there is no more reason for them to arise. In the state of flowing, halting, and turning, the thinking mind, which was the cause of production and destruction, has now ceased forever, and so he naturally thinks that this is a state of nonproduction and nondestruction. As a result of such reasoning, he speculates that this state is permanent. Because of these speculation of permanence, he will lose proper and pervasive knowledge, fall into externalism, and become confused about the Bodhi nature.     

Tứ Chủng Bố Thí: Bốn loại bố thí—Four kinds of dana or charity—See Tứ Bố Thí.

Tứ Chủng Căn Bổn Tội: Tứ Ba La Di Tội—Bốn tội căn bản—The four  deadly sins:

1)      Sát sanh: Killing.

2)      Trộm cắp: Stealing.

3)      Ham muốn nhục dục: Carnality.

4)      Nói dối: Lying.

Tứ Chủng Đàn Pháp: Tứ Chủng Tất Địa—Tứ Chủng Thành Tựu Pháp—Bốn loại đàn pháp của Mật giáo—The four kinds of altar-worship of the esoteric sect:

1)      Tức Tai Pháp: Tu pháp tu trừ ác sự cho ḿnh và người khỏi bị bệnh hoạn tai ương—Averting calamities from self and others.

2)      Tăng Ích Pháp: Tu pháp để tăng thêm phúc đức trí tuệ cho ḿnh và người—Seeking good fortune for self and others.

3)      Kính Ái Pháp: Tu pháp cầu đảo cho ḿnh và người được chư Phật và Bồ Tát ái hộ—Seeking the love and protection of Buddhas and Bodhisattvas for self and others.

4)      Hàng Phục: Điều Phục Pháp, hay phép cầu đảo cho ḿnh và người để điều phục oán địch hay ác nhân—Subduing enemies.

Tứ Chủng Điên Đảo: Four upside-down theories—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đă nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ điên đảo như sau: “Nầy A Nan! Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng t́m được chỗ tiện, cùng tột căn bản của 12 loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong tự và tha, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào bốn cái thấy điên đảo, một phần vô thường, một phần thường luận.”—In the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda about the four upside-down theories as follows: “Ananda! Further, in his practice of samadhi, the good person’s mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be distrubed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate about self and others, he could fall into error with theories of partial impermanence and partial permanence based on four distorted views.”

1)      Một là, người đó quán sát cái tâm diệu minh, khắp các cơi mười phương, trạm nhiên, cho là thần ngă hoàn toàn, từ đó chấp là thần ngă khắp mười phương, yên lặng, sáng suốt, chẳng động. Tất cả chúng sanh trong thần ngă, tâm tự sinh tự chết. Th́ tính cách của ngă tâm là thường. C̣n kia sinh diệt, thật là tính cách vô thường—First, as this person contemplates the wonderfully bright mind pervading the ten directions, he concludes that this state of profound stillness is the ultimate spiritual self. Then he speculates , “My spiritual self, which is settled, bright, and unmoving, pervades the ten directions. All living beings are within my mind, and there they are born and die by themselves. Therefore, my mind is permanent, while those who undergo birth and death there are truly impermanent."

2)      Hai là, người đó chẳng quán sát cái tâm, chỉ xem xét khắp cả mười phương hằng sa quốc độ, thấy cái chỗ kiếp bị hư, gọi là chủng tính vô thường hoàn toàn. C̣n cái chỗ kiếp chẳng bị hư, gọi là thường hoàn toàn—Second, instead of contemplating  his own mind, this person contemplates in the ten directions worlds as many as the Ganges’ sands. He regards as ultimately impermanent those worlds that are in eons of decay, and as ultimately permanent those that are not in eons of decay.

3)      Ba là, người đó chỉ quán sát cái ngă tâm của ḿnh, tinh tế nhỏ nhiệm, ví như vi trần lưu chuyển mười phương, tính không dời đổi. Có thể khiến thân nầy liền sinh liền diệt, mà nói là tính chẳng hoại, và gọi là ngă tính thường—Third, this person closely examines his own mind and finds it to be subtle and mysterious, like fine motes of dust swirling in the ten directions, unchanging in nature. And yet it can cause his body to be born and then to die. He regards that indestructible  nature as his permanent intrinsic nature, and that which undergoes birth and death and flows forth  from him as impermanent.

4)      Bốn là, người đó biết tưởng ấm hết, thấy hành ấm c̣n lưu động. Hành ấm thường lưu động, nên chấp làm tính thường. Các ấm sắc, thụ, tưởng đă hết, gọi là vô thường. V́ so đo chấp trước một phần vô thường, một phần thường như trên, nên đọa lạc ngoại đạo, mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, knowing that the skandha of thinking  has ended and seeing the flowing of the skandha of formations, this person speculates that the continuous flow of the skandha of formations is permanent, and that the skandhas of form, feeling, and thinking which have already ended are impermanent. Because of these speculations of impermanence and permanence, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature. 

Tứ Chủng Hành Nhân: Bốn loại hành nhân—Four grades of earnest doers, who follow the bodhisattva discipline and attain to the following:

1)      Thập Trụ: Ten Stages—See Thập Trụ.

2)      Thập Hạnh: Ten necessary activities—See Thập Hạnh.

3)      Thập Hồi Hướng: Ten Dedications—See Ten Kinds of Dedications Expounded by the Buddhas of Past, Present and Future & Ten Kinds of Dedications of Roots of Goodness of Great Enlightening Beings.

4)      Thập Trụ: Ten Grounds—See Thập Trụ. 

Tứ Chủng Hạnh Phúc: Trong Kinh Tăng Nhứt A Hàm, Đức Phật đă giảng về bốn loại hạnh phúc của người cư sĩ như sau—In the Anguttara Nikaya Sutra, the Buddha commented on the four kinds of bliss a layman enjoy as follow:

1)      Hạnh phúc có vật sở hữu: Atthisukha (p)—Hạnh phúc của người có vật sở hữu nhờ sự nỗ lực cố gắng, nhờ sức lực của chân tay và mồ hôi, sở hữu một cách hợp pháp. Khi nghĩ như vậy, người kia cảm thấy thỏa thích và măn nguyện. Đó là hạnh phúc có được vật sở hữu—Herein a clansman has wealth acquired by energetic striving, amassed by strength of arm, won by sweat, and lawfully gotten. At this thought, bliss and satisfaction come to him. This is call the bliss of ownership.

2)      Hạnh phúc được có tài sản: Bhogasukha (skt)—Người kia tạo nên tài sản do nơi cố gắng nỗ lực. Bây giờ chính ḿnh thọ hưởng tài sản ấy, hoặc dùng nó để gieo duyên tạo phước. Khi nghĩ như vậy, người ấy cảm thấy thỏa thích và măn nguyện. Đó là hạnh phúc có được tài sản—Herein a clansman by means of wealth acquired by energetic striving, both enjoys his wealth and does meritorious deeds. At this thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the  bliss of wealth.

3)      Hạnh phúc không nợ nần: Ananasukha (skt)—Người kia không thiếu ai món nợ lớn nhỏ nào. Khi nghĩ như vậy người kia cảm thấy thỏa thích và măn nguyện. Đó là hạnh phúc không mang nợ—Herein a clansman owes no debt, great or small, to anyone. At the thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of debtlessness.

4)      Hạnh phúc không bị khiển trách: Anavajjasukha (p)—Bậc Thánh nhân không bị khiển trách về thân khẩu ư. Khi nghĩ như vậy, người ấy cảm thấy thỏa thích và măn nguyện. Đó là hạnh phúc không bị khiển trách—Herein the Aryan disciple is blessed with blameless action of body, blameless action of speech, blameless action of mind. At the thought, bliss and satisfaction come to him. This is called the bliss of blamelessness.

Tứ Chủng Hộ Ma: Four kinds of brazier—See Hộ Ma (2).

Tứ Chủng Hữu Biên: Four theories regarding finiteness—Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Chín, phần Thập Hành Ấm Ma, Đức Phật đă nhắc nhở ngài A Nan về bốn thứ hữu biên như sau: “Nầy A Nan! Lại các thiện nam, trong tam ma địa, chính tâm yên lặng kiên cố. Ma chẳng t́m được chỗ tiện, cùng tột căn bản cùa các loài sinh. Xem cái trạng thái u thanh, thường nhiễu động bản nguyên. Trong phận vị, khởi so đo chấp trước. Người đó bị đọa vào luận bốn thứ hữu biên.”—In the Surangama Sutra, book Nine, in the part of the ten states of the formation skandha, the Buddha reminded Ananda about the four theories regarding finiteness as follows: “Ananda! Further, in his practice of samadhi, the good person’s mind is firm, unmoving, and proper and can no longer be disturbed by demons. He can thoroughly investigate the origin of all categories of beings and contemplate the source of the subtle, fleeting, and constant fluctuation. But if he begins to speculate about the making of certain distinctions, he could fall into error with four theories of finiteness.”

1)      Một là người đó tâm chấp cái sinh nguyên lưu dụng chẳng dứt. Chấp quá khứ và vị lai là hữu biên và chấp tương tục là vô biên—First, this person speculates that the origin of life flows and functions ceaselessly. He judges that the past and the future are finite and that the continuity of the mind is infinite.

2)      Hai là người đó quán sát trong tám vạn kiếp th́ thấy chúng sanh; nhưng trước tám vạn kiếp th́ bặt không thấy nghe ǵ cả. Nên chỗ không thấy nghe th́ cho là vô biên, c̣n chỗ thấy nghe lại cho là hữu biên—Second, as this person contemplates an interval of eighty thousand eons, he can see living beings; but earlier than eighty thousand eons is a time of stillness in which he cannot hear or see anything. He regards as infinite  that time in which nothing is heard or seen, and as finite that interval in which living beings are seen to exist.

3)      Ba là người đó chấp cái ngă khắp biết được tính vô biên, tất cả mọi người đều bị ngă biết, mà ngă không hay họ có tính biết riêng, nên cho là họ không có tính vô biên, họ chỉ là tính hữu biên—Third, this person speculates that his own pervasive knowledge is infinite and that all other people appear within his awareness. And yet, since he himself has never perceived the nature of their awareness, he says they have not obtained an infinite mind, but have only a finite one.

4)      Bốn là người đó cùng tột cái hành ấm không, do cái chỗ sở kiến, tâm lộ tính xem xét, so sánh tất cả chúng sanh, trong một thân đều có một nửa sinh, một nửa diệt. Rơ biết mọi vật trong thế giới đều một nửa hữu biên, một nửa vô biên. V́ so đo chấp trước hữu biên, vô biên, nên đọa lạc ngoại đạo và mê lầm tính Bồ Đề—Fourth, this person thoroughly investigates the formations skandha  to the point that it becomes empty. Based on what he sees, in his mind he speculates  that each and every living being , in its given body, is half living and half dead. From this he concludes that everything in the world is half finite and half infinite. Because of these speculations about the finite and the infinite, he will fall into externalism and become confused about the Bodhi nature.    

Tứ Chủng Khổ: Four kinds of sufferings—See Tứ Khổ.

Tứ Chủng Liên Hoa: Four kinds of lotus—See Liên Hoa.

Tứ Chủng Mạn Đà La: Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, tông Chân Ngôn có bốn thứ Mạn Đà La hay bốn ṿng tṛn Mạn Đà La chỉ định năng lực hiệu nghiệm của tam mật. Những h́nh ảnh, h́nh vẽ, hay điêu khắc cho thấy thân mật của Phật; văn tự là mật ngữ của Phật; và các vật tiêu xí chỉ cho bản thệ, tứ mật ư của Phật—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Shingon Sect has four kinds of Mandala. The fourfold circle indicates the efficacious power of the three mysteries. The figures, painted or sculptured, show the mystery of the body of the Buddha; the letters show the mystery of speech of the Buddha; and the symbol indicates the “original vow,” or the thought of the Buddha.

1)      Đại Mạn Đà La: Maha-mandala (skt)—Là ṿng tṛn của Đức Phật và các tùy tùng được tŕnh bày bằng h́nh ảnh hay tranh vẽ, tức tŕnh bày trong mặt phẳng—The Great Circle is the circle of the Buddha and his companions represented by pictures or painted figures, i.e., a plane representation.

2)      Tam Ma Da Mạn Đà La: Samaya-mandala (skt)—Ṿng tṛn của cùng hội chúng nầy được biểu thị bằng  những dụng cụ tượng trưng cho mỗi vị. Tam Ma da trong Phạn ngữ có nghĩa là “bản thệ,” nhưng được tŕnh bày bằng vật tiêu biểu cho mỗi vị cầm tay—The Symbol Circle is the circle of the same assembly represented by symbols or an article possessed by each. Samaya in Sanskrit means the “original vows,” but here it is represented by an article borne by each.  

3)      Pháp Mạn Đà La: Dharma-mandala (skt)—Là lọạ Mạn Đà La bằng văn tự, tŕnh bày toàn thể các Thánh giả—The La Circle is the circle of letters (bija-aksara) representing all the saintly beings.

4)      Kiết Ma Mạn Đà La: Karma-mandala (skt)—Là Mạn Đà La bằng những h́nh ảnh điêu khắc. Ở Nhật và các nước Đông Á không có Mạn Đà La điêu khắc, nhưng vô số tượng Phật ở Java được xem như là thuộc loại nầy. Karma trong Phạn ngữ có nghĩa là “nghiệp” hay “hành động,” ở đây đặc biệt có nghĩa là nghệ thuật tŕnh bày bằng vật rắn—The Artcraft Circle is the circle of sculptured figures. In Japan and East Asian countries, there are no artcraft circles of sculptured figures, but the multitude of Buddhistic images of Java is said to be of this kind. Karma in Sanskrit means “action” or “work,” here it especially means the artistic work of solid representation.  

**   For more information, please see     

       Mandala in English-Vietnamese Section.

Tứ Chủng Nghiệp: Kammacatukkam (p)—Four types of karma—See Bốn Loại Nghiệp.

Tứ Chủng Nhân: Four types of persons—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại người—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four types of persons:

(A)  Bốn loại người thứ nhất—The first four types of persons:

1)      Loại người tự ḿnh làm khổ ḿnh và siêng năng làm khổ ḿnh: Attan-tapo-hoti (p)—A certain man who torments himself or is given to self-tormenting.

2)      Loại người làm khổ người khác và siêng năng làm khổ người khác: Paran-tapo-hoti (p)—A certain man who torments others or is given to torment others.

3)      Loại người làm khổ  ḿnh, siêng năng làm khổ ḿnh; làm khổ người, và siêng năng làm khổ người: A certain man who torments himself, is given to self-tormenting; torments others, is given to torment others.

4)      Loại người không làm khổ ḿnh, không siêng năng làm khổ ḿnh; không làm khổ người, không siêng năng làm khổ người. Nên ngay cuộc sống hiện tại, vị nầy sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương, an lạc thánh thiện: A certain man who torments neither himself nor others. Thereby he dwells in this life without craving, released, cool, enjoying bliss, becomes as Brahma.

(B)  Bốn loại người khác—Four more types of persons:

1)      Loại người hành tự lợi, không hành tha lợi. Đây là loại người chỉ phấn đấu loại bỏ tham, sân si cho chính ḿnh, mà không khuyến khích người khác loại bỏ tham sân si, cũng không làm ǵ phúc lợi cho người khác: Here  a man’s life benefits himself, but not others (who works for his own good, but not for the good of others). It is he who strives for the abolition of greed, hatred and delusion in himself, but does not encourage others to abolish greed, hatred and delusion, nor does he do anything for the welfare of others. 

2)      Loại người hành tha lợi, không hành tự lợi. Đây là loại người chỉ khuyến khích người khác loại bỏ nhược điểm và phục vụ họ, nhưng không tự đấu tranh để loại bỏ nhược điểm của chính ḿnh (năng thuyết bất năng hành): Here a man’s life benefits others, but not himself (who works for the good of others, but not for his own good). It is he who encourages others to abolish human weaknesses and do some services to them, but does not strive for the abolition of his own.

3)      Loại người không hành tự lợi, mà cũng không hành tha lợi. Đây là loại người không đấu tranh để loại bỏ nhược điểm của chính ḿnh, cũng chẳng khuyến khích người khác loại bỏ nhược điểm, cũng không phục vụ người khác: Here a man’s life benefits neither himself nor others (who works neither for his own good nor for the good of others). It is he who neither strives for the abolition of his own weaknesses, nor does he encourage others to abolish others weaknesses, nor does he do any service to others.

4)      Loại người hành tự lợi và hành tha lợi. Đây là loại người phấn đấu loại bỏ những tư tưởng xấu trong tâm ḿnh, đồng thời giúp người khác làm điều thiện: Here a man’s life benefits both himself and others (who works for his own good as well as for the good of others). It is he who strives for the abolition of evil houghts from mind and at the same time help others to be good.

(C)  Bốn loại người khác—Four more types of persons:

1)      Loại sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối: Here a man who lives in darkness and bounds for drakness.

2)      Loại sống trong bóng tối, nhưng hướng đến ánh sáng: Here a man who lives in darkness, but bounds for the light.

3)      Loại người sống trong ánh sáng, nhưng hướng đến bóng tối: Her a man who lives in the light, but bounds for drakness.

4)      Loại sống trong ánh sáng và hướng đến ánh sáng: Here a man who lives in the light and bounds for the light.

(D)  Bốn hạng người khác—Four more types of people:

1)      Hạng người không ai hỏi về cái tốt của ḿnh mà cứ nói, huống hồ chi là có hỏi! Đây là lỗi tự khoe khoang ḿnh, rất là tổn đức, chỉ có kẻ tiểu nhơn mới làm như vậy, chứ bậc đại trượng phu quân tử được khen cũng không cần ai công bố ra: Those who are not asked by anyone of their wholesome deeds, and yet they speak of them voluntarily, let alone if someone did ask. This represents those who are constantly bragging and boasting himself or herself. Only a petty person would do such a thing because true greatness will be praised without having necessary to announce it to the world.

2)      Hạng người có ai hỏi đến cái tốt của người khác, th́ chỉ ngập ngừng, bập bẹ như con nít mới học nói, huống hồ chi là không hỏi! Đây là lỗi d́m che điều tốt của người, để cho thấy ḿnh tốt, lỗi nầy rất là tổn phước, chỉ có kẻ tiểu nhơn mới làm như vậy: Those who when asked of others’ wholesome deeds, will speak incompletely, sometimes incoherently much like a child who had just learned to speak, let alone if they were not asked! This condition represents people who hide other people’s wholesome deeds, so they would look good in the process. It is an act of a petty person.  

3)      Hạng người không ai hỏi đến cái xấu của kẻ khác, mà cứ nói, huống chi là có hỏi! Đây là lỗi giết hại người mà không dùng đao kiếm, rất là tổn hại, chỉ có kẻ âm hiểm ác độc mới làm như vậy: Those who are not asked of others’ unwholesome deeds but speak of them anyway, let alone if they were asked. These are people who kill without weapons. This is to expose other people’s mistakes and transgressions, or to ridicule others to make one’s self look good. Such an act is a sign of wickedness and evil.

4)      Hạng người có ai hỏi đến cái xấu của ḿnh th́ che dấu, huống là không hỏi! Đây là lỗi dối trá, xảo quyệt, lừa gạt cho người ta tưởng ḿnh là bậc Thánh. Hạng người nầy được gọi là người không biết tàm quí: Those who keep their unwholesome deeds hidden, lying about it when anyone asks about them, let alone if these deeds were not asked, then certainly their wickedness would never be revealed. This condition represents people who are pretenders, those who tricked others into believing they are saints. They are people of no shame in self or before others. 

(E)   Bốn loại người khác—Four more types of persons:

1)      Bất Động Sa Môn: Samana-acalo (p)—The unshakeable ascetic.

2)      Thanh Liên Hoa Sa Môn: The “Blue-lotus” ascetic.

3)      Bạch Liên Hoa Sa Môn: The “White-lotus” ascetic.

4)      Diệu Thiện Sa Môn: Samana-sukhumalo (p)—The subly-perfect ascetic.

Tứ Chủng Nhập Thai: Theo Kinh Tự Hoan Hỷ trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại nhập thai—According to the Sampasadaniya Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four modes of rebirth:

1)      Có loại không biết ḿnh nhập, trú và xuất bụng người mẹ: One descends into the other’s womb unknowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing.

2)      Có loại biết ḿnh nhập bụng người mẹ, nhưng không biết ḿnh an trú trong bụng nguời mẹ và không biết ḿnh ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing.

3)      Có loại biết ḿnh nhập bụng người mẹ, biết ḿnh an trú trong bụng người mẹ, nhưng không biết ḿnh ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there knowing, but leaves it unknowing.

4)      Có loại biết ḿnh nhập bụng người mẹ, biết ḿnh an trú trong bụng người mẹ và biết ḿnh ra khỏi bụng người mẹ: One enters the womb knowing, stays there knowing, and leaves it knowing. 

Tứ Chủng Niệm Phật: Four methods of Buddha Recitation—See Tứ Môn Niệm Phật.

Tứ Chủng Oai Nghi: Four kinds of demeanors—Oai nghi có nghĩa là cốt cách và cử chỉ của người xuất gia, cần phải đoan chánh đàng hoàng, đúng theo phép tắc, khiến cho người chung quanh khi nh́n thấy phong cách của ḿnh th́ tự nhiên sanh ḷng kính phục. Có bốn loại oai nghi—Demeanors mean the conducts and expressions of a religious figure in Buddhism. They must be power and act appropriately according to the Dharma teachings, so when those around them see their demeanors these people will be respectful automatically. There are four main demeanors:

1)      Đi: Walking.

2)      Đứng: Standing.

3)      Nằm: Lying down.

4)      Ngồi: Sitting.

**   Cụ Túc Giới Tỳ Kheo.    

Tứ Chủng Pháp Giới: The four dharma-realms—See Tứ Pháp Giới.

Tứ Chủng Phật: Four types of the Buddha.

1)      Tam Tạng Phật: Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề của xứ Ma Kiệt Đà, dùng cỏ tươi làm đệm, dứt bỏ hoặc kiến tư mà giác ngộ—The Buddha of the Tripitaka who attained enlightenment on the base ground under the bodhi-tree.

2)      Thông Phật: Ở ngôi nhân vị đă dứt bỏ kiết sử và nghi hoặc , ngồi dưới gốc bồ đề thất bảo của xứ Ma Kiệt Đà, dùng áo trời làm đệm, dứt bỏ tâm tư mà thành chánh giác—The Buddha on the deva robe under the bodhi-tree of the seven precious things.

3)      Biệt Phật: Dứt bỏ 12 phẩm vô minh nhập vào ngôi vị Diệu Giác, ngồi ở chính ṭa đại bảo hoa, dưới gốc cây bồ đề thất bảo của Liên Hoa Tạng thế giới, mà hiện báo thân viên măn, đây chính là Đức Tỳ Lô Giá Na nói đến trong Kinh Phạm Vơng—The Buddha on the great precious Lotus throne under the Lotus realm bodhi-tree. This is the Vairocana mentioned in the Brahma Net Sutra. 

4)      Viên Phật: Dứt bỏ phẩm vô minh mà thành thanh tịnh pháp thân, an trụ cơi thường tịch quang, lấy hư không làm chỗ ngồi, tức là Đức Tỳ Lô Giá Na nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm—The Buddha on the throne of space, in the realm of eternal rest and glory, where he is a Vairocana mentioned in the Flower Adornment Sutra.

Tứ Chủng Phật Âm: Four voices of Buddha—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (37), chư đại Bồ Tát biết âm thanh của Đức Như Lai chẳng phải lượng, chẳng phải vô lượng, chẳng phải chủ, chẳng phải không chủ, chẳng phải thị giáo, chẳng phải không thị giáo. Ví như thế giới lúc sắp hoại, không chủ không làm, tự nhiên âm thanh của Đức Như Lai phát ra bốn thứ. Bốn thứ âm thanh trên đây không chủ, không làm, mà chỉ do thiện nghiệp của chúng sanh mà phát sanh—According to The Flower Adornment Scripture, Chapter Manifestation of Buddha (37), great enlightening beings should know that Buddha’s voice is neither quantified nor unquantified, neither  has a master nor lacks a master, neither communicates nor does not communicate. It is as when the world is about to disintegrate, there is no master, no maker, yet it spontaneously emits four voices. These voices have no master or maker, they are just produced by the power of good practices of sentient beings.

1)      Âm thanh thứ nhất nói, “Mọi người nên biết sơ thiền an lạc, rời những lỗi dục nhiễm vượt khỏi cơi dục.” Chúng sanh nghe rồi tự nhiên được thành tựu sơ thiền, bỏ thân cơi dục sanh lên Phạm Thiên: The first voice says, “You all should know that the well-being of the first meditation stage, free from the ills of desire, surpasses the realm of desire.” The sentient beings hearing this are naturally able to accomplish the first meditation stage, reliquish the body of the realm of desire and be reborn in Brahma heaven

2)      Âm thanh thứ hai nói, “Mọi người nên biết nhị thiền an lạc, không giác, không quán, vượt hơn Phạm Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu nhị thiền, bỏ thân Phạm Thiên sanh lên cơi trời Quang Âm Thiên: The second voice says, “You should know that the well-being of the second meditation stage, without reflection and rumination, surpasses the Brahma heaven.” The sentient beings hearing this naturally manage to accomplish the second meditation stage, relinquish the body of Brahma heaven, and are born in the light-sound heaven.

3)      Âm thanh thứ ba nói, “Mọi người nên biết tam thiền an lạc không lỗi lầm, vượt hơn Quang Âm Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tam thiền, bỏ thân Quang Âm Thiên sanh lên Biến Tịnh Thiên: The third voice says, “You should know the well-being of the third meditation stage has no flaws and surpasses the light-spund heaven.” Hearing this, the sentient beings are naturally able to achieve the third meditation stage, relinquish the body of the light-sound heaven, and are born in the heaven of universal purity.

4)      Âm thanh thứ tư nói, “Mọi người nên biết tứ thiền tịch tịnh hơn Biến Tịnh Thiên.” Chúng sanh nghe xong tự nhiên được thành tựu tứ thiền, bỏ thân Biến Tịnh Thiên sanh lên Quảng Quả Thiên: The fourth voice says, “You should know that the tranquility of the fourth meditation stage surpasses the heaven of universal purity.” Hearing this, the sentient beings are naturally able to achieve the fourth meditation stage, relinquish the body of the heaven of universal purity, and are born in the heaven of vast results.  

Tứ Chủng Phong Luân: Four kinds of atmosphere—Đại Thiên thế giới nầy  chẳng phải do một duyên, chẳng phải do một sự mà được thành tựu; phải do vô lượng duyên, vô lượng sự mới được thành. Những là nổi giăng mây lớn, tuôn xối mưa lớn. Tất cả đều do cộng nghiệp của chúng sanh và thiện căn của chư Bồ Tát phát khởi, làm cho tất cả chúng sanh trong đó đều tùy sở nghi mà được thọ dụng. Do vô lượng duyên như vậy mới thành Đại Thiên thế giới. Pháp giới như vậy không có sanh giả, không có tác giả, không có tri giả, không có thành giả, nhưng Đại Thiên thế giới vẫn được thành tựu. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Như Lai Xuất Hiện (38), có bốn thứ phong luân làm sở y—It is as a billion-world universe is not formed just by one condition, not by one phenomenon; it can be formed only by innumerable conditions, innumerable things. That is to say the rising and spreading of  great clouds and showering of great rain produce four kinds of atmosphere, continuously making a basis. All are produced by the joint actions of sentient beings and by the roots of goodness of enlightened beings, enabling all sentient beings to get the use of what they need. Innumerable such causes and conditions form the universe. It is such by the nature of things, there is no producer or maker, no knower or creator, yet the worlds come to be.

1)      Năng tŕ phong luân, có khả năng cầm giữ đại thủy: The holder, which can hold the great waters.

2)      Năng tiêu phong luân, có khả năng làm tiêu đại thủy: The evaporator, which can evaporate the great waters.

3)      Kiến lập phong luân, có khả năng kiến lập tất cả xứ sở: The structure, which sets up all places.

4)      Trang nghiêm phong luân, có khả năng làm trang nghiêm và phân bố các điều thiện xảo: The arrangement, which can arrange and distribute all skillful and good deeds.   

Tứ Chủng Quả Báo: Có bốn loại báo ứng—There are four kinds of retribution:

1)      Thuận Hiện Nghiệp Định Quả: Hành động gây ra báo ứng tức khắc—Action to receive retribution immediately.

2)      Thuận Hiện Nghiệp Bất Định Quả: Hành động gây báo ứng trong đời hiện tại (không nhứt định thời gian)—Action to receive retribution in the present life.

3)      Thuận Sinh Nghiệp: Hành động gây báo ứng trong đời sống kế tiếp—Action to receive retribution in the life to come.

4)      Thuận Hậu Nghiệp: Hành động gây báo ứng trong các đời sau, không nhứt định thời gian—Action to receive retribution  in one of the lives following the next.

Tứ Chủng Quán Hành: Theo Từ Bi Thủy Sám, có bốn loại quán hành, một phương pháp sám hối tu tập để làm phương tiện diệt tội—Four kinds of examination, a method of repentance as a way to get rid of any sin:

1)      Quán Nhân Duyên: To study the cause of the sin, which lies in ignorance, or lack of clear understanding.

2)      Quán Quả Báo; To study its ineviatable effect or its karma.

3)      Quán Tự Thân: To study oneself or introspection.

4)      Quán Như Lai Thân: To tudy the Tathagata in his perfec character, and saving power.

Tứ Chủng Sanh Tử: Four kinds of rebirths dependent on present deeds—See Bốn Loại Sanh Tử.

Tứ Chủng Tà Mệnh: Có bốn thứ tà mệnh—There are four improper ways of obtaining a living  on the part of a monk:

1)      Hạ Khẩu Thực: Trồng trọt, làm vườn, chế thuốc hay làm việc bằng tay chân để kiếm sống—To earn a livelihood by doing work with his hands.

2)      Ngưỡng Khẩu Thực: Làm nghề chiêm tinh hay ngước lên trời xem tinh tú, mặt trời, mặt trăng, xem gió mưa sấm sét—To earn a livelihood by astrology (looking up in the sky to talk about stars).

3)      Phương Khẩu Thực: Luồn cúi nịnh bợ (những nhà quyền thế giàu có để được họ ban cho ân huệ)—To earn a livelihod by flattery (rich people or powerful people).

4)      Duy Khẩu Thực: Dùng chú thuật, bói toán lành dữ để kiếm cơm áo—To earn a livelihood by magic, spells, or by fortune-telling. 

Tứ Chủng Tam Muội: Theo Liễu Dư Đại Sư, một cao tăng trong tông phái Tịnh Độ Trung Quốc, người niệm Phật khi đi đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng duy có một định thể là niệm Phật tam muội. Đây là cảnh hư linh sáng lặng, vọng giác tiêu tan, hành giả duy c̣n trụ tâm nơi tướng hảo hoặc hồng danh của Phật. Nhưng tuy nói trụ mà thật ra vô trụ, v́ âm thanh sắc tướng đương thể như huyễn, chính đó là không. Tướng tam muội ấy như thế nào?  Khi hành giả chuyên nhứt niệm Phật, quên hết thân tâm ngoại cảnh, tuyệt cả thời gian không gian, đến lúc sức lực cực công thuần, ngay nơi đương niệm trần vọng bỗng thoạt tiêu tan, tâm thể bừng sáng, chứng vào cảnh giới “Vô niệm vô bất niệm.” Cảnh ấy như hư không mây tan, trời xanh một vẻ, niệm, mà không niệm, không niệm mà niệm, không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật, có thấy biết tức lạc theo trần. Đến đây th́ nước bạc non xanh đều là chân đế, suối reo chim hót toàn diễn diệu thừa, tâm quang bao hàm muôn tượng mà không trụ một pháp, tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, đều c̣n đều mất, tuyệt đăi viên dung. Cảnh giới tam muội đại để là như thế, khó tả nên lời, duy chứng mới thể nghiệm được. Niệm Phật tam muội vẫn là một thể, nhưng để đi vào định cảnh ấy, người xưa đă căn cứ theo kinh, y nơi ư nghĩa và oai nghi hành tŕ mà chia thành bốn loại tam muội—According to Great Master Liu-Yu, a noted Chinese monk in the Pure Land School, when the practitioner assiduously recites the Buddha’s name with one-pointedness of mind, oblivious to body, mind and the external world, transcending time and space, and when he has exerted the utmost effort and reached the goal, right in the midst of present thought, worldly delusions suddenly disappear, the mind experiences sudden Enlightenment, attaining the realm of “No-Thought, No No-Thought.” That realm is like empty space, all clouds have dissipated, the sky is all blue, reciting is not reciting, not reciting is reciting, not seeing and knowing is truly seeing and knowing, to see and to know is to stray towards worldly dusts. At this stage, the silver water and green mountains are all Ultimate Truth, the babbling brooks and singing birds all express the wonderful Dharma. The light of the Mind encompasses ten thousand phenomena but does not dwell on any single dharma, still-but-illuminating, illuminating-but-still, existing and lost at the same time, all is perfect. The realm of samadhi is, in general, as just described. It is difficult to express in words, and only when we attain it do we experience it. Buddha Recitation Samadhi is always the same state. However, the ancients distinguished four variants: 

1)      Bát Chu Tam Muội: Pratyutpanna Samadhi (skt)—Bát Chu có nghĩa là “Phật lập.” Hành tŕ môn tam muội nầy có ba oai lực phù trợ: Oai lực của Phật, oai lực của pháp tam muội, và oai lực công đức của người tu. Khi thực hành Bát Chu Tam Muội, phải lấy chín mươi ngày làm một định kỳ. Trong thời gian ấy, ngày đêm hành giả chỉ đứng hoặc đi, tưởng Đức Phật A Di Đà hiện thân đứng trên đảnh ḿnh đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; hay miệng thường niệm danh hiệu Phật, tâm thường tưởng Phật không xen hở. Khi công thành trong tam muội hành giả thấy Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước ḿnh khuyến tấn khen ngợi. Bát Chu Tam Muội cũng gọi là “Thường Hành Đạo.” Người tu khi đi, mỗi bước mỗi tiếng đều không rời danh hiệu Phật, ba nghiệp hành tŕ không gián đoạn như ḍng nước chảy. Pháp nầy công đức rất cao, song chỉ bậc thượng căn mới kham tu tŕ, hạng người trung hạ và tinh lực yếu kém không thể thực hành nổi—When practicing this samadhi, the cultivator has three powers to assist him: the power of Amitabha Buddha, the power of the samadhi and the power of his own virtues. The unit of practice of this samadhi should be ninety days. In that span of time, day and night the practitioner just stands or walks around, visualizing Amitabha Buddha appearing as a body standing on the practitioner’s crown, replete with the thirty-two auspicious marks and the eighty beautiful characteristics. He may also recite Amitabha Buddha’s name continuously, while constantly visualizing Him. When practice is perfected, the cultivator, in samadhi, can see Amitabh Buddha and the Buddhas of the ten directions standing in front of him, praising and encouraging him. Pratyupanna is also called the “Constantly Walking Samadhi.” As the practitioner walks, each step, each word is inseparable from the name of Amitabha Buddha. His body, speech and mind are always practicing Buddha Recitation without interruption, like a continuous flow of water. This method brings very lofty benefits, but only those of high capacity have the endurance to practice it. Those of limited or moderate capacities or lacking in energy cannot pursue this difficult practice. 

2)      Nhất Hạnh Tam Muội: Single-Practice Samadhi—Nhất Hạnh có nghĩa là chuyên nhất về một hạnh. Khi tu môn tam muội nầy, hành giả thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng, hoặc niệm danh hiệu Đức A Di Đà. Lại tuy chỉ tu một hạnh mà được dung thông tṛn đủ tất cả hạnh, nên “Nhất Hạnh” cũng gọi là “Viên Hạnh.” Từ pháp tam muội nầy cho đến hai môn sau, ba hạng căn cơ đều có thể tu tập được—Single-Practice means specializing in one practice. When cultivating this samadhi, the practitioner customarily sits and concentrates either on visualizing Amitabha Buddha or on reciting His name. Although he actually cultivates only one practice, in effect, he achieves proficiency in all other practices; consequently, single-practice is also called “Perfected Practice.” This samadhi as well as the following two samadhis, can be put into practice by people of all capacities. 

3)      Pháp Hoa Tam Muội: Lotus-Blossom Samadhi—Đây là một trong mười sáu môn tam muội trong kinh Pháp Hoa, phẩm Diệu Âm Bồ Tát đă trần thuật. Theo ư chỉ của tông Thiên Thai, th́ ba để viên dung là “Pháp,” quyền thật không hai là “Hoa.” Ví như hoa sen khi cánh hoa quyền chưa nở, mà gương sen thật đă thành, gương với cánh đồng thời; nơi một đóa hoa mà gồm đủ ư nghĩa quyền và thật vậy. Nói theo tông Tịnh Độ th́  tức niệm là Phật, tức sắc là tâm; một câu niệm Phật gồm đủ tất cả ba đế, nhiếp cả thật quyền. Nếu tỏ ngộ lư nầy mà niệm Phật, gọi là tu hạnh Pháp Hoa Tam Muội. Khi tu môn tam muội nầy, hành giả dùng hai oai nghi ngồi và đi mà thay đổi để quán Phật hoặc niệm Phật, kỳ cho đến khi nào chứng nhập vào chánh định. Pháp nghi tu tập nầy lại có phần dễ hơn Nhất Hạnh Tam Muội—This is one of the sixteen samadhis explained in Chapter 24 of the Lotus Sutra. According to the T’ien-T’ai School, the ‘three truths’ (emptiness, conditional existence, the Middle Way) perfectly fused, are “Dharma,” while the Expedient and the True, being non-dual, are “blossom.” For example, when the petals (the Expedient) of the lotus blossom are not yet opened, its seeds (the True) are already formed; the seeds and the petals exist simultaneously. Thus, in a single flower, the full meaning of the True and the Expedient is examplified. In Pure Land terminology, we would say, “recitation is Buddha,” “form is Mind,” and one utterance of the Buddha’s name includes the “three truths,” encompassing the True and the Expedient. If we recite the Buddha’s name while understanding this principle, we are practicing the Lotus Blossom Samadhi. In cultivating this samadhi, the practitioner alternates between sitting and walking while visualizing Amitabha Buddha or reciting His name, to the point where he enters samadhi. This technique is somewhat easier than the Single-Practice Samadhi described above.    

4)      Tùy Tự Ư Tam Muội: Following One’s Inclinations Samadhi—Pháp thức nầy có nghĩa là tùy tâm hoặc đi đứng, hoặc nằm ngồi, đều nhiếp niệm không rời danh hiệu Đức A Di Đà để tu chứng vào tam muội. Hành nghi đây lại c̣n có tên là “Lưu Thủy Niệm Phật.” Ví như ḍng nước nơi sông cứ liên tục chảy măi, dù gặp cây đá ngăn cản, nó chỉ dội lại rồi t́m lối chảy tiếp. Thông thường người tu theo môn nầy, cứ mỗi buổi khuya lễ Phật A Di Đà bốn mươi tám lạy, Quán Âm, Thế Chí và Đại Hải Chúng mỗi danh hiệu đều bảy lạy, kế quỳ xuống sám hối. Rồi từ đó cho đến tối, lúc đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật, hoặc lần chuỗi ghi số, hoặc niệm suông, đến trước khi đi ngủ, lại lễ Phật một lần nữa và đem công đức tu trong ngày, mà phát nguyện hồi hướng văng sanh. Trong khi hành tŕ nếu có tiếp xúc với các duyên, khi qua rồi vẫn trở lại niệm Phật. Pháp tu nầy tuy tùy tiện dễ dàng, nhưng phải khéo tránh bớt duyên và tâm bền bĩ mới mong thành tựu—With this technique, we walk or stand, lie down or sit up as we wish, constantly focussing our thoughts and never abandoning the sacred name Amitabha Buddha, attaining samadhi in the process. This practice is also called “Flowing Water Buddha Recitation.” It is like water continuously flowing in a river; if it encounters an obstacle such as a rock or a tree, it simply bounces back and continues to flow around it.  Normally, the practitioner of this method, early each morning, bows forty-eight times to Amitabha Buddha, and seven times each to the Bodhisattva Avalokitesvara, the Bodhisattva Mahasthamaprapta, and the Ocean-Wide Assembly. He then kneels down to seek repentance. From then on until nightfall, whether walking, standing, lying down, or sitting up, he recites the Buddha’s name, either fingering the rosary or simply reciting. Before going to bed, he bows once more to Amitabha Buddha and dedicates the merits of the whole day’s practice toward rebirth in the Pure Land. If he is distracted during practice, he should resume recitation as soon as the circumstances of the distraction have passed. This method is flexible and easy, but the cultivator should minimize distracting conditions and have a good deal of perseverance.   

Tứ Chủng Táng: Four forms of burial—See Tứ Táng.

Tứ Chủng Tâm Vương: Catubbidha-citta (p)—Four classes of consciousness—See Bốn Loại Tâm Vương. 

Tứ Chủng Thiên: Bốn loại chư Thiên—Four classes of devas:

1)      Từ 1 đến 3 cũng giống như Tam Chủng Thiên: From 1 to 3 are similar to that of the three classes of devas—See Tam Chủng Thiên.

4)   Nghĩa Thiên: Tất cả Bồ Tát từ Thập trụ trở lên có thể ngộ giải được thâm nghĩa của Đại Thừa—All Bodhisattvas above  the  ten stages.

Tứ Chủng Thiền Định: Bốn loại thiền định—Four kinds of dhyana:

(A)

1)      Dục thần túc: Chanda-rddhi-pada, desire, or intensive longing, or concentration.

2)      Cần thần túc: Virya-rddhi-pada—Energy or intensified effort.

3)      Tâm thần túc: Citta-rddhi-pada—Memory or intense holding on to the position reached.

4)      Quán thần túc: Mimamsa-rddhi-pada—Meditation or survey, the state of dhyana.  

(B)     Theo Kinh Lăng Già—According to the Lankavatara Sutra:

1)      Quán Sát Nghĩa Thiền: Thiền định nhằm quán sát ư nghĩa—Dhyana that surveys the meanings.

2)      Ngu Phu Hành Thiền: Thiền định do phàm phu thực hành—Dhyana practiced by the ignorant.

3)      Như Như Thực Pháp Thiền: Thiền định dựa vào như như—Dhyana depending on suchness.

4)      Như Lai Thiền: Thiền định tính thuần của Như Lai—The Tathagata’s pure Dhyana.

Tứ Chủng Tín Tâm: Bốn loại tín tâm theo Khởi Tín Luận—Four kinds of faith given in the Awakening of Faith—See Tứ Tín Tâm in Vietnamese-English Section.

Tứ Chủng Tịnh Độ: Four kinds of Pure Land—See Bốn Cơi Tịnh Độ.

Tứ Chủng Tổng Tŕ: Bốn Loại Đà La Ni—Four kinds of Dharani:

1)      Pháp Đà La Ni: Pháp Tổng Tŕ—Dharma Dharani.

2)      Nghĩa Đà La Ni: Nghĩa Tổng Tŕ—Meaning Dharani. 

3)      Chú Đà La Ni: Chú Tổng Tŕ (Phật Giáo Tây Tạng)—Mantra Dharani (Tibetan Buddhism).

4)      Nhẫn Đà La Ni: Nhẫn Tổng Tŕ—Patience Dharani.

Tứ Chủng Vũ Trụ: Đạo Phật chủ trương rằng không có cái được tạo độc nhất và riêng rẽ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi lên đồng thời; vạn hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, và do đó tạo ra một bản đại ḥa tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ sẽ không toàn vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng không. Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản ḥa âm toàn hảo, nó được gọi là “Nhất Chân Pháp Giới,” vũ trụ của cái một và cái thực, hay “Liên Hoa Tạng.” Trong vũ trụ lư tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong ḥa điệu toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của các hữu khác. Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, mặc dù quan niệm viên dung và đồng khởi là vũ trụ, nó là một thuyết pháp giới duyên khởi, bản tính của hiện khởi là vũ trụ, nó là một thứ triết lư toàn thể tính của tất cả hiện hữu, hơn là triết học về nguyên khởi. Theo thuyết nầy, người ta phân biệt có bốn hạng vũ trụ—Buddhism holds that nothing was created singly or individually. All things in the universe, matter or mind, arose simultaneously, all things in its depending upon one another, the influence of each mutually permeating and thereby making a universe symphony of harmonious totality. If one item were lacking, the universe would not be complete; without the rest, one item cannot be. When the whole cosmos arrives at a harmony of perfection, it is called the “universe One and True,” or the “Lotus Store.” In this ideal universe all beings will be in perfect harmony, each finding no obstruction in the existence and activity of another. According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, although the idea of the interdependence and simultaneous rise of all things is called the Theory of Universe Causation, the nature of the rise being universal, it is rather a philosophy  of the totality of all existence than a philosophy of origination. According to this theory, four states of the universe are to be distinguished:

1)      Sự Pháp Giới, thế giới của đời sống hiện thực, hay thế giới kiện tính: The real, or the world of actual life, the factual world.

2)      Lư Pháp Giới, thế giới lư tưởng của định luật hay nguyên lư: The ideal, or the world of law or principle.

3)      Lư Sự Vô Ngại Pháp Giới, thế giới thể hiện lư trong sự; sự và lư cùng ḥa điệu: The idea realized, or the world in which the principle is applied in actual life, or the fact and the principle harmonized.

4)      Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới, thế giới tương giao ḥa điệu giữa chính các sự, các hiện thực. Trong thế giới hiện thực, sự pháp giới, chủ nghĩa cá nhân có cơ nổi bật; cạnh tranh, xung đột, tranh luận và tranh chấp cũng sẽ làm rối loạn sự ḥa điệu. Coi xung đột như chuyện đương nhiên, là đường lối của các nền triết học xưa nay. Đạo Phật dựng lên một thế giới trong đó đời sống hiện thực đạt tới chỗ ḥa điệu lư tưởng: The real harmonized, or the world in which actuality  attains harmony in itself.  In the actual world individualism is apt to predominate, and competition, conflict, dispute and struggle too often will disturb the harmony. To regard conflict as natural is the way of usual philosophies. Buddhism sets up a world in which actual life attains an ideal harmony. 

**   For more information, please see Tứ Pháp

       Giới. 

Tứ Cơi: Four realms—See Bốn Cơi.

Tứ Cổ: Bốn kim cang chùy—The four-armed svastika or thunderbolt.

Tứ Cú:

1)      Kệ bốn câu của Phật—Four lines of a Buddhist verse or gatha—The four terms, phrases or four line verses.

2)      See Tứ Cú Phân Biệt.

Tứ Cú Chấp: Catushkotika (skt)—Bốn thứ câu chấp của ngoại đạo—The four tenets held by various non-Buddhist schools:

1)      Thường Cú: Câu Thường—Ngoại đạo chấp cái ‘ngă’ trong quá khứ tức là cái ‘ngă’ trong hiện tại, tương tục chẳng gián đoạn, nên gọi là thường kiến hay thường cú—The permanence of ego, i.e. that the ego of past lives is the ego of the present.

2)      Vô Thường Cú: Câu Vô Thường—Ngoại đạo cho rằng cái ‘ngă’ đến đời nay mới sanh, chẳng phải sanh do cái nhân trong quá khứ, đây là đoạn kiến hay vô thường cú—Its permanence, i.e. that the present ego is of independent birth, not the result from the past causes.

3)      Diệc Thường Diệc Vô Thường Cú: Chấp rằng ‘ngă’ thường, ‘thân’ vô thường (nếu chấp như vậy th́ ĺa thân không có ngă)—Both permanent and impermanent, that the ego is permanent, the body is impermanent. 

4)      Phi Thường Phi Vô Thường Cú: Ngoại đạo cho rằng thân có khác nên là phi thường; ngă th́ không khác nên là phi vô thường—Neither permanent nor impermanent; that the body is impermanent, but the ego not impermanent.

Tứ Cú Phân Biệt: Catushkotika (skt)—Bốn câu phân biệt của vạn pháp—The four terms of differentiation of all things (four points of argumentation).

(A)   Tứ Cú Tam Luận Tông—The four points of argumentation of the Madhyamika School:

1)      Hữu: Hữu nhi bất không. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Phải”—The existing. If we express our answer, it must be “Yes.”

2)      Không: Không nhi bất hữu. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Không phải”—Non-existing. If we express our answer, it must be “No.”

3)      Diệc Hữu Diệc Không: Vừa Hữu vừa Không. Nếu chúng ta diễn tả câu trả lời, nó phải là “Vừa phải vừa không phải”—Both existing and non-existing. If we express our answer, it must be “Either yes or no according to circumstances.”

4)      Phi Hữu Phi Không: Chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. Nếu chúng ta diển tả câu trả lời, nó phải là “Vừa không phải, vừa không không phải,” nghĩa là không đề cập đến câu hỏi hay không cần phải trả lời—Neither existing nor Non-existing. If we express our answer, it must be “Neither yes nor no,” i.e., having nothing to do with the question or no use answering. 

(B)   Tứ Cú Thành Thật Tông—See Tứ Cú Phân Biệt (A).

1)      Lư: Noumenal.

2)      Sự: Phenomenal.

3)      Vừa Lư vừa Sự: Both Noumenal and Phenomenal.

4)      Phi Lư phi Sự: Neither Noumenal nor Phenomenal.

(C)

1)      Lưỡng: Double.

2)      Đơn: Single.

3)      Vừa Lưỡng vừa Đơn: Both Double and Single.

4)      Phi Lưỡng phi Đơn: Neither Double nor Single.

Tứ Cú Suy Kiểm: Dùng bốn câu để phân loại chư pháp—The four phrase classification of all phenomena:

1)      Tự Nhân: Self-caused.

2)      Tha Nhân: Caused by another.

3)      Cộng Nhân: Caused by both (self and another).

4)      Vô Nhân: Caused by neither.

**    For more information, please see Tứ Bất

        Sinh.

Tứ Cú Tam Luận Tông: Theo Tam Luận Tông, tứ cú là căn bản của mọi luận chứng—According to the San-Lun School, four points of argumentation are the bases of all arguments—See Tứ Cú Phân Biệt (A).

Tứ Cú Thành Đạo: Bốn câu thành đạo của một vị A La Hán, dựa vào vô sinh trí mà tụng đọc bốn câu kệ nầy—The swan-song of an arhat, who has attained to the perfect life:

            Các lậu đă hết,

All rebirths are ended,

Phạm hạnh đă lập;

The noble life established;

Việc làm đă xong.

My work is accomplished.

Chẳng thụ hữu lậu.

No further existence is mine.

Tứ Cúng Dường: Four kinds of offerings.

1)      Hợp Chưởng: Anjali (skt)—Salutation with joined palms—See Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

2)      Dâng Nước Thơm: Argha (skt)—Offering of fragrant water.

3)      Chân Ngôn Ấn Khế: Manual signs for the Buddha true words—See Ấn Khế.

4)      Vận Tâm: Vận tâm thành Phật—To practice one’s mind toward the Buddhahood.

Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội: Tứ Ba La Di—Tứ Trọng—Tứ Khí—See Tứ Đọa Lạc.

Tứ Dạ Bát Trú: The four hours of the night and the eight hours of the day:

(A)  Tứ Dạ từ 7 giờ tối đến 3 giờ sáng—The four hours of the night from 7:00 PM to 3:00 AM:

1)      Giờ Tuất (từ 7 đến 9 giờ tối): The hours of the Dog from 7:00 PM to 9:00 PM.

2)      Giờ Hợi (từ 9 đến 11 giờ tối): The hours of the Pig from 9:00 PM to 11:00 PM.

3)      Giờ Tư (từ 11 giờ tối đến 1 giờ sáng): The hours of the Rat from 11:00 PM to 1:00 AM.

4)      Giờ Sửu (từ 1 đến 3 giờ sáng): The hours of the Buffalo (or the Ox) from 1:00 AM to 3:00 AM. 

(B)  Bát Trú từ 3 giờ sáng đến 7 giờ tối—The eight hours of the day from 3:00 AM to 7:00 PM:

1)      Giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng): The hours of the Tiger from 3:00 AM to 5:00 AM.

2)      Giờ Mẹo (từ 5 đến 7 giờ sáng): The hours of the Cat (or the Rabbit) from 5:00 AM to 7:00 AM.

3)      Giờ Th́n (từ 7 đến 9 giờ sáng): The hours of the Dragon from 7:00 AM to 9:00 AM.

4)      Giờ Tỵ (từ 9 đến 11 giờ sáng): The hours of the Serpent from 9:00 AM to 11:00 AM.

5)      Giờ Ngọ (từ 11 giờ sáng đến 1 giờ trưa): The hours of the Horse from 11:00 AM to 1:00 PM.

6)      Giờ Mùi (từ 1 đến 3 giờ trưa): The hours of the Goat from 1:00 PM to 3:00 PM.

7)      Giờ Thân (từ 3 đến 5 giờ chiều): The hours of the Monkey from 3:00 PM to 5:00 PM.

8)      Giờ Dậu (từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối): The hours of the Cock from 5:00 PM to 7:00 PM. 

Tứ Dân: The four classes of people in the feudal society:

1)      Sĩ: Scholars.

2)      Nông: Farmers.

3)      Công: Craftsmen.

4)      Thương: Merchants.

Tứ Di Giới: Bốn tội Ba La Di—See Tứ Đọa.

Tứ Di Tội: Bốn tội Ba La Di—See Tứ Đọa.

Tứ Diện Tỳ Lô Giá Na: Bốn mặt của Đức Tỳ Lô Giá Na, Pháp thân trí tuệ của Ngài—The four-faced Vairocana, his dharmakaya of Wisdom.

Tứ Diệu Đế: Bốn chân lư nhiệm mầu trong giáo lư nhà Phật, nói rơ v́ đâu có khổ và con đường giải thoát. Người ta nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đă giảng bài pháp đầu tiên về “Tứ Diệu Đế” trong vườn Lộc Uyển, sau khi Ngài giác ngộ thành Phật. Trong đó Đức Phật đă tŕnh bày: “Cuộc sống chứa đầy đau khổ, những khổ đau đó đều có nguyên nhân, nguyên nhân của những khổ đau nầy có thể bị hủy diệt bằng con đường diệt khổ.”—Four Truths—The Four Noble Truths—The Four Philosophies—A fundamental doctrine of Buddhism which clarifies the cause of suffering and the way to emancipation. Sakyamuni Buddha is said to have expounded the Four Noble Truths in the Deer Park in Sarnath during his first sermon after attaining Buddhahood. The Buddha organized these ideas into the Fourfold Truth as follows: “Life consists entirely of suffering; suffering has causes; the causes of suffering can be extinguished; and there exists a way to extinguish the cause.”

1)      Khổ Đế: Duhkha-satya (skt)—Sự thật về khổ—Mọi hiện hữu đều có bản chất khổ chứ không mang lại toại nguyện (sự khổ vô biên vô hạn, sanh khổ, già khổ, bịnh khổ, chết khổ, thương yêu mà phải xa ĺa khổ, oán ghét mà cứ gặp nhau là khổ, cầu bất đắc khổ, vân vân. Khổ đeo theo ngũ uẩn như sắc thân, sự cảm thọ, tưởng tượng, h́nh ảnh, hành động, tri thức)—Suffering or the pain—The truth of suffering—All existence entails suffering—All existence is characterized by suffering and does not bring satisfaction.

2)      Tập Đế: Samudhaya-satya (skt)—Sự thật về căn nguyên của cái khổ—The truth of accumulation.

·        Tập Đế là sự thật rơ ràng về nguồn gốc của những nỗi khổ—Truth of the causes of suffering: Theo giáo lư nhà Phật, tham ái là nguyên nhân của đau khổ. Những dục vọng xấu xa nảy nở từ những việc vụn vặt trong gia đ́nh, lan ra ngoài xă hội, và nổ lớn thành chiến tranh giữa các chủng tộc, giữa các quốc gia, hay giữa những phe nhóm của các quốc gia trên thế giới—According to Buddhist tenets, craving or desire is the cause of suffering. It creates dissension in the family and society that degenerates into war between races, nations, and groups of nations in the world.

·        Ngu si là nguyên nhân của mọi cái khổ (sự ham sống làm cho chúng sanh cứ măi chết đi sống lại, hễ ham sống tất ham vui sướng, ham quyền thế, ham tài sản, càng được càng ham)—The truth of the origin of suffering or causes of suffering, or its location—All sufferings are caused by ignorance, which gives rise to craving and illusions (craving or grasping the wrong things), i.e. craving for life, for pleasure, for power, for wealth; the more he earns, the more he wants.

3)      Diệt Đế: Nirodha-satya (skt)—Chân lư diệt khổ—Cứu cánh diệt khổ là Niết bàn tịnh tịch (nếu chịu hạ ḷng tham xuống rồi bỏ nó đi, hay trục nó ra khỏi ḿnh th́ gọi là diệt)—The truth of the cessation of suffering (its cessation)—The truth of dissolution—Extinction of suffering—There is an end to suffering, and this state of no suffering is called Nirvana.

4)      Đạo Đế: Marga-satya (skt)—Chân lư về con đường diệt khổ, ấy là thực hành Bát Thánh đạo. Đức Phật đă dạy rằng: “Bất cứ ai chấp nhận Tứ Diệu Đế và chịu hành tŕ Bát Chánh Đạo, người ấy sẽ hết khổ và chấm dứt luân hồi sanh tử.”—The truth of the PATH that leads to the cessation of suffering (the way of cure)—The truth of the right way—The way of such extinction—To practice the Eight-fold Noble Truths—Buddha taught: “Whoever accepts the four dogmas, and practises the Eighfold Noble Path will put an end to births and deaths.

Tứ Dụ: Bốn dẫn dụ—The four metaphors of infinity:

1)      Sơn Cân: The weight of all the mountains in pounds.

2)      Hải Trích: The drops in the ocean.

3)      Địa Trần: The atoms of dust in the earth.

4)      Không Giới: The extent of space.

Tứ Dục: Four desires or passions:

1)      T́nh Dục: Bị lôi cuốn bởi t́nh dục—Sexual love.

2)      Sắc Dục: Bị lôi cuốn bởi sắc đẹp—Attractiveness or Sexual beauty.

3)      Thực Dục: Tham ăn ngon—craving, or lust for good food.

4)      Dâm Dục (nhục dục): Lust.

Tứ Duy: Bốn hướng phụ—The four half points (corners) of the compass:

1)      Đông Bắc: North-East.

2)      Tây Bắc: North-West.

3)      Đông Nam: South-East.

4)      Tây Nam: South-West.

Tứ Duyên Khởi: See Tứ Duyên Sanh.

Tứ Duyên Sanh: Tứ Duyên Khởi—Theo giáo thuyết tông Hoa Nghiêm, có bốn loại duyên khởi—According to the doctrine of the Hua-Yen sect, there are four principal uses of conditional causation:

1)      Nghiệp Cảm Duyên Khởi: Giáo lư duyên khởi của Tiểu Thừa, dưới ảnh hưởng của nghiệp điều kiện tái sanh nẩy sanh—The conditional causation of the Hinayana, i.e. under the influence of  karma the conditions of reincarnation arise—See Duyên Khởi (III) (1).

2)      Lại Da Duyên Khởi: Thủy giáo của Đại Thừa, tất cả vạn sự vạn vật đều khởi lên từ A Lại Da Thức hay Tàng Thức—The doctrine of the conditional causation of the Mahayana, that all things arise from the Alaya or fundamental store—See A Lại Da Thức, and Duyên Khởi (III) (2).

3)      Như Lai Tạng Duyên Khởi hay Chân Như Duyên Khởi: Chung Giáo của Đại Thừa, tất cả vạn sự vạn vật đều khởi lên từ Như Lai Tạng hay chân như—The doctrine of conditional causation of the advancing Mahayana, that all things arise from the Tathagata-Garbha or Bhutatathata—See Như Lai Tạng, and Duyên Khởi (III) (3).

4)      Pháp Giới Duyên Khởi: Viên Giáo (trừ Đốn Giáo v́ loại nầy theo tông chỉ ‘vô tướng ly ngôn’), trong đó một là tất cả, tất cả là một—The doctrine of conditional causation of Complete Mahayana, in which one is all and all are one, each being a universal cause—See Pháp Giới Duyên Khởi, and Duyên Khởi (III) (4).  

Tứ Dự Lưu Hướng Chi: Sotapattiyangani (p)—Four factors of Stream-Attainment—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn Dự Lưu Quả Chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four factors of Stream-Attainment:

1)      Thiện nhân thân cận (đi lại với thiện hữu tri thức): Sappurisa-samseva (p)—Association with good people.

2)      Diệu Pháp thính thọ (nghe Chánh Pháp): Hearing the true Dharma.

3)      Như lư tác ư: Thorough attention.

4)      Pháp tùy pháp hành (thực hành giáo pháp liên tục): Practicing of the Dharma in its entirety.

Tứ Dự Lưu Quả Chi: Four characteristics of a Stream-Winner—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn Dự Lưu Quả Chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four characteristics of a Stream-Winner:

1)      Thành Tựu Ḷng Tin Tuyệt Đối Với Phật: Ở đây Thánh đệ tử thành tựu ḷng tin tuyệt đối với Phật, đây là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật—Here, the Ariyan disciple is possessed of unwavering confidence in the Buddha, this: “This Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, endowed with wisdom and conduct, the Well-Farer, Knower of the worlds, incomparable Trainer of men to be tamed, Teachers of gods and humans, enlightened and blessed.

2)      Thành Tựu Ḷng Tin Tuyệt Đối Với Pháp: Vị nầy thành tựu ḷng tin tuyệt đối đối với Pháp, đây là Pháp được Đức Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới tự ḿnh giác hiểu—He is possessed of unwavering confidence in the Dharma, thus: “Well-proclaimed by the Lord is the Dharma, visible here and now, timeless, inviting inspection, leading onward, to be comprehended by the wise each one for himself.”

3)      Thành Tựu Ḷng Tin Tuyệt Đối Nơi Giáo Đoàn: Vị ấy thành tựu ḷng tin tuyệt đối nơi chúng Tăng. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ diệu hạnh, đầy đủ trực hạnh, đầy đủ như lư hạnh, đầy đủ chánh hạnh; đây là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời—He is possessed of unwavering confidence in the Sangha, thus: “Well-directed is the Sangha of the Lord’s disciples, of upright conduct, on the right path, on the perfect path; that is to say the four pairs of persons, the eight kinds of men. The Sangha of the Lord’s disciples is worthy of veneration, an unsurpassed field of merit in the world.”

4)      Thành Tựu Giới Đức Được Các Vị Thánh Ái Mộ: Vị nầy thành tựu giới đức được các bậc Thánh ái mộ, không bị hư hoại, không bị t́ vết, được thực hành liên tục, không bị khiếm khuyết, khiến con người tự tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng đến thiền định—He is possessed of morality dear to the Noble Ones, unbroken, without defect, unspotted, without inconsistency, liberating, praised by the wise, uncorrupted, and conducive to concentration.    

Tứ Đại: Catudhatuvavatthana (p)—Mahabhuta (skt)— Four tanmatra—Bốn yếu tố lớn cấu tạo nên vạn hữu. Bốn thành phần nầy không tách rời nhau mà liên quan chặt chẽ lẫn nhau. Tuy nhiên, thành phần nầy có thể có ưu thế hơn thành phần kia. Chúng luôn thay đổi chứ không bao giờ đứng yên một chỗ trong hai khoảnh khắc liên tiếp. Theo Phật giáo th́ vật chất chỉ tồn tại được trong khoảng thời gian của 17 chập tư tưởng, trong khi các khoa học gia th́ cho rằng vật chất chỉ chịu đựng được 10 phần 27 của một giây. Nói ǵ th́ nói, thân thể của chúng ta chỉ là tạm bợ, chỉ do nơi tứ đại ḥa hợp giả tạm lại mà hành, nên một khi chết đi rồi th́ thân tan về cát bụi, các chất nước th́ từ từ khô cạn để trả về cho thủy đại, hơi nóng tắt mất, và hơi thở hoàn lại cho gió. Chừng đó th́ thần thức sẽ phải theo các nghiệp lực đă gây tạo lúc c̣n sanh tiền mà chuyển vào trong sáu nẻo, cải h́nh, đổi xác, tiếp tục luân hồi không dứt—Four great elements of which all things are made (produce and maintain life). These four elements are interrelated and inseparable. However, one element may preponderate over another. They constantly change, not remaining the same even for two consecutive moments. According to Buddhism, matter endures only for 17 thought-moments, while scientists tell us that matter endures only for 10/27th of a second. No matter what we say, a human body is temporary; it is created artificially through the accumulation of the four elements. Once death arrives, the body deteriorates to return to the soil, water-based substances will gradually dry up and return to the great water, the element of fire is lost and the body becomes cold, and the great wind no longer works within the body. At that time, the spirit must follow the karma each person has created while living to change lives and be reincarnated into the six realms, altering image, exchange body, etc in the cylce of births and deaths—Four constituents:

1)      Địa Đại (Kiên): Prithin (skt)—Pathavi (p)—Đất (tóc, răng, móng, da, thịt, xương, thận, tim, gan, bụng, lá lách, phổi, bao tử, ruột, phẩn, và những chất cứng khác). Địa Đại là thành phần vật chất mở rộng hay thể nền của vật chất. Không có nó vật thể không có h́nh tướng và không thể choán khoảng không. Tính chất cứng và mềm là hai điều kiện của thành phần nầy. Sau khi chúng ta chết đi rồi th́ những thứ nầy lần lượt tan ră ra thành cát bụi, nên nó thuộc về Địa Đại—Earth—Solid matter. Prithin means the element of extension, the substratum of matter. Without it objects have no form, nor can they occupy space. The qualities of hardness and softness are two conditions of this element. After death, these parts will decay and deteriorate to become soil. For this reason, they belong to the Great Soil.   

2)      Thủy Đại (Thấp): Apas (skt)—Apo (p)—Nước (đàm, mủ, máu, mồ hôi, nước tiểu, nước mắt, nước trong máu, mũi dăi, tất cả các chất nước trong người nói chung). Không giống như địa đại, nó không thể nắm được. Thủy đại giúp cho các nguyên tử vật chất kết hợp lại với nhau. Sau khi ta chết đi rồi th́ những chất nước nầy  thảy đều cạn khô không c̣n nữa, nói cách khác chúng hoàn trả về cho nước—Water, fluidity, or liquid. Unlike the earth element it is intangible. It is the element which enables the scattered atoms of matter to cohere together. After death, these water-based substances will dry up. In other words, they have returned to water. 

3)      Hỏa Đại (Noăn): Tjas (skt)—Tejo (p)—Lửa (những món gây ra sức nóng để làm ấm thân và làm tiêu hóa những thứ ta ăn uống vào). Hỏa đại bao gồm cả hơi nóng lạnh, và chúng có sức mạnh làm xác thân tăng trưởng, chúng là năng lượng sinh khí. Sự bảo tồn và phân hủy là do thành phần nầy.Sau khi ta chết, chất lửa trong người tắt mất, v́ thế nên thân xác dần dần lạnh—Fire or heat. Fire element includes both heat and cold, and fire element possesses the power of maturing bodies, they are vitalizing energy. Preservation and decay are due to this element.  After death, the element of fire is lost and the body gradually becomes cold.

4)      Phong Đại (Động): Vayu (skt)—Vayo (p)—Gió (những chất hơi thường lay chuyển, hơi trong bao tử, hơi trong ruột, hơi trong phổi). Gió là thành phần chuyển động trong thân thể. Sau khi ta chết rồi th́ hơi thở dứt bặt, thân thể cứng đơ v́ phong đại đă ngừng không c̣n lưu hành trong cơ thể nữa—Air, wind, motion, or energy of motion. Air element is the element of motion in the body. After death, breathing ceases, body functions become catatonic or completely rigid because the great wind no longer works within the body.

Tứ Đại Bất Điều: Bốn yếu tố lớn không ḥa hợp với nhau sẽ khiến cho cơ thể sanh ra 440 thứ bệnh hoạn—The inharmonious working of the four elements in the body, which causes the 440 ailments.

Tứ Đại Bồ Tát Trong Kinh Pháp Hoa: Bốn vị Bồ Tát lớn trong Kinh Pháp Hoa—Four Great Bodhisattvas of Lotus Sutra:

(A)

1)      Di Lặc Bồ Tát: Maitreya.

2)      Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Manjusri.

3)      Quán Thế Âm Bồ Tát: Avalokitesvara.

4)      Đại Thế Chí Bồ Tát: Samantabhadra.

(B)

1)      Thượng Hạnh: Visistacaritra.

2)      Vô Biên Hạnh: Anantacaritra.

3)      Tịnh Hạnh: Visuddhacaritra.

4)      An Lập Hạnh: Supratisthitacaritra.   

Tứ Đại Bộ Châu: The four great continents of the world—See Tứ Châu.

Tứ Đại Bộ Kinh: Four great sutras:

1)       Hoa Nghiêm: Avatamsaka Sutra—The Flower Ornament Scripture.

2)      Bảo Tích: Maharatnakuta.

3)      Bát Nhă: Prajna.

4)      Niết Bàn: Nirvana.

Tứ Đại Châu: The four great continents of the world—See Tứ Châu.

Tứ Đại Chủng: See Tứ Đại.

Tứ Đại Danh Sơn: Bốn ngọn núi hay bốn tự viện nổi tiếng bên Trung Quốc—The four famous hills or monasteries in China:

1)      Phổ Đà Sơn: Chỗ ở của Đức Quán Âm, tiêu biểu cho Thủy Đại—P’u-T’o Shan, for Kuan-Yin, element water.

2)      Ngũ Đài Sơn: Chỗ ở của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tiêu biểu cho Phong Đại—Wu-T’ai Shan, for Manjusri (Wên-Shu), element Wind.

3)      Nga Mi Sơn: Chỗ ở của Ngài Phổ Hiền, tiêu biểu cho Hỏa Đại—O-Mei Shan, for Samantabhadra (P’u-Hsien), element Fire.

4)      Cửu Hoa Sơn: Chỗ ở của Ngài Địa Tạng Bồ Tát—Chiu-Hua Shan, for Earth-Store Bodhisattva (Ti-Tsang), element Earth.

Tứ Đại Đệ Tử: Bốn đệ tử lớn của Đức Phật—Four great disciples of the Buddha:

(A)

1)      Sariputra: Xá Lợi Phất (đệ nhứt trí huệ).

2)      Mahamaudgalyayana: Ma Ha Mục Kiền Liên (đệ nhứt thần thông).

3)      Subhuti: Tu Bồ Đề (đệ nhứt hạnh không).

4)      Mahakasyapa: Ma Ha Ca Diếp (đệ nhứt khổ hạnh).

(B)

1)      Ma Ha Ca Diếp: Mahakasyapa.

2)      Tân Đầu Lư: Pindola.

3)      La Hầu La: Rahula.

4)      Quân Đề Bạt Thán: Kaundinya.

Tứ Đại Đệ Tử Phật: See Tứ Đại Đệ Tử.

Tứ Đại Hải: Bốn biển lớn ở bốn phía của núi Tu Di, trong mỗi biển lớn đều có một đại châu—The four great oceans in a world, around Sumeru, in which are the four great continents.

** For more information, please see Tứ Châu.

Tứ Đại Hộ Pháp: The four great guardian devas of the four quarters:

1)      Kim Cang Vô Thắng Kết Hộ: South Guardian deva.

2)      Vô Úy Kết Hộ: East guardian deva.

3)      Hoại Chư Bố Kết Hộ: North guardian deva.

4)      Nan Giáng Phục Kết Hộ: West guardian deva.

Tứ Đại Minh Vương: Bốn vị thiên vương trị v́ bốn hướng, thường hộ pháp trong các tự viện—The four deva-kings of the four quarters, guardians in a monastery—See Tứ Thiên Vương.

Tứ Đại Nguyên Vô Chủ: Triệu Pháp Sư, đời Diêu Tần vào thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, lúc gần tịch có làm bài kệ—The verse uttered by Chao Fa-Shih when facing death under the Yao-Ch’in Emperor, fourth century AD:

    Tứ đại nguyên vô chủ,

    No master have the four elements,

    Ngũ uẩn giai không,

    Unreal are the five skandhas,

    Khi đầu đáo bạch đao,

    When my head meets the white blade,

    Mới biết ḿnh đang xẻ gió Xuân.

    T’will be but slicing the spring wind.

Tứ Đại Phật Hộ Viện: Nhóm thứ mười ba trong Thai Tạng Giới—The thirteen group of the Garbhadhatu.

Tứ Đại Phiền Năo: Four fundamental evil passions—Bốn thứ nầy được xem là những phiền năo căn bản bắt nguồn từ kiến giải cho rằng thực sự có một bản thể được gọi là ngă-linh hồn thường hằng—These four are regarded as the fundamental evil passions originating from the view that there is really an eternal substance known as ego-soul. 

1)      Ngă Kiến: Atmadrishti (skt)—Tin vào sự hiện hữu của một ngă thể—The belief in the existence of an ego-substance.

2)      Ngă Si: Atmamoha (skt)—Sự mê muội về cái nhă—Ignorance about the ego.

3)      Ngă Mạn: Atmamana (skt)—Kiêu mạn về cái ngă—Conceit about the ego.

4)      Ngă Ái: Atmasukha (skt)—Tự yêu thương ḿnh—Self-love.

Tứ Đại Sư: Bốn vị sư đứng đầu trong tự viện, được nhà vua chính thức bổ nhiệm (dưới thời nhà Đường)—The four monastic heads imperially appointed during the T’ang dynasty.

Tứ Đại Thanh Văn: Bốn vị Thanh văn vào thời Đức Phật—The four great sravakas—See Tứ Đại Đệ Tử.

Tứ Đại Thiên Vương: Catummaharajika (p)—Gồm bốn chi đối lại với bốn hướng; mỗi hướng được ngự trị bởi những Đại Thiên Vương và các á thần—The Realm of the Four Great Kings  which has four divisions corresponding to the four directions (quarters); each is ruled over by its own guardian deity and inhabited by a different class of demi gods--See Tứ Thiên Vương.

Tứ Đại Tứ Vương: Catur-maharajas or Lokapalas (skt)—Bốn vị Thiên Vương trị v́ quanh núi Tu Di, canh giữ sự tấn công của ác thần hay A-Tu-La, v́ vậy có tên là Hộ Thế Tứ Thiên Vương—The four deva-kings. Indra’s external ‘generals’ who dwell each on a side of Mount Meru, and who ward off from the world the attacks of malicious spirits, or asuras, hence they obtained their names as the four deva-kings or the guardians of the world—See Tứ Thiên Vương. 

Tứ Đại Vương Thiên: Catur-maharaja-kayikas (skt)—Bốn cơi trời của bốn vị Thiên Vương—The four heavens of the four deva-kings--See Tứ Thiên Vương.

Tứ Đàn Pháp: Four kinds of altar-worship—See Tứ Chủng Đàn Pháp.

Tứ Đao Lợi Giao H́nh: Sự giao h́nh (hay giao hợp) giữa nhất và nhị thiên, như giữ Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên—Copulation in the first and the second devalokas, i.e. the four heavenly kings (catur-maharajas) and the Trimyastrimsas:

1)      Tam Thiên giao h́nh bằng cách ôm nhau: In the third, it is by embrace.

2)      Tứ Thiên giao h́nh bằng cách nắm tay: In the fourth, by holding hands.

3)      Ngũ Thiên giao h́nh bằng cách cùng cười: In the fifth, by mutual smiling.

4)      Lục Thiên giao h́nh bằng cách cùng ngó nhau: In the sixth, by a mutual look.   

Tứ Đảo: The four viparvaya (inverted or false beliefs)—See Tứ Điên Đảo.

Tứ Đạo: Bốn con đường hay bốn cách tu hành dẫn đến Niết Bàn—The four modes of progress or stages—The “Tao” or road means the nirvana-road:

1)      Gia Hạnh Đạo: Ra sức thực hành tam học vị, tam hiền, tứ thiện căn đến tam tu giới định tuệ. Giai đoạn nầy liên hệ tới Thánh quả dự lưu Tu Đà Hườn—Discipline or effort to cultivate from the four good roots to the three studies (morality, meditation and wisdom). This stage associated with the stage of a Srota-apanna.

2)      Vô Gián Đạo: Hành vi phát chánh trí đoạn trừ phiền năo sau khi công đức gia hạnh đă thành tựu. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn của nhị Thánh Tư Đà Hàm—Uninterrupted progress to the stage in which all delusion is banished. This stage associated with the stage of a Sakrdagamin.

3)      Giải Thoát Đạo: Hành vi sanh nhất niệm chánh trí và chứng ngộ chân lư sau khi đă thành tựu vô gián đạo. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn của Tam quả A Na Hàm—Liberation or freedom, reaching the state of assurance or proof and knowledge of the truth. This stage associated with the stage of an Anagamin.

4)      Thắng Tiến Đạo: Hành vi ngày càng tăng tiến để tăng trưởng định tuệ sau khi đă thành tựu giải thoát đạo. Giai đoạn nầy liên hệ tới giai đoạn thành tựu của bậc A La Hán—Surpassing progress in dhyana-wisdom. This stage associates with the stage of an Arhat.

Tứ Đáp: The Buddha’s four methods of dealings with questions—See Tứ Kư.

Tứ Đạt: Saindhava (skt)—Tiên Đà Bà—Bốn thứ cần thiết—The four neccesaries:

1)      Muối cho thức ăn: Salt for food.

2)      Nước để rửa rái: Water for washing.

3)      B́nh đựng nước: A utensil or a vessel to contain water.

4)      Ngựa để làm phương tiện hoằng hóa: A horse for progress in spreading the Buddha-truth.

Tứ Đẳng:

(A) Chư Phật Tứ Đẳng: Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả)—The four virtues which a Buddha out of his infinte heart manifest equally to all:

1)      Tự Đẳng: Chư Phật ba đời đều có một danh hiệu như nhau (đều được gọi là Phật)—All Buddhas have the same title or titles.

2)      Ngữ Đẳng: Chư Phật ba đời đều dùng một thứ ngôn ngữ mà giảng thuyết (Phạn Ngữ)—All the Buddhas speak the same language (Sanskrit).

3)      Pháp Đẳng: Chư Phật ba đời đều được ba mươi bảy phẩm trợ đạo như nhau—All Buddhas proclaim the same truth (thirty-seven aids to enlightenment)—See Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.

4)      Thân Đẳng: Chư Phật ba đời đều có ba thân (Pháp, Báo, Hóa) như nhau—All Buddhas have each the threefold body or trikaya. 

(B)

1)      Chư Pháp Tứ Đẳng Kể Cả Chân Như: All things are equally included in the Bhutatathata.

2)      Phát Tâm Đẳng: Lư tính sở y b́nh đẳng, nên tâm năng phát cũng b́nh đẳng—The mind nature being universal, its field of action is universal.

3)      Đạo Đẳng: Phát tâm b́nh đẳng, nên đạo sở hành cũng b́nh đẳng—The way or method is also universal.

4)      Từ Bi Đẳng: Đạo sở hành b́nh đẳng, nên đức từ bi được thể hiện ra khi đắc đạo cũng b́nh đẳng—The mercy of the Buddhas is universal for all.

Tứ Đế: Catvari-arya-satyani—Bốn giáo thuyết căn bản của Đức Phật Thích Ca, gồm có khổ, tập, diệt, đạo—The four dogmas or noble truths—The primary fundamental doctrine of Sakyamuni, including suffering, the cause of suffering, the possibility of its cure or extinction, and the way to extinction.

** For more information, please see Tứ Diệu

     Đế and Tứ Thánh Đế, and Bát Chánh Đạo

     in Vietnamese-English Section.

Tứ Đế Kinh: Kinh Tứ Đế được Ngài An Thế Cao soạn, một quyển—The sutra of the four dogmas, composed by An-Shih-Kao, one book.

Tứ Đệ Nhứt Kệ: Đệ nhứt nghĩa kệ bốn câu trong Trang Nghiêm Luận—A verse from the Chuang-Yen-Luan:

         Sức khỏe là tài sản đệ nhứt,

         Health is the best wealth,

         Tri túc là giàu có đệ nhứt,

         Contentment the best riches,       

       T́nh bằng hữu là liên hệ đệ nhứt,    

        Friendship the best relationship,

         Niết Bàn là hỷ lạc đệ nhứt.

         Nirvana the best joy.       

Tứ Điên Đảo: The four viparvaya—Four inverted, upside-down, or false beliefs—Bốn lối suy nghĩ điên đảo khiến cho chúng sanh xoay vần trong sanh tử. Trong bốn điên đảo nầy, mỗi điên đảo đều có thể được cảm thọ theo ba cách—Four ways of upside-down thinking that cause one to resolve in the birth and death.

(A)

1)      Thường: Vô thường mà cho là thường; thường mà cho là vô thường—Permanent (Buddhist doctrine emphasizes that all is impermanent. Only Nirvana is permanent—Mistaking the impermanent for the permanent.

2)      Lạc: Khổ mà cho là lạc; lạc th́ lại cho là khổ—Joy (All is suffering. Only Nirvana is joy—Mistaking what is not bliss for bliss.

3)      Ngă: Vô ngă mà cho là ngă; hữu ngă mà cho là vô ngă—Self or personal (All is non-self or without a soul—Mistaking what is not self for self.

4)      Tịnh: Bất tịnh mà cho là tịnh; t́nh mà cho là bất tịnh—Purity (All is impure. Only Nirvana is pure—Mistaking what is impure for pure.

(B)

1)      Tham: Greed.

2)      Sân: Hatred.

3)      Si: Stupidity.

4)      Mạn: Pride.

(D)  Theo niềm tin thông thường của Phật giáo, nhưng bị truyền thống giáo lư nguyên thủy chối bỏ—According to the common Buddhist belief, which denied by the early Budhist doctrine:

1)      Vô Thường: Impermanent—Trước hết chúng ta  bị đánh lừa bởi những bộ mặt tạm bợ bên ngoài của sự vật. Chúng không lộ vẻ là đang thay đổi, chứng tỏ ổn định trước các giác quan hay các căn si muội của chúng ta. Chúng ta không cảm nhận những quá tŕnh trong biến dịch sinh động mà chỉ cảm nhận những thực thể đang tiếp tục tồn tại như chúng ta tưởng. Sự tương tự, v́ lẽ nó cho thấy một chuỗi biến dịch theo một hướng cho sẵn, nên thường bị nhận lầm là sự giống y. Nếu sự hiểu biết sai lạc nầy bén rễ  vững chắc trong tâm ta, th́ mọi sự chấp thủ và ham muốn sự vật và con người sẽ được h́nh thành và chúng sẽ được mang theo nhiều phiền muộn, v́ nh́n sự vật và con người theo cách nầy th́ chính là nh́n chúng qua một tấm gương méo mó. Đấy không phải là nh́n chúng một cách dúng đắn, đấy là nh́n chúng một cách điên đảo mà xem như là thường hằng vậy—We are deceived by the momentary exterior appearance of things. They do not appear to be changing; they appear to our delusion-dulled sense as static. We do not perceive processes in dynamic change but only as we think, entities which go on existing. Similarity, due to a line of change in a given direction, is often mistaken for sameness. If this misapprehension is firmly rooted in our mind, all sorts of attachments and cravings for things and people, including attachment to oneself will be formed and these bring them much sorrow, for to regard things and people in this way is to regard them as through a distorting glass. It is not seeing them correctly, it is seeing them invertedly as though permanent.

2)      Khổ: Sufering—Khổ đau xuất hiện một cách điên đảo thành ra lạc thú. Như vậy con người phung phí nhiều đời sống quư báu của họ vào “lạc thú” này hay “lạc thú” khác v́ họ không bao giờ thỏa măn được những ǵ họ khao khát nên họ bị đẩy đưa từ sự việc này sang sự việc khác. “Lạc thú” có thể sản sinh ra những cảm thọ thoải mái nhất thời của hạnh phúc trần tục, nhưng chúng luôn luôn được nối tiếp bằng chán nản, hối tiếc, mong cầu một cảm xúc khác nữa, biểu thị sự vắng bóng của một thỏa măn thật sự. Những ai thích thú trong tham, sân, si hiển nhiên là những kẻ đang nỗ lực một cách điên đảo để hưởng thọ những ǵ không thể hưởng thọ. Khổ đau đi liền với bất cứ trạng thái nào có tham, sân, si nhập vào. Không thể mong có được sự thỏa măn khi có sự vận hành của ba căn bản bất thiện ấy, v́ ba căn bản nầy luôn vận hành quanh những ǵ vốn tự bản chất đă là khổ đau—The unsatisfactory invertedly appears to be pleasant. Thus people fritter away much of their precious lives  on this or that ‘pleasure’ and as they never actually get the satisfaction they crave for, so they are driven on from one thing to another. ‘Pleasures’ may produce temporary feelings of ease, of worldly happiness, but they are always linked to succeeding disappointment, regret, longing for some other emotion indicating an absence of real satisfaction. Those who actually rejoice in Greed, Aversion or Delusion are of course, invertedly trying to enjoy what  is not enjoyable. Dukkha is linked to any mental state into which the above Three roots enter.  Nothing really satisfactory can be expected where they operate as they certainly do in turning round what is by nature unsatisfactory and making it appear the opposite.  

3)      Vô Ngă: Impersonal—Theo Phật giáo, chúng sanh kể cả con người, có là do nhân duyên ḥa hợp, một sự ḥa hợp của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Khi năm uẩn tập hợp th́ gọi là sống, khi năm uẩn tan ră th́ gọi là chết. Điều nầy Đức Phật gọi là “vô ngă.”—Sentient beings including human beings come into being under the law of conditioning, by the union of five aggregates or skandhas (material form, feeling, perception, mental formation or dispositions, and consciousness). When these aggregates are combined together, they sustain life; if they disintegrate, the body will die.  This the Buddha called “Impersonal.”—See Vô Ngă.

4)      Bất Tịnh: Impure. 

**   For more information, please Tam Điên

       Đảo, Thất Điên Đảo, and Bát Điên Đảo in

       Vietnamese-English Section.

Tứ Điền: Bốn mảnh ruộng phước điền—The four fields for cultivating happiness (blessing)—See  Tứ phước điền:

1)      To animals: Nơi súc sanh.

2)      To the poor: Cho người nghèo.

3)      To parents: Với song thân.

4)      To the religion: Cho việc hoằng dương chánh pháp. 

Tứ Định: Tứ Thiền Thiên và Tứ Thiền tương ứng—The four dhyana havens of form, and the four degrees of dhyana corresponding to them—See Tứ Thiền Thiên.

Tứ Đọa: Parajikas (skt)—Tứ Ba La Di—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Tứ Khí—Tứ Trọng—Những tội lỗi mà chư Tăng Ni có thể phạm phải được xếp theo mức độ nặng nhẹ. Các lỗi nặng nhất được xếp dưới tiêu đề Ba La Di (Parajika), khiến phải bị trục xuất ra khỏi Tăng Ni chúng. Chữ Parajika được lấy từ gốc chữ Bắc Phạn Para và Jika có nghĩa là ĐỌA. Tứ Đọa có nghĩa là bốn tội Ba La Di thoái đọa pháp phải bị khai trừ khỏi Tăng Chúng. Theo quan điểm xuất gia của Phật giáo th́ những vi phạm nầy được xem là có tính chất nghiêm trọng. Bất cứ vị Tăng nào, bất kể thứ bậc và thâm niên trong Giáo Đoàn, hễ phạm phải một trong Tứ Ba La Di nầy sẽ bị trục xuất khỏi Giáo Đoàn. Một khi bị trục xuất sẽ không bao giờ được phép trở lại Giáo Đoàn (bất cứ hệ phái nào trong Phật Giáo). Những vị nầy sẽ vĩnh viễn bị đọa lạc. V́ thế mà Đức Phật khuyến cáo chư Tăng Ni phải cẩn trọng đừng để vướng phải một trong Tứ Ba La Di nầy—The four grave prohibitions or sins—The offences that may be committed by monks and nuns have been classified according to their gravity. The worst offences grouped under the heading “Parajika,” which entailed the expulsion of the guilty from the community of monks and nuns. The word Parajika is derived from the Sanskrit root Para and Jika which means that makes DEFEAT. Four parajikas mean four causes of falling from grace and final excommunication or expulsion of a monk or nun. According to the monastic point of view, these offences are regarded as very serious in nature. Any monks, regardless of their ranks and years in the Order, violate any one of these offences, are subject to expulsion from the Order. Once they are expelled, they are never allowed to join the Order again. They are defeated forever. Therefore, the Buddha cautioned all monks and nuns not to indulge in any one of them:

(A)  Theo Đại Thừa và Tiểu Thừa—According to the Mahayana and Hinayana:

1)      Sát: Giết hại chúng sanh—Vadha-himsa (skt)—Killing—See Sát Sanh.

2)      Đạo: Trộm Cắp—Adattadana (skt)—Stealing—See Trộm Cắp.

3)      Dâm Dục: Phạm tội thông dâm—Abrahmacarya (skt)—Adultery—Sexual immorality or bestiality—See Dâm.

4)      Vọng: Vọng ngữ hay nói dối—Uttaramanusyadharma-pralapa (skt)—False speaking—Falsity—See Nói Dối, and Nói Lời Đâm Thọc. 

(B)  Theo Mật Giáo—According to the Esoteric sect:

1)      Xả Chánh Pháp: Phế bỏ Chánh Pháp—Discarding the truth.

2)      Xả Bồ Đề Tâm: Phế bỏ Bồ Đề tâm—Discarding the Bodhi-mind.

3)      Khan Lận Thắng Pháp: Ích kỷ trong việc truyền bá Chánh Pháp—Being mean or selfish in regard to the supreme law.

4)      Năo Hại Chúng Sanh: Làm tổn hại đến chúng sanh—Injuring the living.

Tứ Đọa Lạc Pháp: See Tứ Đọa.

Tứ Đoạn: Four cuts—See Tứ Giới (D).

Tứ Đoạt Niệm Phật: Buddha Recitation and the Four Realizations—Theo Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, môn niệm Phật văng sanh là giáo pháp viên đốn Đại thừa bởi người tu lấy sự giác ngộ quả địa làm điểm phát tâm ở nhân địa. Từ một phàm phu trong tứ sanh lục đạo, nhờ Phật tiếp dẫn mà lên ngôi Bất Thối, đồng hàng với bậc thượng vị Bồ Tát; nếu chẳng phải chính miệng Phật nói ra, ai có thể tin được? Bởi muốn vào vị sơ trụ lên ngôi Tín Bất Thối, người tu các giáo môn khác phải trải qua một muôn kiếp mà mỗi đời đều phải liên tục tinh tấn tu hành. Nếu nói đến vị Bất Thối, Hạnh Bất Thối, Niệm Bất Thối lại c̣n xa nữa! Về môn Tịnh Độ, hành giả đă tin Phật lực lại dùng hết tự lực, tất muôn người tu muôn người văng sanh, siêu thoát khỏi luân hồi không c̣n thối chuyển. Nếu dùng hạnh niệm Phật để phát minh tâm địa, ngộ tánh bản lai, th́ Tịnh Độ tông không khác với các tông phái kia. C̣n dùng Tịnh Độ để văng sanh cơi Phật th́ Tịnh Độ lại có phần đặc biệt hơn. Tịnh Độ có môn Tứ Đoạt mà các tông khác không có. Chữ “Đoạt” có nghĩa là thông suốt lư thể. Bởi toàn thể pháp giới là nhất tâm, người và cảnh đều như huyễn, nếu thấy có người văng sanh, có cảnh để sanh về, là c̣n chấp nhơn chấp pháp, phân biệt kia đây, nên gọi là không đoạt, tức không thông suốt lư thể. Và trái lại, tức là đoạt. Cổ đức nói: “Có niệm đồng không niệm. Không sanh tức là sanh. Chẳng phiền dời nửa bước. Thân đến giác vương thành” là ư nầy vậy. Người và cảnh đều đoạt là mức cao tuyệt của hành giả niệm Phật. Nhưng y theo ba kinh Tịnh Độ và Thiên Thân Luận (Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Vô Lượng Thọ, và Quán Vô Lượng Thọ—Thiên Thân Luận, Tứ Văng Sanh Luận hay Vô Lượng Thọ Kinh Luận) th́ nên lấy “người và cảnh đều không đoạt” làm tông, mới hợp với ư nghĩa của hai chữ văng sanh. Bởi Đức Như Lai biết hàng phàm phu ở cơi ngũ trược, nhứt là vào thời mạt pháp nầy, nghiệp chướng sâu nặng, nên Ngài lập cảnh tướng để cho chúng sanh y theo đó trụ tâm tu hành, c̣n khó có kết quả nói chi đến việc ĺa tướng? . Phàm phu thời mạt pháp trụ tướng mà tu tất hạnh nguyện dễ khẩn thiết, kết quả văng sanh cũng dễ đoạt thành. Khi về Tây Phương chừng ấy lo ǵ không được chứng vào cơi vô sanh vô tướng? Nếu chưa phải là bậc thượng căn lợi trí, vội muốn cầu cao ĺa tướng tu hành, tất tâm không nương vào đâu để sanh niệm khẩn thiết, nguyện đă không thiết làm sao được văng sanh. Không văng sanh th́ làm sao thoát được cảnh luân hồi khổ lụy? Ấy là muốn mau mà trở thành chậm, muốn cao trái lại thấp, muốn khéo hóa ra vụng. Nhiều kẻ ưa nói huyền lư, thường bác rằng: “Niệm Phật cầu sanh là chấp tướng ngoài tâm t́m pháp, chẳng rơ các pháp đều duy tâm.” Những người nầy ư muốn diệu huyền, nhưng kỳ thật lại thành thiển cận. Bởi họ không rơ Ta Bà đă duy tâm th́ Cực Lạc cũng duy tâm, tất cả đâu ngoài chân tâm mà có? Vậy th́ niệm Phật A Di Đà là niệm Đức Phật trong tâm tánh ḿnh, về Cực Lạc tức là về nơi cảnh giới của tự tâm, chớ đâu phải ở ngoài? Ta Bà và Cực Lạc đều không ngoài tâm, th́ ở Ta Bà để chịu sự điên đảo luân hồi, bị ngọn lửa ngũ trược đốt thiêu, sao bằng về Cực Lạc an vui, hưởng cảnh thanh lương tự tại. Nên biết đúng tư cảnh để tôn sùng duy tâm tịnh độ, phải là bậc đă chứng pháp-tánh-thân, mới có thể tự tại trong mọi hoàn cảnh. Chừng đó dù trụ nơi Ta bà hay Cực Lạc cũng đều là Tịnh Độ, là duy tâm, là giải thoát cả. Bằng chẳng thế th́ dù cho có nói huyền nói diệu thế nào vẫn không khỏi sự hôn mê khi cách ấm, rồi tùy nghiệp luân hồi chịu khổ mà thôi. Chính v́ thế mà nói rằng Tịnh Độ đặc biệt hơn các tông phái khác. Người tu theo Tịnh Độ cũng nên nhớ lời cổ đức dạy về “Tứ Đoạt”—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, reciting the Buddha’s name seeking rebirth in the Pure Land is a “perfect sudden” method in the Mahayana tradition, because the cultivator takes Enlightenment in the “effect stage” as his point of departure of awakening the mind in the “causal stage.” If it were not taught by Sakyamuni Buddha Himself, who would believe that a common mortal of the “Four Ways of Birth and Six Paths” could reach the stage of non-retrogression, equal to the higher level Bodhisattvas, thanks to Amitabha Buddha’s power of “welcoming and escorting”? After all, cultivators  following other methods would have to spend ten thousand eons in diligent, continuous cultivation to obtain such results. With the Pure Land method, since the cultivator has put his faith in the Buddha’s power in addition to using all his “self power,” every single cultivator will be reborn in the Land of Ultimate Bliss, escape the cycle of Birth and Death and achieve non-retrogression. If we were to use Buddha Recitation to discover the Mind-Ground and awaken to our Original Nature, the Pure Land method would be no different from other methods. However, when we rely on Buddha Recitation to seek rebirth in the Pure Land, the Pure Land method has unique characteristics. The Pure Land has four statements explain the Four True Realizations of Pure Land teachings. True Realization means thorough comprehension of essence, or noumenon. Since the whole Dharma Realm or cosmos is only Mind, sentient beings and realms are illusory. If we conceive that there are sentient beings achieving rebirth in the Pure Land and that there are realms to go back to, we are still attached to beings and dharmas and are still making a distinction between hwere and there. This is not True Realization, i.e., not a completed understanding of essence and noumenon. The reverse is called the True Realization. The ancients have summarized the idea in the following stanza: “Recitation is equal to non-recitation. No Birth is Birth. Having reached that stage do not bother to move even half a step. You have arrived at the Enlightened Capital City.” True realization of beings and realms is the ultimate goal of Pure Land practitioners. Nevertheless, the doctrine taught in the Three Pure Land sutras and Commentary on Rebirth (not True Realization of Realms and Beings), which is consonant  with seeking rebirth in the Pure Land. This is because Sakyamuni Buddha knew that common mortals in this world of the Five Turbidities, especially in this Dharma-Ending Age, would have heavy and deep karmic obstructions; establishing a realm of marks or the Pure Land, enabling them to anchor their minds and cultivate, would be difficult enough, not to mention abandoning all marks! If common human beings of this Dharma-Ending Age cultivate while grasping at marks, i.e., the Pure Land, their Practice and Vows will be more earnest and the final result of rebirth in the Pure Land is easier to achieve. Once reborn in the Pure Land, why worry about not attaining the state of No-Birth and No-Mark?  For those who are not of the highest capacity or endowed with a sharp mind, hastening to achieve lofty goals and engaging in cultivation without marks leave the minds with no anchor. Earnestness and sincerity are then difficult to develop. If their Vows are not earnest, how can they achieve rebirth in the Pure Land, and without rebirth in that Land, how can they escape Birth and death? This is an instance of “haste makes watse,” climbing high but landing low, wanting to be clever and ending up clumsy and awkward! Many who like to voice lofty principles frequently reject the Pure Land method in these terms: “To recite the Buddha’s name seeking rebirth in the Pure Land is to grasp at marks. Seeking the Dharma outside the Mind, failing to understand that all dharmas are Mind-Only.” These individuals, seeking the subtle and lofty, are in reality shallow and superficial! This is because they do not understand that if the Saha World is Mind-Only, then the Western Pure Land is also Mind-Only, and nothing can be found outside the True Mind. Thus, to recite Amitabha Buddha’s name is to recite the Buddha of our own Nature and Mind; to be reborn in the Pure Land is to return to the realm of our own Mind, not to an outside realm! Since neither the Saha World nor the Pure Land is outside the Mind, how can remaining in the Saha World, enduring samsara, scorched and burn by the fire of the Five Turbidities, be compared  with returning to the tranquil and blissful Pure Land, the pure and cool realm of freedom? We should realize that the ones truly in a position to honor the Mind-Only  Pure Land are those who have attained the Dharma-Nature-Body, always free and at ease in all circumstances. At that time, whether in the Saha World or in the Land of Ultimate Bliss, they are in a “pure land,” in the state of Mind-Only, in the state of liberation. Otherwise, though they may discourse endlessly on the mystery and loftiness of the Pure Land, they cannot escape bewilderment and delusion in the “bardo stage,” and following their karma, revolving in the cycle of Birth and Death! 

Chính v́ thế mà nói rằng Tịnh Độ đặc biệt hơn các tông phái khác. Người tu theo Tịnh Độ luôn nhớ về pháp môn Tứ Đoạt Niệm Phật—Thus, the Pure Land method has unique characteristics. Pure Land practitioners should always remember the “Buddha recitation and the Four Realizations.”     

1)      Đoạt cảnh chẳng đoạt người: True realization of realm, not of beings—Sanh tất quyết định sanh, về thật không có về—Birth in the Pure Land is definitely birth; however, return to the Pure Land is, in truth, no return.

2)      Đoạt người chẳng đoạt cảnh: True realization of beings, not of realms—Về tất quyết định về, sanh không thật có sanh—return is definitely return; however, birth is, in truth, No Birth.

3)      Cảnh người đều đoạt: True realization of both realms and beings—Về thật chẳng có về, sanh cũng thật không sanh—Return is, in reality, no return; birth is also, in truth, no birth.

4)      Cảnh và người đều không không đoạt: Not a true realization of realms and beings—Về tất quyết định về, sanh cũng quyết định sanh—Return is definitely return; birth is definitely birth.

Tứ Độ: Theo Tông Thiên Thai, có Tứ Phật Độ—According to the T’ien-T’ai Sect, there are four Buddha-ksetra, or realms:

1)      Phàm Thánh Đồng Cư Độ: Cơi Thánh phàm đồng cư—Cơi nước trong đó hạng Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật cùng ở chung với nhau—The land of common residence of beings and saints—Realms where all classes dwell (men, devas, Buddhas, disciples, non-disciples)—Lands where saints (Buddhas and Bodhisattvas) and ordinary people (six lower and six upper worlds) dwell together.

2)      Phương Tiện Hữu Dư Độ: Chốn văng sanh của chư A-la-hán và những vị Thánh c̣n kém bậc Bồ Tát, những bậc đă đoạn trừ kiến tư phiền năo—Temporary realms, where the occupants have got rid of the evils of unenlightened views and thoughts, but still have to be reborn—The Land of Expediency—Land of Expedient Liberation, inhabited by Arhats and lesser Bodhisattvas.

3)      Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ: Nơi trụ của chư Bồ Tát sắp thành Phật—Realms of permanent reward and freedom, for those who have attained bodhisattva rank—The Land of Real Reward, inhabited by the highest Bodhisattvas.

4)      Thường Tịch Quang Độ: Nơi thường trú của chư Phật—Realm of eternal rest and light (wisdom) and of eternal spirit (dharmakaya), the abode of Buddhas; but in reality all the others are included in this, and are only separated for convenience’ sake—The Land of Eternally Quiescent Light, in which Buddhas dwell.

Tứ Độ Gia Hành: Bốn mức độ tiến tu trong Mật Giáo (trước kia muốn được truyền thụ tứ độ gia hành phải mất từ 800 đến 1000 ngày; bây giờ giảm xuống c̣n 200 ngày)—Advancement in four degrees of the esoterics (formerly extending over 800 or 1,000 days, later contracted to 200):

1)      Thập Bát Đạo: The eighteen ways.

2)      Thai Tạng: Garbhadhatu.

3)      Kim Cang: Vajra.

4)      Hộ Ma: Homa.

Tứ Độc Xà: Bốn con rắn độc trong giỏ ám chỉ tứ đại trong thân thể (tạo nên thân thể con người)—Four poisonous snakes in a basket which imply the four elements in a body (of which a man is formed):

1)      Đất: Earth.

2)      Nước: Water.

3)      Lửa: Fire.

4)      Gió: Air.

**  For more information, please see Tứ Xà.

Tứ Động Tâm: The four Buddhist Holy,  Sacred Places, or Pilgrimage Sites in India—Theo truyền thống Phật giáo, hằng năm Phật tử thường hành hương về những trung tâm Phật giáo ở Ấn Độ và Népal có liên hệ với cuộc đời của Đức Phật. Theo Phật Giáo Nh́n Toàn Diện của Tỳ Khưu Bồ Đề, trong khi ngự tại rừng Long Thọ ở Câu Thi Na một vài tiếng đồng hồ trước khi Ngài nhập diệt, Đức Phật lúc ấy đă tám mươi tuổi, nói với Đại Đức A Nan, vị thị giả trung tín và quí mến nhất của Ngài về Tứ Động Tâm. Phật nói: “Những Phật tử thuần thành nên nhiệt tâm đến viếng với những cảm xúc gợi hứng.”—According to the Buddhist tradition, every year Buddhists often go on a pilgrim to the Buddhist centers in India and Nepal associated with the life of the Buddha. According to The Spectrum of Buddhism, written by Bhikkhu Bodhi, while staying in the Sala Grove at Kusinara a few hours before he attained parinirvana, the Supreme Buddha, at the age of eighty, addressing the Venerable Ananda, his most dutiful and beloved attendant about the four holy places of Buddhism. The Buddha said: “There are four places, Ananda, which devotees should visit with feelings of inspiration.”

1)      Nơi Đức Phật Đản Sanh—Lumbini, the birth-place of the Buddha—Vườn Lâm Tỳ Ni mà bây giờ là Rummindei ở Né-Pal, nơi Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Phật) đản sanh. Vườn nằm về hướng bắc cách Ba La nại một trăm dặm Anh, và từ nơi đây người ta có thể nh́n thấy trọn vẹn dăy núi Hy Mă Lạp Sơn phủ tuyết trắng phao: Lumbini Park, now is known as Rummindei in Nepal which is the Birth Place of Prince Siddhattha (the Buddha). Situated one hundred miles north of Benares, the full range of the snow-crowned Himalayas can be seen—See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 

2)      Nơi Đức Phật Thành Đạo—Buddha-Gaya in India, where the Buddha attained Enlightenment—Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ nơi Phật giác ngộ, một thánh tích thiêng liêng nhất của người Phật tử trên khắp thế giới v́ chính nơi nầy Phật đă giác ngộ đạo quả Tối Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác vào ngày trăng tṛn tháng chạp, lúc mặt trời vừa ló dạng trên vùng trời phương Đông, lúc ấy Ngài vừa ba mươi lăm tuổi: Buddhagaya or Bodhi Gaya in India, the most sacred place to all the Buddhists in the world, where the Buddha became enlightened (the site of the Buddha’s enlightenment) on the full moon day of December as the sun rose in a glowing eastern sky, at the the age of thirty-five—See Bồ Đề Đạo Tràng in Vietnamese-English Section.

3)      Nơi Đức Phật Thuyết Pháp Đầu Tiên—Sarnath, where the Buddha preached his first sermon—Vườn Lộc Uyển (Isipatana) mà bây giờ gọi là Sarnath, nơi Phật chuyển Pháp Luân (thuyết thời pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế) vào ngày trăng tṛn tháng bảy: Isipatana or presently Sarnath in India, where the Buddha set in motion the Wheel of the Dharma (preached his first sermon about the Four Noble Truths) on the full moon day of Asalha (July)—See Lộc Uyển.

4)      Nơi Đức Phật Nhập Diệt—Kusinagara, where the Buddha passed away—Câu Thi Na nơi Phật nhập diệt (lúc Ngài 80 tuổi) trong rừng Ta La Song Thọ, nằm trong vùng Uttar Pradesh khoảng 120 dậm về phía Đông Bắc của Baranasi: Kusinara, presently Kusinagara in Northern India where the Buddha entered Nirvana (at the age of eighty) under the Tala trees. It is in Uttar Pradesh about 120 miles north-east of Baranasi—See Kusinagara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Câu Thi Na in Vietnamese-English Section. 

Tứ Đức (Tứ Pháp):

(A)  Tứ Đức Niết Bàn theo Phật Giáo, hay bốn phẩm hạnh cao thượng của Như Lai được thuyết giảng trong Kinh Niết Bàn (đây là bốn phẩm hạnh rốt ráo của Đức Như Lai, có bốn đức nầy tức là đắc Đại Bát Niết Bàn của Đại Thừa)—The four nirvana virtues or characteristics in Buddhism, or four noble qualities of the Buddha’s life expounded in the Nirvana Sutra:

2)      Thường Đức: Thể của Niết Bàn thường hằng bất biến, không sinh diệt—Permanence (Eternity).

3)      Lạc Đức: Lạc Ba La Mật—Thể của Niết Bàn tịch diệt vĩnh an—Joy—The paramita of joy.

4)      Ngă Đức: Personality or Soul.

5)      Tịnh Đức: Thể của Niết Bàn giải thoát khỏi mọi cấu nhiễm—Purity. 

(B)  Bốn đức mà Đức Khổng Phu Tử đă chỉ giáo trong Khổng Học cho một người đàn bà—The four virtues a good woman must       possess in Confucian teaching:

1)      Công: Proper employment.

2)      Dung: Proper demeanor.

3)      Ngôn: Proper speech.

4)      Hạnh: Proper behavior.

Tứ Đức Ba La Mật: The four transcendent paramitas—See Tứ Đức, and Tứ Đức Lạc Bang.

Tứ Đức Lạc Bang: Thế giới an lạc có đủ bốn đức Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, đó là cơi Niết Bàn—The joyful realm—The nirvana realm—The abode or dharmakaya of the Tathagata—See Tứ Đức.

Tứ Đức Truyền Thừa Tổ Tịnh Độ: Theo Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Tịnh Độ không có sự truyền thừa y bát như chư vị Tổ sư bên Thiền Tông. Sở dĩ có chư Tổ Tịnh Độ là do các vị Tăng, Tục tu pháp môn niệm Phật đời sau họp lại chọn lựa ra những vị siêu xuất mà tôn lên làm Tổ. Sự siêu xuất đó được biểu lộ qua “Tứ Đức Truyền Thừa Tổ Tịnh Độ” hay bốn điểm chánh yếu sau đây—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Pureland Buddhism’s Patriarchs do not have a tradition of ‘handed-down’ of robe and bowl, similar to the Patriarchs of Zen Buddhism. The reason there are Pureland Patriarchs is because in the generations following the death of a Great Master, various ordained and lay Buddhists who cultivate Pureland Buddhism would come together and selected  Great Masters who were considered the most extraordinary and distinguished in their contributions to the Pureland Buddhism. There were four characteristics they used to determine whether a Great Master was most ‘distinguished.’

1)      Về phần kiến thức—With regard to knowledge and understanding:

a)      Phải là bậc thông hiểu thâm sâu cả tông lẫn giáo: The individual must be a person  with a deep and profound grasp of the purpose and teachings of Buddhism.

b)      Phải giải ngộ Phật pháp đến mức thượng thừa: The person must be at the highest level in having insights and understanding of the Buddha Dharma.   

2)      Về phần đạo hạnh—With regard to religious conduct:

a)      Phải giữ giới phẩm tinh nghiêm, hoàn toàn thanh tịnh: Must maintain precepts purely  in a most examplary manner.

b)      Phải tu hành tinh tấn: Must cultivate diligently and with great vigor.

c)      Lâm chung hiện rơ thoại tướng văng sanh: Upon death, demonstrate clear signs and characteristics of gaining rebirth to the Amitabha Buddha’s Pureland.

3)      Về phần hoằng hóa—With regard to propagating Pureland Teachings:

a)      Phải có công lao lớn trong viêc tuyên dương pháp môn Tịnh Độ: Must have made significant contributions in propagating Pureland Buddhism. 

b)      Phải hộ tŕ chánh pháp không tiếc thân mệnh: Must protect the Proper Dharma Teachings without any reservation.

c)      Phải khuyến dắt dẫn đạo đến ngàn muôn người niệm Phật: Must encourage and guide  up to hundreds and thousands of people to practice Buddha recitation.

4)      Về phần trước tác phiên dịch—With regard to literary works:

a)      Phải có trước tác biên soạn tối thiểu từ ba bộ sách khuyến dạy hoặc hoằng tuyên Tịnh Độ trở lên: Must have written a minimum of three books teaching and encouraging others or popularizing Pureland Buddhism.

b)      Phải có khả năng phiên dịch và chú sớ kinh điển đến mức thượng thừa: Must have the highest ability in translating  and explaining the Sutra teachings. 

Tứ EÁ: Bốn màn che phủ—The four films or things that becloud:

1)      Mưa Mây: Rain-clouds.

·        Biểu tượng của tham dục: Emblematic of desire.

2)      Băo Cát: Dust-storms.

·        Biểu tượng của sân hận: Emblematic of hate.

3)      Khói: Smoke.

·        Biểu tượng của vô minh: Emblematic of ignorance.

4)      Nhật Thực hay Nguyệt Thực: Asuras—Eclipse of sun and moon.

·        Biểu tượng của ngă mạn cống cao: Emblematic of pride.

Tứ Gia Hạnh:

1)      The four good roots—See Tứ Thiện Căn (B).

2)      Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đă nhắc ngài A Nan về tứ gia hạnh như sau: “Ông A Nan! Người thiện nam đó, thảy đều thanh tịnh, 41 tâm gần thành bốn thứ diệu viên gia hạnh.”—According to the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda as follows: “Ananda! When these good men have completely purified these forty-one minds, they further accomplish four kinds of wonderfully perfect additional practices.”

a)      Noăn Địa: The level of heat—Lấy Phật giác  để dùng làm tâm ḿnh, dường như hiểu rơ Phật giác mà kỳ thật chưa hiểu rơ. Ví dụ như khoang cây lấy lửa, lửa sắp cháy lên, mà chưa thật sự cháy. Đây gọi là noăn địa—When the enlightenment of a Buddha is just about to become a function of his own mind, it is on the verge of emerging but has not yet emerged, and so it can be compared to the point just before wood ignites when it is drilled to produce fire. Therefore, it is called ‘the level of heat.’

b)      Đỉnh Địa: Level of the summit—Lại lấy tâm ḿnh thành đường lối đi của Phật, dường như nương mà chẳng phải nương. Như lên núi cao, thân vào hư không, dưới chân c̣n chút ngại. Gọi là Đỉnh Địa—He continues on with his mind, treading where the Buddhas tread, as if  relying and yet not. It is as if he were climbing a lofty mountain, to the point where his body is in space but there remains a slight obstruction beneath him. Therefore it is called ‘the level of the summit.’

c)      Nhẫn Địa: Level of patience—Tâm và Phật đồng nhau, th́ khéo được trung đạo. Như người nhẫn việc, chẳng phải mang sự oán, mà cũng chẳng phải vượt hẳn sự ấy. Đó gọi là nhẫn địa—When the mind and the Buddha are two and yet the same, he has well obtained the middle way. He is like someone who endures something when it seems impossible to either hold it in or let it out. Therefore it is called '‘he level of patience.'’

d)      Thế đệ nhất địa: Level of being first in the world—Số lượng tiêu diệt, trung đạo giữa mê và giác, đều không c̣n tên gọi. Đây gọi là thế đệ nhất địa—When numbers are destroyed, there are no such  designations as the middle way or as confusion and enlightenment; this is called the ‘level of being first in the world.’

**   For more information, please see Tứ      

       Thiện Căn.

Tứ Giác: Bốn thứ giác ngộ theo Đại Thừa Khởi Tín Luận—The four intelligences or apprehensions mentioned in the Awakening of Faith (Khởi Tín Luận):

1)      Bổn Giác: Tự tánh thanh tịnh tâm của hết thảy chúng sanh vốn dĩ ĺa vọng niệm và có đức chiếu minh—The original apprehension.

2)      Tương Tự Giác: Giác được tri kiến và tư hoặc mà ĺa được chúng—Resembling to apprehension.

3)      Tùy Phần Giác: Từng phần đoạn vô minh, từng phần giác chân giáo—Partial apprehension.

4)      Cứu Cánh Giác: Đă đoạn hết căn bản vô minh, chứng được chân giác cứu cánh—Enlightened apprehension.

Tứ Giai Cấp Ấn Độ: Bốn giai cấp ở Ấn Độ vào thời Đức Phật c̣n tại thế. Chế độ giai cấp bất b́nh đẳng của xă hội Ấn Độ thời bấy giờ gây nên áp bức, nghi kỵ, và thù hiềm lẫn nhau; từ đó phát sinh những phong trào chống đối và cải cách. Đây là sự kiện khiến Phật giáo xuất hiện. Ngoài bốn giai cấp kể trên, c̣n có một hạng người thuộc giai cấp Chiên Đà La, bị các giai cấp trên coi như giai cấp thấp nhất, gờm nhớp mà không ai dám đụng tới, bị đối xử tàn nhẫn như thú vật—Four classes or castes in India at the time of the Buddha. The hierarchical structure of the Hindu old society resulted in oppression, suspicion, resentment and hostility. From there sprung opposition movements and hostility. This is why Buddhism had come out as a spiritual counter-force. Apart from these four castes, there is still a fifth category of people called Candala, the lowest one, regarded by the other castes as untouchables who are mistreated and exploited:

1)      Bà La Môn: Brahman (skt)—Giai cấp tu sĩ tịnh hạnh (họ chuyên về lễ nghi tế tự, họ cậy vào thế lực Ấn Độ Giáo—Hinduism, luôn luôn củng cố địa vị và quyền lợi ăn trên ngồi trước của họ). Họ tạo ra nhiều huyền thoại để củng cố địa vị của ḿnh. Theo Kinh Vệ Đà th́ hạng Bà La Môn đời đời nối nghiệp giữ đạo cổ truyền trong sạch của cha ông, người giảng giải kinh Vệ Đà, thầy dạy về kiến thức tôn giáo, và chủ chăn hay là gạch nối giữa con người, thế giới và Thượng đế. Những vị nầy phải giữ ǵn tịnh hạnh như ăn chay, cử rượu, vân vân—One who observes ascetic practices. They created so many legends to strengthen and consolidate their powers. According to the Vedics, Brahmans were traditionally the custodians, interpreters, and teachers of religious knowledge, and as priests, acted as intermediaries between humans, the world, and God. They were expected to maintain pure conduct and observe dietary rules, e.g. vegetarianism, abstinence from alcohol, etc.

·        Họ cho rằng Bà La Môn sanh ra từ miệng của Phạm Thiên: Brahman, born from the mouth of Brahma or Lord of the heavens.

·        Sát Đế Lợi sanh ra từ vai của Phạm Thiên: Ksattriya, born from the shoulders of Brahma.

·        Phệ Xá sanh ra từ hông của Phạm Thiên: Vaisya, born from the flanks of Brahma.

·        Thủ Đà La sanh ra từ bàn chân của Phạm Thiên: Sudra, born from the feet of Brahma.

2)      Sát Đế Lợi: Ksattriya (skt)—Giai cấp quư tộc (giữ quyền thống trị đất nước về quân sự và hành chánh)—Military and ruling.

3)      Phệ Xá: Vaisya (skt)—Giai cấp thương nhân và địa chủ (họ chuyên buôn bán và làm chủ các sở đất)—Traders and landlords.

4)      Thủ Đà La: Sudra (skt)—Nông nô hay giai cấp nông dân và tôi mọi (họ là những người bị dân tộc Nhă Lợi An—Aryan chinh phục, sai khiến, và bắt buộc làm nô lệ cho ba giai cấp vừa kể trên)—Farmers and serfs.

Tứ Giai Thành Đạo: Tứ Giai Thành Phật—Bốn bậc đều thành đạo hay việc thành đạo của Tiểu Thừa có bốn bậc—The four Hinayana steps for attaining Buddhahood:

1)      Tam Kỳ: The myriad deeds of the three asankhyeya kalpas.

2)      Trăm Kiếp: The continually good karma of a hundred great kalpas.

3)      Thân cuối cùng đoạn trừ phiền năo của tám địa dưới: In the final body the cutting off of the illusions of the lower eight states.

4)      Tam Thập Tứ Tâm Đoạn Phi Tưởng Hoặc: Ba mươi bốn tâm đoạn trừ phi tưởng hoặc—The taking of one’s seat on the bodhi-plot for final enlightenment, and the cutting off of the thirty-four forms of delusive thought. 

Tứ Giai Thành Phật: The four Hinayana steps for attaining Buddhahood—See Tứ Giai Thành Đạo. 

Tứ Giáo: Bốn giáo—Four teachings, doctrines or schools:

(A)  Quang Trạch Tứ Giáo của Ngài Pháp Vân ở chùa Quang Trạch đời Lương mượn ba xe kề cửa và trâu trắng lớn ngoài đường trong nhà lửa đang cháy được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The four schools of Fa-Yun of the Kuang-Chai monastery are the four vehicles referred to in the burning house parable of the Lotus Sutra:

1)      Thanh Văn Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết pháp Tứ Đế—Sravaka and the Buddha’s preaching of the doctrine of the Four Noble Truths.

2)      Duyên Giác Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết pháp mười hai nhân duyên—Pratyeka-buddha and the Buddha’s preaching of the twelve nidanas.

3)      Bồ Tát Thừa Giáo: Chỉ việc Phật thuyết Lục Độ Ba La Mật—Bodhisattva and the Buddha’s preaching of the six paramitas.

4)      Nhất Phật Thừa Giáo: Chỉ Thực Giáo—Buddhayana—The final or one vehicle.

(B)  Thiên Thai Tứ Giáo—The T’ien-T’ai four vehicle teaching:

1)      Tạng Giáo: Chính thống Tiểu thừa—The tripitaka doctrine or orthodox Hinayana.

2)      Thông Giáo: The Intermediate or Interrelated doctrine, such as Hinayana-cum-Mahayana.

3)      Biệt Giáo: Biệt Giáo như Nguyên Thủy Đại Thừa—The Differentiated or separated doctrine, such as Early Mahayana.

4)      Viên Giáo: Viên giáo hay toàn giáo được t́m thấy trong Kinh Pháp Hoa—The Perfect teaching or the last is being found in the final or complete doctrine of the Lotus Sutra.  

(C)  Hiểu Công Tứ Giáo: Do Nguyên Hiểu ở chùa Hải Đông lập ra—Founded by Yuan-Hsiao of the Hai-Tung monastery:

1)      Tam Thừa Biệt Giáo: Tiêu biểu bởi Tứ Đế Duyên Khởi Kinh—The Differentiated doctrine of Three Vehicles, represented by the Sutra of Arising Causes in the Four Noble truths.

2)      Tam Thừa Thông Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Bát Nhă (cả ba Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát cùng học)—The Intermediate doctrine of the Three Vehicles, represented by the Prajna Sutra.

3)      Nhất Thừa Phần Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Phạm Vơng (Bồ Tát chẳng học cùng với Nhị Thừa)—The Partial doctrine of the One Vehicle, represented by the Brahma Net Sutra.

4)      Nhất Thừa Măn Giáo: Tiêu biểu bởi Kinh Hoa Nghiêm—The complete doctrine of the One Vehicle, represented by the Flower-Adornment Sutra (Hua-Yen).

(D)  Uyển Công Tứ Giáo—The group of Hi-Yuan:

1)      Mê Chân Dị Chấp Giáo: Phàm phu ngoại đạo mê muội về chân tính nên khởi lên nhiều dị chấp—The school of unbelievers, who are misled and mislead.

2)      Chân Nhất Phần Bán Giáo: Chỉ Thanh Văn và Duyên Giác, chỉ chứng được một phần sự (hiện tượng) chân như hay một phần của “tùy duyên bất biến của chân như.”—The school of sravakas and pratyeka-buddhas who know only the phenomenal bhutatathata.

3)      Chân Nhất Phần Măn Giáo: Bồ Tát sơ tâm chỉ chứng được một phần lư chân như hay một phần “bất biến” mà chẳng được “tùy duyên.”—The school of the novitiate Bodhisattvas who know only the noumenal bhutatathata.   

4)      Chân Cụ Phần Măn Giáo: Bồ Tát hiểu rơ cả hai “tùy duyên” và “bất biến”—The school of fully developed Bodhisattvas, who know both.

(E)   Long Thọ Tứ Giáo—Bồ tát Long Thọ dùng bốn môn để phân tách và giải thích Kinh Luận—Nagarjuna’s division of the canon:

1)      Hữu Môn: Chỉ về bộ Kinh A Hàm (hết thảy nhân quả đều thực hữu)—The school of existence, dealing with existence or reality, represented by the Agama Sutra.

2)      Không Môn: Tiêu biểu bởi Kinh Bát Nhă (thuyết về chân lư không thực tướng để trừ bỏ tánh chấp trước của chúng sanh)—The school of Void, represented by the Prajna Sutra.

3)      Diệc Hữu Diệc Không Môn: Tiêu biểu bởi Kinh Thâm Mật (thuyết về tính không tướng hữu)—The school of both Existence and the Void, represented by the Sutra of Secret and Profound Meaning.

4)      Phi Hữu Phi Không Môn: Tiêu biểu bởi Trung Luận (phá bỏ cả hữu lẫn không)—The school of neither Existence nor Void, represented by the Madhyamika Sastra.   

Tứ Giáo Địa: Four stages of the four four developments of the Buddha’s own teaching—See Tứ Giáo (B).

Tứ Giáo Nghi: Tác phẩm sáu quyển của Ngài Trí Khải của Tông Thiên Thai sáng tác tác vào đời nhà Tùy—A work of six books of Chih-I of T’ien-T’ai, during the Suy dynasty.

Tứ Giáo Ngũ Thời: Thiên Thai Tứ Giáo Ngũ Thời—The T’ien-T’ai doctrine of the four developments of the Buddha’s own teaching (four main doctrinal schools) and the five periods of the above developments:

(A)  Thiên Thai Tứ Giáo: The T’ien-T’ai four developments of the Buddha’s own teaching—See Tứ Giáo (B).

(B)  Thiên Thai Ngũ Thời: The T’ien-T’ai five periods of the Buddha’s teaching—See Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo and Ngũ Thời Giáo.

Tứ Giáo Tam Mật: Thiên Thai Tứ Giáo Chân Ngôn Tam Mật—The T’ien-T’ai’s four open schools and the Shingon three esoteric teaching:

(A)  Thiên Thai Tứ Giáo: The T’ien T’ai four open schools—See Tứ Giáo (B).

(B)  Chân Ngôn Tam Mật: The Shingon three esoteric teachings:

1)       Chân Ngôn Thân Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the body.

2)       Chân Ngôn Khẩu Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the mouth.

3)       Chân Ngôn Ư Mật: The Shingon esoteric teaching (special function) of the mind.      

Tứ Giáo Tam Quán: Thiên Thai Tứ Giáo Tam Quán—The T’ien-T’ai four main doctrinal divisions and its three kinds of meditation:

(A)  Thiên Thai Tứ Giáo: The T’ien-T’ai four main doctrinal divisions—See Tứ Giáo (B).

(B)  Thiên Thai Tam Quán: The T’ien-T’ai three kinds of meditation—See Tam Quán.

Tứ Giáo Tứ Môn: The four sects four doors—See Tứ Môn and Thiên Thai Tam Giáo.

Tứ Giới:

(A)  Tứ Pháp Giới—The realms—See Tứ Pháp Giới.

(B)   Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có Tứ Đại—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four elements:

1)      Đất: Pathavi-dhatu (p)—Earth.

2)      Nước: Apo-dhatu (p)—Water.

3)      Lửa: Tejo-dhatu (p)—Fire.

4)      Gió: Vayo-dhatu (p)—Wind or Air.

(C)  Bốn loại giới luật—Four stages in moral development:

1)      Giải Thoát Giới: Giới từ bỏ thế tục để trở thành tu sĩ—Morality of release or deliverance from the world on becoming a monk.

2)      Định Công Giới: Khi nhập tứ thiền định th́ thân sanh giới thể có công năng pḥng ngừa điều sai và ngăn chặn điều ác—Morality that arising from the four meditations on the realms of form.

3)      Đạo Cộng Giới: Loại giới của những bậc từ kiến đạo hay sơ Bồ Tát trở lên, chứng được đạo vô lậu có khả năng pḥng phi chỉ ác—Morality of those who are in or above the stage of beholding the truth (the first stage of Bodhisattva).

4)      Đoạn Giới: Loại giới giúp hành giả đoạn tận tham sân si để thành đạo quả—Morality which help practictioners end  allmoral  evil and cease all delusions. 

(D)  Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Sáu, Đức Phật đă nhắc nhở ngài A Nan về bốn giới quan trọng—According to the Surangama Sutra, the Buddha reminded Ananda about the  four important precepts.  

1)      Đoạn Dâm—Cutting off lust:

a)      Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng dâm, th́ không bị sinh tử nối tiếp: If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts of lust, they would not have to follow a continual succession of births and deaths.

b)      A Nan! Ông tu tam muội, gốc để ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm chẳng trừ, th́ không thể ra được: Ananda! Your basic purpose in cultivating  is to transcend the wearisome defilements. But if you don’t renounce your lustful thoughts, you will not be able to get out of the dust.

c)      Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, nhưng chẳng đoạn dâm, th́ quyết bị lạc về ma đạo: Even though one may have some wisdom and the manifestation  of Zen Samadhi, one is certain  to enter demonic paths if one does not cut off lust.

d)      Thượng phẩm là ma vương, trung phẩm là ma dân, hạ phẩm là ma nữ: At best, one will be a demon king; on the average, one will be in the retinue of demons; at the lowest level, one will be a female demon.

e)      Các ma kia cũng có đồ chúng, đều tự xưng ḿnh thành vô thượng đạo: These demons have their groups of disciples. Each says of himself he has accomplished the unsurpassed way.

f)        Sau khi tôi diệt độ, trong đời mạt pháp, phần nhiều các ma dân ấy xí thịnh trong đời, hay làm việc tham dâm, làm bậc thiện tri thức, khiến các chúng sanh lạc vào hầm ái kiến, sai mất đường Bồ Đề: After my extinction, in the Dharma-Ending Age, these hordes of demons will abound, spreading like wildfire as they openly practice greed and lust. Calming to be good knowing advisors, they will cause living beings to fall into  the pit of love and views and lose the way to Bodhi.

g)      A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, trước hết phải đoạn dâm: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must first of all sever the mind of lust.

h)      Ấy gọi là lời dạy rơ ràng thanh tịnh, quyết định thứ nhứt của Như Lai: This is the first clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones.  

i)        V́ cớ đó nếu chẳng đoạn dâm mà tu thiền định, ví như nấu cát muốn thành cơm, trải qua trăm ngh́n kiếp chỉ thấy cát nóng mà thôi: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cut off lust, they will be like someone who cooks sand in the hope of getting rice, after hundreds of thousands of eons, it will still be just hot sand.

j)        Tại sao? Bởi v́ cát không phải là bản nhân của cơm: Why? It wasn’t rice to begin with; it was only sand.

k)      A Nan! Nếu ông đem cái thân dâm mà cầu diệu quả của Phật, dù được diệu ngộ, cũng đều là dâm căn, căn bản thành dâm, luân chuyển trong ba đường, quyết chẳng ra khỏi: Ananda! If you seek the Buddha’s wonderful fruition and still have physical lust, then even if you attain a wonderful awakening, it will be based in lust. With lust at the source, you will revolve in the three paths and not be able to get out.

l)        Do đường lối nào tu chứng Niết Bàn của Như Lai? Quyết  khiến thân tâm đều đoạn cơ quan dâm dục, đoạn tính cũng không c̣n, mới có thể trông mong tới Bồ Đề của Phật: Which road will you take to cultivate and be certified to the Thus Come One’s Nirvana? You must cut off the lust which is intrinsic in both body and mind. Then get rid of even the aspect of cutting it off. At that point you have some hope of attaining the Buddha’s Bodhi.  

m)    Như thế tôi nói, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, tức là ma Ba Tuần thuyết: What I have said here is the Buddha’s teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan.  

2)      Đoạn Sát—Cutting off killing:

a)      A Nan! Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng sát, th́ không bị sanh tử nối tiếp: Ananda! If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts of  killing, they would not have to follow a continual succession of births and deaths.

b)      A Nan! Ông tu tam muội, gốc để vượt khỏi trần lao, nếu sát tâm chẳng trừ, th́ không thể ra khỏi được: Ananda! Your basic purpose in cultivating samadhi is to transcend the wearisome defilements. But if you do not remove your thoughts of killing, you will not be able to get out of the dust.

c)      A Nan! Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, nhưng chẳng đoạn nghiệp sát, th́ quyết lạc về thần đạo: Ananda! Even though one may have some wisdom and the manifestation of Zen Samadhi, one is certain to enter the path of spirits if one does not cease killing.

d)      Thượng phẩm là đại lực quỷ,  trung phẩm làm phi hành dạ xoa, các quỷ soái, hạ phẩm là địa hành la sát. Các quỷ thần ấy cũng có đồ chúng, đều tự tôn ḿnh thành vô thượng đạo: At best, a person will become a mighty ghost; on the average, one will become a flying yaksha, a ghost leader, or the like; at the lowest level, one will become an earth-bound rakshasa. These ghosts and spirits have their groups of disciples. Each says of himself that he has accomplished the unsurpassed way.

e)      Sau khi ta diệt độ, trong đời mạt pháp, nhiều quỷ thần ấy xí thịnh trong đời, tự nói: “Ăn thịt cũng chứng được Bồ Đề.”—After  my extinction, in the Dharma-Ending Age, these hordes of ghosts and spirits will aboud, spreading like wildfire as they argue that eating meat will bring one to the Bodhi Way.

f)        A Nan! Tôi khiến các Tỳ Kheo ăn ngũ tịnh nhục, thịt đó đều do tôi thần lực hóa sinh, vẫn không mạng căn, v́ rằng về đất Bà La Môn, phần nhiều ẩm thấp, lại thêm nhiều đá, nên cây cỏ và rau không sinh. Tôi dùng thần lực đại bi giúp, nhân đức từ bi lớn, giả nói là thịt. Ông được ăn các món đó: Ananda! I permit the Bhikshus to eat five kinds of pure meat. This meat is actually a transformation brought into being by my spiritual powers. It basically has no life-force. You Brahmans live in a climate so hot and humid, and on such sandy and rocky land, that vegetables  will not grow. Therefore, I have had to assist you with spiritual powers and compassion. Because of the magnitude of this kindness and compassion, what you eat that tastes like meat is merely said to be meat; in fact, however, it is not. 

g)      Thế sau khi Như Lai diệt độ rồi, các Thích tử lại ăn thịt chúng sanh?—After my extinction, how can those who eat the flesh of living beings be called the disciples of  Sakya?

h)      Các ông nên biết: người ăn thịt đó, dù được tâm khai ngộ giống như tam ma địa, cũng đều bị quả báo đại la sát. Sau khi chết quyết bị ch́m đắm biển khổ sinh tử, chẳng phải là đệ tử Phật. Những người như vậy giết nhau, ăn nhau, cái nợ ăn nhau vướng chưa xong th́ làm sao ra khỏi được tam giới?—You should know that these people who eat meat may gain some awareness and may seem to be in samadhi, but they are all great rakshasas. When their retribution ends, they are bound to sink into the biter sea of birth and death. They are not disciples of the Buddha. Such people as they kill and eat one another in a never-ending cycle. How can such people transcend the triple realm? 

i)        A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, phải đoạn nghiệp sát sanh: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cut off killing.

j)        Ấy gọi là lời dạy rơ ràng, thanh tịnh và quyết định thứ hai của Như Lai: This is the second clear and unalterable instruction on purity given by  the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones.

k)      V́ cớ đó, nếu chẳng đoạn sát mà tu thiền định, ví như người bịt tai nói to, muốn cho người đừng nghe. Nhu thế gọi là muốn dấu lại càng lộ: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cut off killing, they are like one who stops up his ears and calls out in a loud voice, expecting no one to hear him. It is to wish to hide what is completely evident. 

l)        Các Tỳ Kheo thanh tịnh cùng các Bồ Tát lúc đi đường chẳng dẫm lên cỏ tươi, huống chi lấy tay nhổ: Bhikshus and Bodhisattvas who practice purity will not even step on grass in the pathway; even less will they pull it up with their hand.

m)    Thế nào là đại bi khi lấy chúng sanh huyết nhục để làm món ăn: How can one with great compassion pick up the flesh and blood of livign beings and proceed to eat his fill?

n)      Nếu các Tỳ Kheo chẳng mặc các đồ tơ lụa của đông phương, và những giày dép, áo, lông, sữa, phó mát, bơ của cơi nầy. Vị đó mới thật là thoát khỏi thế gian. Trả lại cái nợ trước hết rồi, chẳng c̣n đi trong ba cơi nữa: Bhikshus who do not wear silk, leather boots, furs, or down from this country or consume milk, cream, or butter can truly transcend this world. When they have paid back their past debts, they will not have to re-enter the triple realm.

o)      Tại sao? Dùng một phần thân loài vật, đều là trợ duyên sát nghiệp. Như người ăn trăm thứ lúa thóc trong đất, chân đi chẳng dời đất: Why? It is because when one wears something taken from a living creature, one creates conditions with it, just as when people eat the hundred grains, their  feet cannot leave the earth.

p)      Quyết khiến thân tâm không nỡ ăn thịt hay  dùng một phần thân thể của chúng sanh, tôi nói người đó thật là giải thoát: Both physically and mentally one must avoid the bodies and the by-products of living beings, by neither wearing them nor eating them. I say that such people have true liberation.

q)      Tôi nói như vậy, gọi là Phật nói. Nói không đúng thế, tức là ma Ba Tuần thuyết: What I have said here is the Buddha’s teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan. 

3)      Đoạn Đạo—Cutting off stealing:

a)      A Nan! Nếu các chúng sanh trong các thế giới ở lục đạo, mà tâm chẳng thâu đạo, th́ chẳng theo nghiệp ấy bị sanh tử tương tục: Ananda! If living beings in the six paths of any mundane world had no thoughts  of stealing, they would not have to follow a continuous succession of births and deaths.

b)      A Nan! Ông tu tam muội, cốt để thoát khỏi trần lao, nếu cái “thâu tâm” chẳng trừ th́ quyết không thể ra khỏi được: Ananda! Your basic purpose in cultivating samadhi is to transcend the wearisome defilements. But if you do not renounce your thoughts of stealing, you will not be able to get out of the dust. 

c)      A Nan! Dù có đa trí, thiền định hiện tiền, , như chẳng đoạn đạo nghiệp, quyết lạc về tà đạo. Thượng phẩm làm loài tinh linh, trung phẩm làm loài yêu mị, hạ phẩm làm người tà, bị mắc cái yêu mị: Ananda! Even though one may have some wisdom and the manifestation of Zen Samadhi, one is certain to enter a devious path if one does not cease stealing. At best, one will be an apparition; on the average, one will become a phantom; at the lowes level, one will be a devious person who is possessed by a Mei-Ghost. 

d)      Các loại tà ấy cũng có đồ chúng, đều tự tôn ḿnh thành vô thượng đạo: These devious hordes have their groups of disciples. Each says of himself that he has accomplished the unsurpassed way. 

e)      Sau khi tôi diệt độ, trong đời mạt pháp, nhiều loài tà mị ấy xí thịnh trong đời, dấu diếm sự gian trá, xưng là thiện tri thức. Họ tự tôn ḿnh được pháp của bậc thượng nhân, dối gạt những kẻ không biết, khủng bố khiến người kia mất cái tâm, đi đến đâu làm nhà cửa của người bị hao tổn: After my extinction, in the Dharma-Ending Age, these phantoms and apparitions will abound, spreading like wildfire as they surreptitiously  cheat others. Calling themselves good knowing advisors, they will each say that they have attained the superhuman dharmas. Enticing and deceiving the ignorant, or frightening them out of their wits, they disrupt and lay watse to households wherever they go.

f)        Tôi dạy các Tỳ Kheo đi các nơi khất thực, khiến bỏ cái tham, thành đạo Bồ Đề: I teach the Bhikshus to beg for their food in an assigned place, in order to help them renounce greed and accomplish the Bodhi Way.

g)      Các ông Tỳ Kheo chẳng tự nấu chín mà ăn, tạm ở đời cho qua cái sống thừa, ở trọ tạm ba cơi, chỉ một mặt đi qua, rồi không trở lại (nhất lai): The Bhikshus do not prepare their own food, so that, at the end of this life of transitory existence in the triple realm, they can show themselves to be once-returners who go and do not come back. 

h)      Thế nào cái người giặc, mượn y phục của tôi, buôn bàn pháp của Phật để nuôi ḿnh, tạo các nghiệp, đều nói là Phật pháp: How can thieves who put on my robes and sell the Thus Come One’s dharmas, saying that all manner of karma one creates is just the Buddhadharma? 

i)        Trở lại chê người xuất gia, giữ giới cụ túc là đạo tiểu thừa: They slander those who have left the home-life and regard Bhikshus who have taken complete precepts as belonging to the path of the small vehicle.

j)        Bởi vậy làm nghi lầm vô lượng chúng sanh, kẻ đó sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián: Because of such doubts and misjudgments, limitless living beings fall into the Unintermittent Hell.

k)      Nếu sau khi tôi diệt độ, có ông Tỳ Kheo phát tâm quyết định tu tam ma đề, có thể đối trước h́nh tượng Phật, nơi thân phần, làm một cái đèn, hoặc đốt một ngón tay, và trên thân đốt một nén hương. Tôi nói người ấy một lúc đă trả xong các nợ trước từ vô thủy, từ giả luôn thế gian, thoát khỏi các hoặc lậu. Dù chưa liền nhận rơ đường vô thượng giác, người ấy đă quyết định tâm với pháp: I say that Bhikshus who after my extinction have decisive resolve to cultivate samadhi, and who before the images of Thus Come Ones can burn  a candle on their bodies, or burn off a finger, or burn even one incense stick on their bodies, will in that moment, repay their debts from beginningless time past. They can depart from the world and forever be free of outflows. Though they may not have instantly understood the unsurpassed enlightenment, they will already have firmly set their mind on it. 

l)        Nếu chẳng làm chút nhân nhỏ mọn bỏ thân như vậy, dù thành đạo vô vi, quyết phải trở lại sinh trong cơi người, để trả nợ trước. Như tôi ăn lúa của ngựa ăn không khác. A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau sự đoạn dâm, đoạn sát, phải đoạn thâu đạo: If one does not practice any of these token renunciations of the body on the causal level, then even if one realizes the unconditioned, one will still have to come back as a person to repay one’s past debts exactly as I had to undergo the retribution of having to eat the grain meant for horses. Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cease stealing.

m)    Ấy gọi là lời dạy rơ ràng, thanh tịnh, quyết định thứ ba của Như Lai: This is the third clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come One and the Buddhas of the past, World Honored Ones.

n)      A Nan! Bởi vậy nếu chẳng đoạn thâu đạo mà tu thiền định, ví như người đổ nước vào chén vỡ, muốn cho đầy chén, dù trải qua nhiều kiếp, không bao giờ đầy: Therefore, Ananda, if cultivators of Zen Samadhi do not cease stealing, they are like someone who pours water into a leaking cup and hopes to fill it. He may continue for as many eons as there are fine motes of dust, but it still will not be full in the end. 

o)      Nếu các Tỳ Kheo, ngoài y bát ra, một phân một tấc cũng chẳng nên chứa để. Đồ ăn xin được, ăn thừa, ban lại cho chúng sanh đói. Giữa chúng nhóm họp, chắp tay lễ bái, có người đánh và mắng, xem như là khen ngợi. Quyết định thân tâm, hai món đều dứt bỏ. Thân thịt cốt huyết, cho chúng sanh dùng: If Bhikshus do not store away anything but their robes and bowls; if they give what is left over from their food-offerings to hungry living beings; if they put their palms together  and make obeisance  to the entire great assembly; if when people scold them they can treat it as praise: if they can sacrifice their very bodies and minds, giving their flesh, bones, and blood to living creatures.

p)      Chẳng đem quyền nghĩa của Phật nói, xoay làm kiến giải của ḿnh, để lầm kẻ sơ học. Phật ấn chứng cho người ấy được chân tam muội: If they do not  repeat the non-ultimate teachings of the Thus Come One as though they were their own explanations, misrepresenting  them to those who have just begun to study, then the Buddha gives them his seal as having attained true samadhi.

q)      Tôi nói như vậy, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, gọi là ma thuyết:  What I have said here is the Buddha’s teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan. 

4)      Đoạn Vọng—Cutting off false speech:

a)      A Nan! Như các chúng sanh trong mọi thế giới ở lục đạo, dù thân tâm không có sát, đạo, dâm, ba hạnh ấy đă viên măn. Nếu đại vọng ngữ th́ tam ma địa chẳng được thanh tịnh, thành ái kiến ma, mất giống của Như Lai: Ananda! Though living beings in the six paths of any mundane world may not kill, steal, or lust either physically or mentally, these three aspects of their conducts thus being perfect, yet if they tell lies, the samadhi they attain will not be pure. They will become demons of love and views and will lose the seed of the Thus Come One. 

b)      Gọi là: chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng. Hoặc cầu được tôn quư thứ nhất trong đời. Nghĩa là trước mọi người nói: “Tôi đă chứng sơ quả, nhị, tam quả, A La Hán, Duyên Giác, Bồ tát trước và sau Thập Địa.” Cầu  cho người lễ bái sám hối. Tham những món cúng dường: They say that they have attained what they have not attained, and what they have been certified when they have not been certified, perhaps they seek to be foremost in the world, the  most vererated and superior person. To their audiences they say that they have attained the fruition of a Shrotaapanna, the fruition of a Sakridagamin, the fruition of an Anagamin, the fruition of an Arhat, the Pratyeka Buddha vehicle, or the various levels of Bodhisattvahood up to and including the ten grounds, in order to be revered by others and because they are greedy for offerings.

c)      Ấy là một loại “tín bất cụ,” tiêu diệt giống Phật, như người lấy dao cắt cây đa la: These Icchantikas destroy the seeds of Buddhahood just as surely  as a Tala tree is destroyed.

d)      Phật ghi rằng người ấy trọn mất căn lành, không c̣n tri kiến, ch́m ba biển khổ, chẳng thành tam muội: The Buddha predicts that such people sever their good roots forever and lose their knowledge and vision. Immersed in the sea of the three sufferings, they cannot attain samadhi.

e)      Sau khi tôi diệt độ, khiến các vị Bồ tát cùng A La Hán nên ứng thân sinh trong đời  mạt pháp, hiện các h́nh tướng, để độ các kẻ bị luân chuyển. Hoặc làm sa môn, cư sĩ, nhân vương, tể quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến dâm nữ, quả phụ, kẻ cắp, vân vân đồng sự với người đời, tán thán Phật thừa. Khiến giúp họ thân tâm được vào tam ma địa: I command the Bodhisattvas and Arhats to appear after my extinction in response-bodies in the Dharma-Ending Age, and to take various forms in order to rescue those in the cycle of rebirth. They should either become Shramanas, elite-robed lay people, kings, ministers or officials, virgin youths or maidens, and so forth, even prostitutes, widows, profligates, thieves, butchers, or dealers in contraband, doing the same things as these kinds of people while they praise the Buddha Vehicle and cause them to enter samadhi in body and mind.

f)        Không bao giờ nói: “Tôi thật là Bồ Tát, thật là A La Hán,” tiết lộ mật nhân của Phật, và khinh kẻ chưa học: But they should never say of themselves, ‘I am truly a Bodhisattva;’ or ‘I am truly an Arhat,’ or let the Buddha’s secret cause leak out by speaking casually to those who have not yet studied.   

g)      Trừ ra khi chết, bí mật có di chúc cho Phát tử. Thế nào là người nói láo mê loạn chúng sanh thành tội vọng ngữ?—How can people who make such claims, other than at the end  of their lives and then only to those who inherit the Teaching, be doing anything but deluding and confusing living beings and indulging in a gross false claims? 

h)      A Nan! Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau chót phải đoạn trừ các đại vọng ngữ, ấy gọi là lời dạy rơ ràng, thanh tịnh, quyết định thứ tư của Như Lai: Ananda! When you teach people in the world to cultivate samadhi, they must also cease all lying. This is the fourth clear and unalterable instruction on purity given by the Thus Come Ones and the Buddhas of the past, World Honored Ones.

i)        Bởi vậy, nếu chẳng đoạn đại vọng ngữ, như lấy phân người khắc thành h́nh hương chiên đàn, muốn được mùi thơm, không có lẽ ấy: Therefore, Ananda, one who does not cut off lying is like a person who carves a piece of human  excrement to look like Chandana, hoping to make it fragrant. He is attempting the impossible.

j)        Tôi dạy Tỳ Kheo rằng: Trực Tâm là Đạo Tràng,” với bốn uy nghi, trong tất cả hạnh, không có hư giả: I teach the Bhikshus that the straight mind is the Bodhimanda and that they should practice the four awesome deportments in all their activities. Since they should be devoid of all falseness, how can they claim to have themselves attained the dharmas of a superior person?

k)      Thế nào tự xưng được pháp thượng nhân. Ví dụ người nghèo khó, mạo xưng là đế vương, tự cầu lấy cái chết. Huống chi pháp vương, thế nào lại hư vọng? Nhân địa chẳng chân chính, kết quả bị cong queo. Cầu Phật Bồ Đề, như người cắn rún, không thể nào được: That would be like a poor person falsely calling himself an emperor; for that, he would be taken and executed. Much less should one attempt to upsurp the title of dharma king. When the cause-ground is not true, the effects will be distorted. One who seeks the Buddha’s Bodhi in this way is like a person who tries to bite his own navel. Who could possibly succeed? 

l)        Nếu các Tỳ Kheo Tâm Thẳng như Dây Đàn, tất cả chân thật, vào tam ma địa, trọn không bao giờ có sự ma. Tôi ấn chứng người ấy thành tựu Bồ Đề vô thượng trí giác. Nói như tôi nói, gọi là Phật thuyết. Nói chẳng đúng thế, tức là ma thuyết: If Bhikshus’ minds are as straight as lute strings, true and real in everything they do, then they can enter samadhi and never be involved in the deeds of demons. I certify that such people will accomplish the Bodhisatvas’ unsurpassed knowledge and enlightenment. What I have said here is the Buddha’s teaching. Any explanation counter to it is the teaching of Papiyan.

Tứ Giới Hối Quá: Patidesaniya (skt)—Theo Tôn Sư Minh Đăng Quang trong Luật Nghi Khất Sĩ, chữ Patidesaniya là gốc chữ Bắc Phạn, có nghĩa là phát lồ  xưng ra sự vi phạm luật xuất gia trước Giáo Hội. Bốn giới Ba La Đề Xá Ni là những vi phạm mà h́nh phạt phải được Giáo Hội quyết định—According to Most Honorable Master Minh Đăng Quang in The Rules for Mendicant Bhiksus, the word Patidesaniya is a Sanskrit word means a confession of an offence or some sort of transgression of monastic rules which ought to be confessed before the Order, and the punishments for these offences are decided by the Order.

1)      Cấm chẳng đau mà ăn nhờ đồ của Tỳ Kheo Ni xa lạ: A monk should not eat or partake of solid food or soft food, having accepted it with his own hand from the hand of a nun who is not a relation.

2)      Cấm chẳng từ chối Tỳ Kheo Ni nói với thí chủ đăi cơm cho ḿnh (khi thí chủ mời chư Tăng đến nhà thiết đăi Trai Tăng. Nếu có một vị Tỳ Kheo Ni đến bên bảo thí chủ đem đến cho chư Tăng món cà ri, món cơm, vân vân. Vị Tăng phải quở trách ngay vị Tỳ Kheo Ni ấy “Ni sư nên đứng qua một bên khi chư Tăng đang thọ dụng.” Nếu không là phạm phải tội Ba La Đề Xá Ni): When a householder invites a monk to come to the family. If a nun comes to be standing as though giving directions, saying: “Here give curry, give cooked rice here,” that nun should be rebuked by the monk, saying: “Stand aside, sister, while the monks eat.” If not, the monk violates the Patidesaniya.  

3)      Cấm xin măi một nhà, làm cho người ta nghèo túng: A monk should not keep begging for foods at the same house to cause them to be poor because of their continuous offerings. 

4)      Cấm sư ẩn cư ở chỗ nguy hiểm, để có sự nguy hại cho thí chủ khi đem cơm tới cho ḿnh: A monk should not reside in those jungle lodgings that are dangerous and frightening for donators who travel to offer foods and drinks.

Tứ Giới Nhiếp Tŕ: Tứ đại là phần vật chất tŕ giữ chư pháp—The four elements (earth, water, fire, wind) are the substance and upholders of all things.

Tứ Hà: Bốn con sông ở Ấn Độ nổi tiếng cùng phát nguồn từ hồ A Na Bà Đáp Ta (trung bộ Thiệm Châu) bên Tây Tạng—The four rivers in India which reputed to arise out of a lake in Tibet, Anavatapta:

1)      Hằng Hà: Sông Hằng, phát nguồn từ phía đông hồ, chảy ra biển phía đông nam—Ganges, originated from the east of the lake, then flows to the sea in the southeast.

2)      Ấn Hà: Tín Độ—Tân Đầu—Phát nguồn phía Nam hồ, chảy ra biển phía Tây Nam—Sindhu (Indus), originated from the South of the lake, then flows to the sea in the Southwest.

3)      Phọc Xô: Phọc Xoa, phát nguồn từ phía Tây hồ, chảy ra biển phía Tây Bắc—Vaksu (Oxus), originated from the West of the lake, flows to the sea in the Northwest.

4)      Tỷ-Đa: Tư Đà, phát nguồn từ phía Bắc hồ, chảy ra biển hướng Đông Bắc—Tarim, originated from the North of the lake, then flows to the sea in the Northeast.

Tứ Hải: Bốn biển quanh núi Tu Di—The four oceans around Mount Sumeru.

Tứ Hải Luận Chủ: Tôn hiệu của nhà sư Kính Thoát đời Tùy—Honorific title of the monk Ching-T’o of the Suy dynasty.

Tứ Hàm: The four agami sutras—See Tứ A Hàm.

Tứ Hành: Four kinds of progress—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại hành—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four kinds of progress:

(A)

1)      Khổ Hành Tŕ Chứng: Painful progress with slow comprehension.

2)      Khổ Hành Tốc Chứng: Painful progress with quick comprehension.

3)      Lạc Hành Tŕ Chứng: Pleasant progress with slow comprehension.

4)      Lạc Hành Tốc Chứng: Pleasant progress with quick comprehension. 

(B)  Bốn loại hành khác—Four more kinds of 

        progress:

1)      Bất Kham Nhẫn Hành: Akkhama-patipada (p)—Progress with impatience.

2)      Kham Nhẫn Hành: Khama-patipada (p)—Patient progress.

3)      Điều Phục Hành: Dama-patipada (p)—Controlled progress.

4)      Tịch Tịnh Hành: Sama-patipada (p)—Calm progress.

Tứ Hành Tướng: Bốn hạnh tướng trong quán tưởng hay thiền quán—To meditate upon the implications or disciplines of:

1)      Khổ: Pain or suffering.

2)      Không: Unreality, or emptiness.

3)      Vô Thường: Impermanence.

4)      Vô Ngă: Non-ego.

Tứ Hạnh: Bốn hạnh—The four disciplinary processes:

(A)

1)      Bồ Đề: Enlightenment.

2)      Phúc Đức hay Thiện nghiệp:  Good deeds.

3)      Trí Tuệ: Wisdom.

4)      Lễ Bái: Worship.

(B) Theo Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma—According to the first patriarch Bodhidharma:

1)      Báo Oán Hạnh—How to requite hatred?

Báo oán hạnh nghĩa là ǵ? Người tu hành khi gặp cảnh khổ nên tự nghĩ như vầy: “Ta từ bao kiếp trước buông lung không chịu tu hành, nặng ḷng thương ghét, gây tổn hại không cùng. Đời nay tuy ta không phạm lỗi, nhưng nghiệp dữ đă gieo từ trước nay kết trái chín, điều ấy nào phải do trời hoặc người tạo ra đâu, vậy ta đành nhẫn nhục chịu khổ, đừng nên oán trách chi ai. Như kinh đă nói ‘gặp khổ không buồn.’ V́ sao vậy? V́ đă thấu suốt luật nhân quả vậy. Đây gọi là hạnh trả oán để tiến bước trên đường tu tập.”—What is meant by ‘How to requite hatred?’ Those who discipline themselves in the Path should think thus when they have to struggle with adverse conditions: “During the innumerable past eons I have wandered through multiplicity of existences, never thought of cultivation, and thus creating  infinite occasions for hate, ill-will, and wrong-doing. Even though in this life I have committed no violations, the fruits of evil deeds in the past are to be gathered now. Neither gods nor men can fortell what is coming upon me. I will submit myself willingly and patiently to all the ills that befall me, and I will never bemoan or complain. In the sutra it is said not to worry over ills that may happen to you, because I thoroughly understand the law of cause and effect.  This is called the conduct of making the best use of hatred and turned it into the service in one’s advance towards the Path.     

2)      Tùy Duyên Hạnh—To obedient to karma: Chúng sanh đều do duyên nghiệp mà chuyển thành, chứ chẳng có cái ‘tôi.’ Mọi nỗi khổ vui đều do nhân duyên sanh. Nếu nay được quả báo tốt, hưởng đủ vinh dự, ấy là do nhân lành thuở trước cảm nên, nay mới được vậy. Hễ duyên hết th́ lại hoàn không, mừng vui nỗi ǵ? Được mất ǵ đều tùy theo duyên, nhưng tâm người th́ không v́ vậy mà được thêm hay bớt mất cái ǵ. Nếu thấu đáo được như vậy th́ gió vui chẳng động, lặng lẽ mà thuận đạo, nên nói là tùy thuận theo duyên nghiệp vậy—Being obedient to karma, there is not ‘self’ (atman) in whatever beings that are produced by the interplay of karmic conditions; pain and pleasure we suffer are also the results of our previous action. If I am rewarded with fortune, honor, etc., this is the outcome of my past deeds which, by reason of causation, affect my present life. When the force of karma is exhausted, the result I am enjoying now will disappear; what is then the use of being joyful over it? Gain or loss, let us accept karma as it brings us the one or the other; the spirit itself knows neither increase nor decrease. The wind of gladness does not move it, as it is silently in harmony with the Path. Therefore, his is called ‘being obedient to karma.’ 

3)      Vô Sở Cầu Hạnh—Not to seek after anything:Người đời măi măi đắm mê, việc ǵ cũng tham trước, thế gọi là cầu. Bậc trí ngộ lẽ chân, chuyển ngược thế tục, nên an tâm trụ nơi vô vi, thân h́nh tùy nghi mà vận chuyển. Muôn vật đều là không, có ǵ vui mà cầu được. Hễ có công đức th́ liền có hắc ám đuổi theo. Ở lâu trong ba cơi khác nào như trong nhà lửa. Có thân có khổ, được ǵ mà vui? Thông suốt được vậy ắt buông hết sự vật, dứt tường, chẳng cầu. Kinh nói: ‘C̣n cầu c̣n khổ. Hết cầu mới được vui. Xét biết không cầu mới thực là đạo hạnh nên nói là hạnh không cầu mong—By ‘not seeking after anything’ is meant this: “Men of the world, in eternal confusion, are attached everywhere to one thing or another, which is called seeking. The wise, however, understand the truth and are not  like the vulgar. Their minds abide serenely in the uncreated  while the body turns about in accordance with the laws of causation. All things are empty and there is nothing desirable and to be sought after. Wherever there is nothing merit of brightness there follows the demerit of darkness. The triple world there one stays too long is like a house on fire; all that has a body suffers, and who would ever know what is rest? Because the wise are thoroughly acquainted with this truth, they get neer attached to anything that becomes, their thoughts are quieted, they never seek. Says the sutra: ‘Wherever there is seeking, there you have sufferings; when seeking ceases you are blessed. Thus we know that not to seek is verily the way to the truth. Therefore, one should not seek after anything.”  

4)      Xứng Pháp Hạnh—To be in accord with the Dharma: Cái lư thanh tịnh của tự tánh gọi là pháp. In hiểu lư ấy th́ mọi h́nh tướng hóa thành không. Không nhiễm không trước, không bỉ không thử. Kinh nói: ‘Pháp không có chúng sanh, hăy ĺa chúng sanh cấu. Pháp không có tướng ngă, hăy ĺa ngă cấu.’ Bậc trí ví như tin hiểu được vậy th́ tùy xứng theo pháp mà hành. Bổn thể của pháp vốn không tham lận cho nên dầu đem thân mạng và của cải  ra mà bố thí vẫn không hối tiếc. Thấu rơ ba cái không  th́ không c̣n ỷ lại và chấp trước. Chỉ cần gạn trừ trần cấu, tùy nghi mà giáo hóa chúng sanh, nhưng không mắc phải h́nh tướng, thế tức là tự hành, đă lợi người lại thêm trang nghiêm  đạo Bồ Đề. Bố thí đă vậy th́ năm độ Bát Nhă khác cũng thế. V́ dứt trừ vọng tưởng mà hành pháp tu lục độ, nhưng thật không ǵ gọi là hành cả, nên nói là hạnh tùy xứng theo pháp—By ‘being in accord with the Dharma; is meant that the reason in its essence is pure which we call the Dharma, and that this reason is the principle of emptines in all that is manifested, as it is above defilements and attachments, and as there is no ‘self’ or ‘other’ in it. Says the sutra: ‘In the Dharma there are no sentient beings, because it is free from the stains of being; in the Dharma there is no Self because it is free from the stain of selfhood. When the wise understand this truth and believe in it, their conduct will be in accordance with the Dharma. As the Dharma in essence has no desire to possess, the wise are ever ready to practise charity with their body, life, property, and they never begrudge, they never know what in ill grace means. As they have a perfect understanding of the threefold nature of emptiness they are above partiality and attachment. Only because of their  will to cleanse all beings of their stains, they come among them as of them, but they are not attached to the form. This is known as the inner aspect of their life. They , however, know also how to benefit others, and again how to clarify the path of enlightenment. As with the virtue of charity, so with the other five virtues in the Prajnaparamita. That the wise practise the six virtues of perfection is to get rid of confused thoughts, and yet they are not conscious of their doings. This is called ‘being in accord with the Dharma.’  

Tứ Hạnh Niệm Phật: Four practices of Buddha Recitation—Sở thích và căn túc của chúng sanh vẫn thường sai biệt, cho nên tuy đồng tu hạnh niệm Phật, sự hành tŕ không khỏi có sự khác biệt nhau. V́ thế, trên đường Tịnh Độ, cổ nhân đă khái ước chia thành bốn hạnh là Thiền Tịnh, Giáo Tịnh, Mật Tịnh và Thuần Tịnh—Sentient beings usually differ in preferences and innate capacities. Therefore, although they may engage in the common practice of Buddha Recitation, they are bound to differ somewhat in their practice. For this reason, ancient masters have summarized four types of practice: Zen-Pure Land; Sutra Recitation-Pure Land; Esotericism-Pure Land; Exclusive Pure Land Practice.

1)      Những vị niệm Phật làm chánh, tham thiền làm phụ, thuộc về hạnh Thiền Tịnh. Đây cũng là lối thiền tịnh song tu, nhưng lại lấy sự văng sanh Tịnh Độ làm yếu điểm chung cuộc, c̣n việc thấy tánh ngộ đạo chỉ thuộc phần tùy duyên: The first category of cultivators comprises those who engage primarily in Buddha Recitation but practice Zen as well. They are said to practice Zen-Pure Land, also called dual practice of Zen and Pure Land. Here, rebirth in the Pure Land is the principal goal, while seeing the True Nature and becoming enlightened to the Way is a secondary matter which depends on the individual practitioner’s good roots and conditions.

2)      Những vị lấy niệm Phật làm chánh, tụng kinh làm phụ, gọi là Giáo Tịnh. Về phần kinh giáo, có người thích tụng kinh Kim Cang hay Di Đà; có vị thích tụng Hoa Nghiêm hay Pháp Hoa, hoặc phẩm Phổ Môn hay Phổ Hiền Hạnh Nguyện chẳng hạn: The second category comprises those whose main practice is Buddha Recitation with Sutra Recitation as an ancillary practice. They are said to practice Sutra Recitation-Pure Land. As for the sutras chanted, some prefer the Diamond Sutra or the Amitabha Sutra, while others prefer the Avatamsaka Sutra or Lotus Sutra, or else individual chapters, such as the “Avalokitesvara Chapter” in the Lotus Sutra (chapter 25), or the Chapter on Samantabhadra’s Practices and Vows in the Avatamsaka Sutra (chapter 40).

3)      Những vị lấy niệm Phật làm chánh, tŕ chú làm phụ, đó là tu về Mật Tịnh. Trong sự tŕ chú, mỗi người lại ưa thích riêng mỗi môn đà la ni như Đại Bi, Chuẩn Đề, Văng sanh, Công Đức Bảo Sơn, Văn Thù Ngũ Thanh thần chú, Lục Tự Đại Minh chân ngôn, hoặc các đà la ni khác: The third category is composed of those who engage in Buddha Recitation as their primary practice and Mantra Recitation as an ancillary one. They follow the practice of Esotericism-Pure Land. The mantras vary with the practitioner and include such dharani as the Great Compassion Mantra, the Thousand-Armed Avalokitesvara Dharani, the Rebirth Dharani, etc.

4)      Những vị chỉ chuyên niệm Phật, không xen tạp môn nào khác, thuộc về các hành giả tu hạnh Thuần Tịnh. Trong đây các vị căn cơ cao th́ theo Thập Lục Quán, c̣n đại đa số chỉ chuyên về hạnh tŕ danh: The fourth category of cultivators comprises those who practice Buddha Recitation diligently and exclusively without cultivating other methods. Within this group, those of high capacities practice the sixteen Meditations as taught in the Meditation Sutra, while the great majority only practice oral recitation of the Buddha's name. 

·        Ḥa Thượng Thiện Đạo chỉ dạy chuyên tu niệm Phật để tiếp dẫn hàng trung và hạ căn. Đây là lối dạy về chuyên tu niệm Phật: The Pure Land Patriarch Shan-Tao taught diligent Buddha Recitation alone, which is designed to help those of limited or moderate capacities and belng to the exclusive Pure Land practice.

·        Vĩnh Minh Thiền Sư bên Trung Hoa, ngoài việc niệm mười muôn câu niệm Phật, c̣n tu các hạnh khác, tất cả gồm 108 môn. Lối nầy dùng để khuyến tấn các bậc thượng thượng căn, thuộc về “Viên Tu.”: Master Yung-Ming’s method, totalling of 108 in all, aims specifically to encourage those of the highest capacity, and belongs to the Perfect Practice.

Tứ Hệ Phược: Theo Tương Ưng Bộ Kinh, Phẩm Tầm Cầu, có bốn Hệ Phược—According to The Connected Discourses of the Buddha, Chapter Esanavaggo (Searches), there are four knots:

1)      Tham Thân Hệ Phược: The bodily knot of covetousness.

2)      Sân Thân Hệ Phược: The bodily knot of ill-will.

3)      Giới Cấm Thủ Hệ Phược: The bodily knot of distorted grasp of rules and vows.

4)      Chấp Chân Lư Hệ Phược: Chấp đây là chân lư—The bodily knot of adherence to dogmatic assertion of truth.

Tứ Hoa: Bốn loại hoa—The four divine flowers:

(A)

1)      Hoa Mạn Đà La: Sen trắng nhỏ—Mandara—Small white lotuses.

2)      Hoa Ma Ha Mạn Đà La: Sen trắng lớn—Mahamadara—Large white lotuses.

3)      Hoa Mạn Thù Sa: Sen đỏ nhỏ—Manjusaka—Small red lotuses.

4)      Hoa Ma Ha Mạn Thù Sa: Sen đỏ lớn—Mahamanjusa—Large red lotuses.

(B)

1)      Hoa Phân Đà Lợi: Sen trắng—Pundarika—White lotuses.

2)      Hoa Ưu Bát La: Sen xanh—Utpala—Blue lotuses.

3)      Bát Đặc Ma: Sen hồng—Padma—Red lotuses.

4)      Câu Vật Đầu: Sen vàng—Kumuda—Yellow lotuses.

Tứ Hóa Pháp: See Tứ Vô Ngại.

Tứ Hoặc: See Tứ phiền năo.

Tứ Hoằng Thệ Nguyện: Bốn phổ nguyện lớn của Phật và Bồ Tát—The four  universal vows of a Buddha or Bodhisattva (four magnanimous Vows or four all-encompassing vows):

(A)  Theo Phật Giáo Đại Thừa—According to the Mahayana Buddhism:

1)      Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ: Nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh—Vow to save all living beings without limits—Sentient beings are numberless (countless), I vow to save them all.

2)      Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn: Nguyện đoạn tận hết thảy phiền năo dục vọng—Vow to put an end to all passions and delusions, though inumerous—Afflictions (annoyances) are inexhaustible (endless), I vow to end (cut) them all.

3)      Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Nguyện học hết vô lượng pháp môn—Vow to study and learn all methods and means without end—Schools and traditions are manifold, I vow to study them all—The teachings of Dharma are boundless, I vow to learn them all.

4)      Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Nguyện chứng thành Phật đạo vô thượng—Vow to become perfect in the supreme Buddha-law—The Buddha-Way (Truth) is supreme (unsurpassed) , I vow to complete (realize) it.

(B)    Theo Lục Tổ Huệ Năng—According to the Sixth Patriarch Hui-Neng:

·         I vow to take across the limitless living beings of my own mind.

·         I vow to cut off the inexhaustible afflictions of my own mind.

·         I vow to study the immeasurable Dharma-doors of my own nature.

·         I vow to realize the supreme Buddha Way of my own nature.

1)       Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, tự tâm phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn, tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học, tự tánh Vô Thượng Phật đạo thệ nguyện thành.” Nầy thiện tri thức! Cả thảy đâu chẳng nói: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, nói thế ấy, vả lại không phải là Huệ Năng độ.” Nầy thiện tri thức! Chúng sanh trong tâm, chỗ gọi rằng tâm tà mê, tâm cuống vọng, tâm bất thiện, tâm tật đố, tâm ác độc, những tâm như thế trọn là chúng sanh, mỗi người nên tự tánh tự độ, ấy gọi là chơn độ. Sao gọi là tự tánh tự độ? Tức là trong tâm những chúng sanh tà kiến, phiền năo, ngu si, mê vọng, đem chánh kiến mà độ. Đă có chánh kiến bèn sử dụng trí Bát Nhă đánh phá những chúng sanh ngu si mê vọng, mỗi mỗi tự độ, tà đến th́ chánh độ, mê đến th́ ngộ độ, ngu đến th́ trí độ, ác đến th́ thiện độ, độ như thế gọi là chơn độ—Good Knowing Advisors, did all of you not just say, “I vow to take across the limitless beings? What does it mean? You should remember that it is not Hui-Neng who takes them across. Good Knowing Advisors, the ‘living beings’ within your mind are deviant and confused thoughts, deceitful and false thoughts, unwholesome thoughts, jealous thoughts, vicious thoughts: and these thoughts are ‘living beings’  The self-nature of each one of them must take itself across. That is true crossing over. What is meant by ‘the self-nature taking across?’ It is to take across by means of right views the living beings of deviant views, affliction, and delusion within your own mind. Once you have right views, use Prajna Wisdom to destroy the living beings of delusion, confusion, and falsehood. Each one takes itself across. Enlightenment takes confusion across, wisdom takes delusion across, goodness takes evil across. Such crossong over is a true crossing.

2)       Lại phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn, đem tự tánh Bát Nhă trí trừ hư vọng tư tưởng tâm ấy vậy—Further, ‘I vow to cut off the inexhaustible afflictions.’ That is to use the Prajna Wisdom of your own self-nature to cast out the vain and false thoughts in your mind.

3)       Lại pháp môn vô tận thệ nguyện học, phải tự thấy tánh của ḿnh, thường hành chánh pháp, ấy gọi là chơn học—Further, ‘I vow to study the immeasurable Dharma-door.’ You must see your own nature and always practice the right Dharma. That is true study.

4)       Lại vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành, đă thường hay hạ tâm hành nơi chơn chánh, ĺa mê, ĺa giác, thường sanh Bát Nhă trừ chơn trừ vọng, tức thấy được Phật tánh, liền ngay nơi lời nói, liền thành Phật đạo, thường nhớ tu hành, ấy là pháp nguyện lực--Further, ‘I vow to realize the supreme Buddha Way,’ and with humble mind to always practice the true and proper. Separate yourself from both confusion and enlightenment, and always give rise to Prajna. When you cast out the true and the false, you see your nature and realize the Buddha-way at the very moment it is spoken of. Always be mindful; cultivate the Dharma that possesses the power of this vow.”

Tứ Hối: See Ngũ Hối (A) bỏ đi phần đầu (Sám Hối)—See Ngũ Hối (A) and omit the first.

Tứ Huệ: Bốn loại trí huệ—Four kinds of wisdom:

(A)   Tán Tuệ—Trí tuệ có được từ tán tâm—Wisdom obtained from the scattering mind:

1)      Sinh Đắc Tuệ: Bẩm sinh trí tuệ—Wisdom received by birth or nature.

2)      Văn Tuệ: Trí tuệ do nghe và trau dồi mà có—Wisdom by hearing or being taught.

3)      Tư Tuệ: Trí tuệ đạt được do suy tư mà có—Wisdom by thoughts.

(B)   Định Tuệ—Trí tuệ có được từ định tâm—Wisdom obtained from the mind of concentration:

4)      Tu Tuệ: Trí tuệ do thiền định mà có—Wisdom by dhyana meditation.

Tứ Hướng: Bốn Thánh quả trong Tiểu Thừa—The four stages in Hinayana sanctity:

1)      Tu Đà Hoàn: Srota-Apanna (skt).

2)      Tư Đà Hàm: Sakrdagamin (skt).

3)      A Na Hàm: Anagamin (skt).

4)      A La Hán: Arhan (skt).

**  For more information please see Tứ Thánh

      Quả (B).

Tứ Hữu: See Tứ Hữu Vi Tướng.

Tứ Hữu Lậu: Four principal poisonous outflows.

1)      Dục Lậu: Kama (skt)—Sự ham muốn—Lust.

2)      Hữu Lậu: Bhava (skt)—Sự bám víu lấy đời sống—Clinging to life.

3)      Kiến Lậu: Drishti (skt)—Kiến giải phàm phu—Ordinary speculation.

4)      Vô Minh Lậu: Avidya (skt)—Ignorance.

**    For more information, please see Asrava

        in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Tứ Hữu Vi Tướng: Bốn loại hữu vi tướng—The four forms of activity:

1)      Sinh: Coming into existence.

2)      Trụ: Abiding.

3)      Dị: Change.

4)      Diệt: Extinction.

Tứ Kết: Samyojana (skt)—Thân Hệ Phược—Theo Thanh Tịnh Đạo, có bốn mấu kết làm ngăn che sự phát triển. Sở dĩ gọi là kết v́ chúng buộc kết cái thân tâm lư vào cái thân vật lư—According to The Path of Purification, there are four knots or bonds which hinder free development. They are so called because they tie the mental body and the material body.

1)      Tham Kết: The bodily tie of covetousness.

2)      Sân Kết: The bodily tie of ill-will.

3)      Giới Cấm Thủ Kết: The bodily tie of adherence to rites and rituals.

4)      Tà Giải Kết: Cho rằng cái ḿnh giải thích mới là sự thật—The bodily tie of misinterpreting (that this only is the truth).

** For more information, please see Tứ Ế and

     Tứ Phược.

Tứ Khí: Tứ Ba La Di—Tứ Trọng—Tứ Cực Trọng Cảm Đọa Tội—Bốn tội Ba La Di đưa đến việc bị khai trừ khỏi giáo đoàn—The four parajika sins resulting in excommunication—See Tứ Đọa.

Tứ Khô Tứ Vinh: Khi Đức Phật nhập diệt, bốn trong tám cây Ta La bị héo khô, c̣n bốn cây khác vẫn tươi, đây là dấu hiệu của bốn pháp bị hoại diệt, trong khi bốn pháp khác tiếp tục hưng thịnh—When the Buddha died, four of the eight sala-trees surrounding him are said to have withered, while the other four continued in full leaf, a sign that a four doctrines were to perish and the other four  were to flourish.

(A)  Tứ Khô: Bốn pháp bị hoại diệt—The four doctrines that were to perish:

1)      Khổ: The suffering.

2)      Không: The void.

3)      Vô Thường: Impermanence.

4)      Vô Ngă: Impermanence.

(B)   Tứ Vinh: Bốn pháp tiếp tục hưng thịnh—The four doctrines (the transcendent bodhisattva doctrines) that were to flourish:

1)      Thường: Permanence.

2)      Lạc: Joy.

3)      Ngă: Personality.

4)      Tịnh: Purity.

Tứ Không: See Tứ Không Xứ. 

Tứ Không Định: See Tứ Không Xứ.

Tứ Không Thiên: See Tứ Không Xứ.

Tứ Không Xứ: Catur-arupya (skt)—Brahma-lokas (skt).

(A)  Tứ Vô Sắc, Tứ Vô Sắc Giới, Tứ Không Định, hay Tứ Không Thiên theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa—The four Immaterial or Formless Heavens, arupa-dhatu, above the eighteen brahmalokas, according to the point of views of Mahayana Buddhism:

1)      Không Vô Biên Xứ: Akasanantya-yatanam (skt)—Hư Không Xứ—Không xứ đầu tiên trong Tứ Không Xứ. Khi cái tâm được tách khỏi cảnh giới h́nh và chất, được đặc biệt đưa thẳng đến không gian vô biên th́ nó được gọi là đang trú trong không vô biên xứ. Để đạt đến cơi nầy, hành giả đă đạt tới tầng thiền thứ năm trong sắc giới có thể trau dồi thiền vô sắc, bắt đầu gom tâm vào điểm sáng phát ra từ đề mục hay đối tượng (kasina), cho đến khi nào điểm sáng ấy lớn dần đến bao trùm toàn thể không gian. Đến đây hành giả không c̣n thấy ǵ khác ngoài ánh sáng nầy, cùng khắp mọi nơi. Từ ngữ Không Vô Biên Xứ hay không gian đầy ánh sáng nầy không có thực, không phải là một thực tại, mà chỉ là một khái niệm (không gian phát huy từ đối tượng).  Đây là cơi trời vô biên nơi mà tâm trở nên vắng lặng và vô tận như hư không. Thọ mệnh trong cơi trời nầy có thể dài đến 20.000 đại kiếp—The first of the four immaterial jhanas. When the mind, separated from the realm of form and matter, is exclusively directed towards infinite space, it is said to be abiding in the Akasanantya-yatanam. To reach this, a meditator who has mastered the fifth fine-material jhana based on a “kasina” object spreads out the counterpart sign of the “kasina” until it becomes immeasurable in extent. The he removes the “kasina” by attending only to the space it pervaded, contemplating it as “infinite space.” The expression “base of infinite space,” strictly speaking, refers to the concept of infinite space which serves as the object of the first immaterial-sphere consciousness. This is the state or heaven of boundless space,  where the mind becomes void and vast like space. Existence in this stage may last 20,000 great kalpas.

2)      Thức Vô Biên Xứ: Vijnananantyayatanam (skt)—Sau khi đạt được trạng thái “Không Vô Biên Xứ,” hành giả tiếp tục gom tâm vào sơ thiền vô sắc cho đến lúc phát triển nhị thiền vô sắc, hay khi cái tâm vượt khỏi cái không gian vô biên mà tập trung vào sự vô biên của thức. Đây là cơi trời vô tận trí nơi mà khả năng hiểu biết và thẩm thấu là vô tận. Thọ mệnh trong cơi trời nầy có thể kéo dài đến 40.000 đại kiếp—After attaining the state of the base of infinite space, meditator continues to concentrate on this state of “infinite space” until he takes as object the consciousness of the base of infinite space, and contemplates it as “infinite consciousness” until the second immaterial absorption arises, or when the mind going beyond infinite space is concentrated on the infinitude of consciousness it is said to be abiding in the Vijnananantya. This is the state or heaven of boundless knowledge. Where the powers of perception and understanding are unlimited. Existence in this stage may last 40,000 great kalpas.

3)      Vô Sở Hữu Xứ: Akincanyatanam (skt)—Đề mục của tầng thiền vô sắc thứ ba là “không có ǵ hết,” nơi đây hành giả phải chú ư vào sự vắng mặt của “thức” trong nhị thiền vô sắc. Khi mà tâm của hành giả vượt khỏi cả cái cảnh giới của thức mà thấy không có chỗ nào riêng để trú, th́ nó đạt được cái định gọi là “Không biết chỗ nào để hiện hữu.” Đây là cơi trời vô hữu nơi không c̣n sự phân biệt. Thọ mệnh trong cơi trời nầy có thể kéo dài đến 60.000 đại kiếp—The third immaterial attainment has its object the present non-existence or voidness. Meditators must give attention to the absence of that consciousness in the second immaterial-sphere consciousness. When the mind going even beyond the realm of consciousness finds no special resting abode, it acquires the concentration called “knowing nowhere to be.” This is the state or heaven of nothing or non-existence. Where the discriminative powers of mind are subdued. Existence in this stage may last 60,000 great kalpas.

4)      Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Naivasam-jnanasanjnayatanam (skt)—Gọi là “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ” v́ ở trạng thái nầy, “tưởng” không thể được bao gồm mà cũng không thể bị loại trừ. mà cũng không có “không tưởng.” Bản chất của cái định nầy là không ở trong cảnh giới hoạt động của tâm thức mà cũng không ở ngoài cảnh giới ấy. Đây là cơi trời vô tưởng, nơi chỉ c̣n trí trực giác chứ không c̣n suy tưởng nữa. Thọ mệnh trong cơi trời nầy có thể kéo dài đến 80.000 đại kiếp—This fourth and final immaterial attainment is so called because it cannot be said either to include perception or to exclude perception. The nature of this concentration is neither in the sphere of mental activities nor out of it. This is the state or heaven of neither thinking nor not thinking which may resemble a state of intuition. The realm of consciousness or knowledge without thought is reached (intuitive wisdom). Existence in this stage may last to 80,000 great kalpas.

(B)  Tứ không xứ hay bốn cảnh trời vô sắc, là quả cho những hành giả đắc được bốn bậc thiền vô sắc—Four formless realms which are the fruits of practitioners who have reached the four arupa jhanas:

1)      Không Vô Biên Thiên: Akasanancayatana (p)—The infinity of space.

·        Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “không vô biên thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells in the infinity of space.  

2)      Thức Vô Biên Thiên: Vinnanancayatana (p)—The infinity of consciousness.

·        Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “thức vô biên thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells on the infinity of consciousness.

3)      Vô Sở Hữu Thiên: Akincannayatana (p)—Nothingness.

·        Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “vô sở hữu thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells on nothingness.

4)      Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên: N’eva sanna n’asannayatana (p)—Neither perception, nor non-perception.

·        Tâm thiện đeo níu trong trạng thái “phi tưởng phi phi tưởng thiên”—Moral or wholesome consciousness dwells in the neither perception nor non-perception. 

Tứ Khổ: Bốn nỗi khổ của con người—Four miseries—Four universal sufferings—The four afflictions that are the lot of every man:

1)      Sanh khổ: Birth is suffering.

2)      Già khổ: Old age is suffering.

3)      Bịnh khổ: Disease (illness) is suffering.

4)      Chết khổ: Death is suffering.

**  For more information, please see  Bát Khổ.

Tứ Khởi (Tứ Ái Sanh): Bốn thứ làm khởi dậy ái dục cho chư Tăng Ni—Four sources of affection for a bhiksu or bhiksuni:

1)      Food: Ăn.

2)      Clothes: Mặc.

3)      Bedding: Ở.

4)      Gifts: Quà cáp.

Tứ Kiên Tín: Bốn niềm tin không hoại diệt—The four firm or indestructible beliefs:

1)      Kiên tín nơi Phật: Firm belief in the Buddha.

2)      Kiên tín nơi Pháp: Firm belief in the Law.

3)      Kiên tín nơi Tăng: Firm belief in the Order (Sangha).

4)      Kiên tín nơi giới luật: Firm belief in the commandments.

Tứ Kiếp (Tứ Trạng): Theo Câu Xá Luận, có bốn trạng thái hay bốn kiếp, mỗi kiếp gồm 20 tiểu kiếp qua các thời kỳ thành, trụ, hoại, không—According to the Kosa Sastra, there are four kalpas or epochs, or periods of time, each consisting of twenty small kalpas, during which worlds go through formation, existing, destruction, and annihilation:

1)      Thành Kiếp: Vivarta-kalpa (skt)—Thành kiếp gồm 20 tiểu kiếp trong lúc các thế giới và chúng sanh được thành lập—Kalpa of formation—Formation or completion which consists of twenty small kalpas during which worlds and the beings on them are formed.

2)      Trụ Kiếp: Vivarta-siddha (skt)—Trụ kiếp trong đó mặt trời mặt trăng mọc lên, giới tính phân biệt, anh hùng khởi dậy, bốn giai cấp được thành lập, và cuộc sống xă hội tiến hóa—Kalpa of existing—Existing or abiding or existence, sun and moon rise, sexes are differentiated, heroes arise, four castes are formed, social life evolves.

3)      Hoại Kiếp: Samvarta kalpa (skt)—Hoại kiếp gồm 64 tiểu kiếp trong đó lửa, nước và gió tàn phá tất cả mọi thứ, ngoại trừ Tứ Thiền Thiên—Kalpa of destruction or decay—Destruction consists of sixty-four small kalpas when fire, water and wind destroy everything except the Fourth Dhyana.

4)      Không Kiếp: Samvarta-siddha kalpa (skt)—Sự hủy diệt kế tiếp bởi không kiếp, trong giai đoạn nầy không thứ ǵ có thể tồn tại được. Đây là giai đoạn hoàn toàn hoại diệt—Kalpa of annihilation—Annihilation or the succeeding void, during which nothing exists, or the final annihilation.

Tứ Kim Cang: The four maharajas—See Tứ Thiên Vương.

Tứ Kinh Vệ Đà: Bốn bộ kinh Vệ Đà ở Ấn Độ—Four Veda Sutras in India—The four Vedas:

1)      Độc Tụng Vệ Đà: Gồm những bài ca tụng thần thánh—Rig Veda.

2)      Ca Vịnh Vệ Đà: Gồm những bài ca trong khi hành lễ—Sama Veda.

3)      Tế Tự Vệ Đà: Những bài nghị thức tế lễ—Yajur Veda.

4)      Nhương Tai Vệ Đà: Gồm những bài chú để cầu nguyện—Atharva Veda. 

Tứ Kính: Thể tướng bổn giác có bốn nghĩa tương tự như một cái kính—The four resemblances between a mirror and the bhutatathata in the Awakening of Faith:

1)      Như Thực Không Kính (Không Chân Như): Thể của chân như bản lai không tịch lên mọi vọng tướng, giống như không kính ĺa mọi thể ngoại vật—The bhutatathata, like the mirror, is independent of all beings.

2)      Nhân Huân Tập Kính (Bất Không Chân Như): Giáo thể chân như có đủ vô lượng đức tính, là nhân của tịnh pháp, giống như thể tính của gương, có khả năng thể hiện muôn vạn h́nh tượng—The bhutatathata, like a mirror, reveals all objects.

3)      Pháp Xuất Ly Kính (Thể Chân Như): Giác thể chân như chân giám trong phiền năo của chúng sanh, gọi là Như Lai Tạng, nay ĺa khỏi mọi tiềm cấu phiền năo, thuần nhứt trong sáng giống như tịnh kính (tấm gương trong lau chùi th́ sạch bụi bặm)—The bhutatathata, like a mirror, is not hindered by objects.

4)      Duyên Huân Tập Kính (Dụng Chân Như): Lúc giác thể chân như ĺa khỏi triền phược th́ có vô biên diệu dụng, nhưng do huân tập vọng tâm của chúng sanh từ bên ngoài hay huân tập ngoại duyên như gương sáng trên đài mà thu dụng—The bhutatathata, like a mirror, serves all beings. 

Tứ Kư: Bốn phương pháp Phật trả lời câu hỏi—The Buddha’s four methods of dealing with questions:

1)      Trả lời thẳng: Direct answer.

2)      Trả lời bằng cách phân biệt: Discriminating answer.

3)      Trả lời bằng cách hỏi lại: Questioning in return.

4)      Giữ im lặng: Remaining silent.

Tứ Kư Tâm: Theo Kinh Tự Hoan Hỷ trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại kư tâm sai khác—According to the Sampasadaniya Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four ways of teaching Dhamma in regard to the telling of thought:

1)      Loại Kư Tâm Thứ Nhất—The firs way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có hạng tự lộ bằng h́nh tướng, nói rằng: “Ư của ngươi thế nầy, ư của ngươi là như vậy, không phải ǵ khác.”—One tells by a visible sign by saying: “This is what you think, this is in your mind, you thought is like this.” An however much one declares, it is so and not otherwise.

2)      Loại Kư Tâm Thứ Hai—The second way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại không tự tỏ lộ bằng h́nh tướng, nhưng tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi người, phi nhân, hay chư Thiện: “Ư của ngươi là như thế, ư của ngươi là như vậy, tâm của ngươi là như thế nầy. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, th́ sự tỏ lộ là như vậy, không phải ǵ khác.”—One tells not by a visible sign, but through hearing a sound made by humans, non-humans, or devas (the rest remains the same as in Tứ Kư Tâm 1).

3)      Loại Kư Tâm Thứ Ba—The third way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại  không tỏ lộ bằng h́nh tướng, cũng không tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra bởi nhân, phi nhân hay chư Thiên, mà tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rơ ràng và hợp lư, phát ra từ sự suy tầm, tư duy—One tells neither by a visible sign nor by a sound uttered, but by applying one’s mind and attending to something conveyed by sound (the rest remains the same as in Tứ Kư Tâm 1).

4)      Loại Kư Tâm Thứ Tư—The fourth way of teaching Dhamma in regard to telling of thought: Có loại không tự tỏ lộ bằng h́nh tướng, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng phát ra từ nhân, phi nhân và chư Thiên, cũng không tự tỏ lộ sau khi nghe tiếng rơ ràng và hợp lư phát ra từ sự suy tầm và tư duy, nhưng khi chứng được định, không tầm, không tứ, có thể biết được tâm người khác với tâm của ḿnh: “Tùy ư nguyện hợp ư hành của vị nầy, vị nầy sẽ hướng đến tâm nầy. Nếu có tỏ lộ nhiều đi nữa, thời sự tỏ lộ là như vậy, không phải ǵ khác.”—One tells, not by any of the above mentioned means in 1, 2, and 3, but when one has attained a state of mental concentration without thinking and pondering, by divining another’s thoughts in one’s mind, and one says: “As far as so-and-so’s mind-force is directed, so his thoughts will turn to that thing.”     

Tứ Lạc Pháp: See Tứ Đọa.

Tứ Liên Hoa: Four kinds of lotus—See Liên Hoa.

Tứ Liệu Giản:

(A)  Bốn cách cân nhắc trong giáo tướng của tông Lâm Tế—A summary of Lin-Chi school, an offshoot of the Ch’an:

1)      Chủ Quan: Bỏ người chẳng bỏ cảnh—Subjective.

2)      Khách Quan: Bỏ cảnh chẳng bỏ người—Objective.

3)      Cả Chủ Quan lẫn Khách Quan: Bỏ cả người lẫn cảnh—Both subjective and objective.

4)      Chẳng Chủ Quan chẳng Khách Quan: Chẳng bỏ người chẳng bỏ cảnh—Neither subjective nor objective.

(B)  Trong thời Đại Sư Diên Thọ, người đời c̣n đang bị phân vân, ngờ vực giữa Thiền tông và Tịnh Độ, chưa biết phải tu môn nào để được kết quả chắc chắn, nên ngài Diên Thọ đă làm bài kệ TỨ LIỆU GIẢN để so sánh với Thiền Tông—During the time of Den Suu, many Buddhists were skeptical and unclear about the differences between Zen and Pureland, not knowing which tradition to practice to obtain guaranteed results; therefore, Den-Suu wrote a poem entitled “Four Clarifications” to make comparisons.

1)      Hữu Thiền Vô Tịnh Độ, thập nhân cửu thác lộ. Ấm cảnh nhược hiện tiền, miết nhĩ tùy tha khứ (Có Thiền không Tịnh Độ, mười người chín lạc đường. Ấm cảnh khi hiện ra, chớp mắt đi theo nó): Having Zen but not having Pureland, nine out of ten cultivators will be lost. When life images flash before death, in a split second, must follow that karma.

2)      Vô Thiền Hữu Tịnh Độ, vạn tu vạn nhơn khứ. Đản đắc kiến Di Đà, hà sầu bất khai ngộ (Không Thiền có Tịnh Độ, muôn tu muôn thoát khổ. Văng sanh thấy Di Đà, lo ǵ không khai ngộ): Without Zen but having Pureland, thousand cultivators, thousand find liberation. Gain rebirth, witness Amitabha Buddha, what worry is there for not becoming awakened!  

3)      Hữu Thiền Hữu Tịnh Độ, do như đái giác hỗ. Hiện thế vi nhân sư, lai sanh tác Phật Tổ (Có Thiền có Tịnh Độ, như thêm sừng mănh hổ. Hiện đời làm thầy người, về sau thành Phật Tổ): Having Zen and having Pureland, is similar to giving horns to a tiger. Present life one will be the master of men; in the future one will become Buddha and Patriarch.

4)      Vô Thiền Vô Tịnh Độ, thiết sàng tinh đồng trụ. Vạn kiếp dữ Thiên sanh, một cá nhơn y hổ (Không Thiền không Tịnh Độ, giường sắt cột đồng lửa. Muôn kiếp lại ngàn đời, chẳng có nơi nương tựa): Without Zen and without Pureland, iron beds and copper poles await. In tens and thousands of lifetimes, having nothing to lean on. 

Tứ Linh: Bốn linh vật—The four supernatural creatures:

1)      Long: Dragon.

2)      Lân: Unicorn.

3)      Quy: Tortoise.

4)      Phụng: Phoenix.

Tứ Loại Chúng Sanh: See Four Kinds of Sentient Beings in English-Vietnamese Section.

Tứ Lô: Bốn loại hỏa ḷ hay bàn thờ của Mật Giáo, mỗi thứ đều có h́nh thể khác nhau—The four furnaces, or altars of the esoteric cult, each differing in shape:

1)      Địa Lô: Ḷ đất h́nh vuông—Earth furnace, square in shape.

2)      Thủy Lô: Ḷ nước h́nh tṛn—Water furnace, round in shape.

3)      Hỏa Lô:  Ḷ lửa h́nh chữ nhật—Fire furnace, triangular in shape.

4)      Phong Lô: Ḷ gió h́nh bán nguyệt—Wind furnace, half-moon in shape.   

Tứ Luân: Theo Câu Xá Luận, có tứ luân tạo nên thế giới—According to the Kosa Sastra, there are four wheels on which the earth rests:

(A)  Đại Địa Tứ Luân—The four wheels on which the earth rests:

1)      Hư Không Luân: The Space wheel.

2)      Thủy Luân: The Water wheel—See Thủy Luân.

3)      Phong Luân: The Wind (Air) wheel.

4)      Kim Luân: The Metal wheel.

(B)  Bốn h́nh tượng của tứ luân—Four images with wheels:

1)      Màu vàng quan hệ tới vàng hay kim loại—Yellow associated with metal or gold.

2)      Màu trắng với nước: White with water.

3)      Màu đỏ với lửa: Red with fire.

4)      Màu đen với gió: Black with wind.

(C)  Tứ Phật Luân—The four dhyani-buddhas:

1)      Kim Cang Luân với A Súc Bệ Phật: Vajra-Wheel with Aksobhya Buddha.

2)      Bảo Luân với Bảo Tướng Phật: Ratna-Wheel with Ratnasambhava Buddha.

3)      Pháp Luân với A Di Đà Phật: Dharma-Wheel with Amitabha Buddha.

4)      Yết Ma Luân với Nam Phật: Amoghasiddhi.

(D)  Tứ Luân của Tứ Thiên Vương—The four wheels of the Cakravartin kings:

1)      Kim Luân (vàng): Gold wheel.

2)      Ngân Luân (bạc): Silver wheel.

3)      Đồng Luân: Copper wheel.

4)      Thiết Luân (sắt): Iron wheel. 

Tứ Luân Vương: Bốn loại Tứ Thiên Vương—The four kinds of Cakravartin kings—See Tứ Luân (D).

Tứ Luận: Bốn bộ luận nổi tiếng—The four famous sastras:

1)      Trung Quán Luận (bốn quyển): Pranyamula-sastratika by Nagarjuna (Long Thọ), four books.

2)      Bách Luận (hai quyển): Sata-sastra by Devabodhisattva, two books.

3)      Thập Nhị Môn Luận (một quyển): Dvadasanikaya-mukha-sastra by Nagarjuna, one book.

4)      Đại Trí Độ Luận (100 quyển): Mahaprajnaparamita-sastra by Nagarjuna, one hundred books.  

Tứ Luận Chứng: Bốn luận chứng mà ngài Thế Thân đă trích dẫn từ nền văn học Luận Tạng. Trong đó Thế Thân tán đồng quan điểm của Thế Hữu (3) là hợp lư nhất trong số bốn luận chứng, dù ông không hoàn toàn thỏa măn với nó—The four arguments which Vasubandhu quoted from the Exegetic Literature. Vasubandhu prefers Vasumitra’s opinion (3) as the best of the four arguments though he was not entirely satisfied with it.

1)      Luận chứng của Pháp Cứu, bàn về sai biệt giữa phẩm loại hay kết quả, như một thoi vàng có thể được làm thành ba thứ đồ dùng, nhưng mỗi thứ vẫn giữ y bản chất của vàng: Dharmatrata’s argument from the difference of kind or result, as a gold piece may be made into three different articles, yet each retains the real nature of gold.

2)      Luận chứng của Diệu Âm, bàn về sai biệt tướng dạng hay kiện tố, như cùng một công việc có thể đạt đến được bằng ba nhân công khác nhau: Shosa’s argument from the difference of mark or factor as the same service can be obtained from three different employees.

3)      Luận chứng của Thế Hữu, bàn về sai biệt nhiệm vụ hay vị trí, như trong kế toán, cùng một con số có thể được dùng để diễn tả ba giá trị khác nhau, ví dụ như một đơn vị số có thể là một hay chỉ cho 10, hay cho 100 (1 mét=10 deci-mét=100 centi-mét). Theo luận chứng nầy th́ ta có thể đưa ra nhiều giá trị khác nhau cho mỗi một trong ba thời (quá khứ,  vị lại, và hiện tại): vị lai là giai đoạn chưa hiện hành, hiện tại là giai đoạn đang hiện hành thực sự, và quá khứ là giai đoạn mà hiện hành đă chấm dứt. Do bởi những sai biệt về giai đoạn, nên ba thời phân ly rơ rệt, và tất cả các pháp trong đó đều là những thực thể có thực. Do đó có công thức “Tam Thế Thực Hữu, Pháp Thể Hằng Hữu” (ba giai đoạn của thời gian đều có thực và do đó thực thể của tất cả các pháp đều liên tục là thực hữu): Vasumitra’s argument from the difference of function or position in accounting where the same numeral may be used to express three different values, for instance, the numeral one may by 1 or the index of 10 or of 100 (1 meter=10 decimeters=100 centimeters). According to this argument, it is possible to give different values to each of the three periods of time, the future is the stage which has not come to function, the present is the actually functioning stage, and the past is the stage in which the function has come to an end. Owing to the differences in stages, the three periods are distinctly separate, and all things or elements in them are real entities. Hence the formula: “The three periods of time, are real and so is the entity of all elements at any instant.”

4)      Luận chứng của Giác Thiên, sai biệt về quan điểm hay tương quan; như một người đàn bà có thể cùng một lúc vừa là con gái,  là vợ và bà mẹ, tùy theo sự tương quan với mẹ, với chồng hay với con của ḿnh: Buddhadeva’ argument from the difference of view or relation, as a woman can at once be daughter, wife, and mother according to the relation she holds to her mother, her husband, and her child.  

**   For more information, please see Nhất

       Thiết Hữu Bộ (B).

Tứ Luận Tông: Tứ Luận Tông được thành lập vào đời nhà Tùy, chủ thuyết dựa trên bộ Tứ Luận được soạn bởi Ngài Long Thọ và Đề Bà Bồ Tát. V́ lúc ấy Tam Luận Tông quá thiên trọng về duy tâm luận phủ định, nên nảy lên một phái tích cực là Tứ Luận Tông, bằng cách thêm vào một tác phẩm thứ tư của Ngài Long Thọ, đó là Đại Trí Độ Luận, trong đó chúng ta thấy rằng ông thiết lập quan điểm “Nhất Nguyên” của ḿnh một cách xác quyết hơn trong bất cứ tác phẩm nào khác. V́ Tam Luận hay Tứ Luận đều từ tay Ngài Long Thọ, nên khuynh hướng tổng quát của những luận chứng siêu h́nh cũng gần giống nhau. Tuy nhiên, khi Tam Luận Tông chiếm ưu thế hơn, Tứ Luận tông đành nhượng bộ và mất hẳn khỏi môi trường tranh luận tánh không—The Four-Sastra Sect, which formed during the Sui dynasty, its doctrines based on those four sastras composed by Nagarjuna and Devabodhisattva. As the Madhyamika School is much inclined to be negativistic idealism, there arose the more positive Four-Treatise School or Shih-Lun which adds a fourth text by Nagarjuna, namely, the Prajnaparamita Sastra in which we see that he establishes his monistic view much more affirmatively than in any other text. Because all being from Nagarjuna’s hand, the general trend of metaphysical argument is much the same. However, as the Madhyamika School carried the day, the Four Treatise School gave way to it and soon disappeared from the arena of Sunyata controversy.

**  For more information, please see Tứ Luận,

      and Tam Luận Tông. 

Tứ Luật Ngũ Luận: Bốn Luật Năm Luận—The four Vinaya and the five Sastras:

(A)  Bốn Luật—The four Vinaya or disciplinary regulations:

1)      Thập Tụng Luật: Bộ Thập Tụng Luật được Ngài Phật Nhược Đà La đời Hậu Tần dịch ra Hoa Ngữ gồm 61 quyển—Sarvastivada-version, translated into Chinese in 61 books by Punyatara.

2)      Tứ Phần Luật: Bộ Tứ Phần Luật được Ngài Phật Đà Da Xá đời Diêu Tần dịch ra Hoa Ngữ 60 quyển—Dharmagupta’s version, translated into Chinese by Buddhayasas in 60 books.

3)      Tăng Kỳ Luật: Bộ Tăng Kỳ Luật được Ngài Phật Đà Bạt Đà La đời Đông Tấn dịch ra Hoa ngữ, 40 quyển—Samghika-version or Mahasamghika-version, translated into Chinese in 40 books by Buddhabhadra.

4)      Ngũ Bộ Luật: Sa Di Tắc Bộ Ḥa Hê Ngũ Phần Luật (Mahisasaka-nikaya-pancavargavinaya)—Bộ Ngũ Bộ Luật do Ngài Phật Đà Thập đời Tống dịch ra Hoa ngữ, 30 quyển—Mahisasaka-version, translated into Chinese in 30 books by Buddhajiva.

(B)  Ngũ Luận—The five sastras:

1)      T́ Ni Mẫu Luận:

2)      Ma Đắc Lặc Già Luận:

3)      Thiện Kiến Luận:

4)      Tát Bà Đa Luận:

5)      Minh Liễu Luận:

Tứ Lực:

(A)  Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn lực—According to the Sangiti Sutta, there are four powers:

1)      Tinh tấn lực: Energy.

2)      Niệm lực: Mindfulness.

3)      Định lực: Concentration.

4)      Tuệ lực: Wisdom.

(B)  Bốn loại lực giúp ta đạt được giác ngộ—Four powers for attaining enlightenment:

1)      Tự lực: Tự ḿnh tinh tấn dũng mănh phát tâm Bồ Đề—Independent personal power.

2)      Tha lực: Do lực giáo giới của người khác tác động vào nên phát tâm Bồ Đề—Power derived from others.

3)      Nhân Lực: Nhờ thiện nghiệp lực từ quá khứ mà đời nay phát tâm Bồ Đề: Power of past good karma.

4)      Phương Tiện Lực: Do lực từ hoàn cảnh bên ngoài hay từ những phương tiện thiện xảo mà phát tâm Bồ Đề: Power arising from environment.

Tứ Lương Dược: The four good physicians or medicines—See Tứ Thánh Hành and Tứ Y (A).

Tứ Lưu: Bốn ḍng suy tưởng, tức những thứ phiền năo khiến chúng sanh trôi dạc, ch́m đắm trong ḍng thác luân hồi sanh tử—Four currents that carry the thinking along. These are the defilements that sweep away the wholesome dharmas and cause sentient beings to drift and drown  in the torrential stream of Samsara:

1)      Kiến Lưu: Tà kiến hay những suy tưởng ảo ảnh hay kiến hoặc của tam giới—Wrong views, or the ilusion of seeing things as they seem, not as they really are.

2)      Dục Lưu: Suy tưởng dục vọng hay các hoặc của dục giới—Desires, or thinking of desires.

3)      Hữu Lưu: Suy tưởng về sự có của đời sống hay ủa báo sinh tử chẳng mất—Samsaric existence, or thinking of existence or life.

4)      Vô Minh Lưu: Suy tưởng mê muội hay vô minh của tam giới—Ignorance, or Unenlightened thinking or condition. 

Tứ Ly Ách: Four unyokings—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn ly ách—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four unyokings:

1)      Ly Dục Ách: Unyoking from sensuality.

2)      Ly Hữu Ách: Unyoking from becoming.

3)      Ly Kiến Ách: Unyoking from wrong views.

4)      Ly Vô Minh Ách: Unyoking from ignorance.

Tứ Ma: Trong Phật giáo, ma nói về những chướng ngại cho việc giác ngộ. Có bốn loại ma chính—In Buddhism, demons refer to obstructions of enlightenment—There are four major sources of distraction and delusion:

1)      Ma ngũ uẩn: The demons of the mind-body clusters (form, sensation, perception, condition, consciousness).

2)      Ma phiền năo: The demons of afflictions.

3)      Ma tử: The demons of death.

4)      Ma thiên: The demons of heaven—Wish to be in the realm of desire and thus blocks transmundane goodness.

Tứ Ma Thất: Sima (skt)—Biệt trụ của chư Tăng Ni và khách thập phương—A boundary, a separate dwelling or dwellings for monks and visitors.

Tứ Mă: Bốn loại ngựa để ví với bốn loại Tỳ Kheo—Four kinds of horses, likened to four classes of monks:

1)      Loại ngựa hay nhất: Loại cứ theo bóng soi mà dong ruổi, nhanh chậm tả hữu tùy theo ư chủ—The first ones are those that respond to the shadow of the whip.

2)      Loại ngựa thứ nh́: Roi chạm lông đuôi, xét ư người cưỡi mà theo ư đó—The second ones are those that respond to the lightest touch of the whip.

3)      Loại ngựa thứ ba: Roi vọt chạm vừa phải là làm theo ư chủ—The third ones are those that respond to the mild application of the whip.

4)      Loại ngựa thứ tư: Phải lấy vùi sắt đâm vào thân thấu đến tận xương mới chịu làm theo ư chủ—The fourth ones are those that need the spur to bite the bone. 

Tứ Mê: See Tứ Chấp. 

Tứ Minh: Four Shingon emblems, aids to Yoga-possession by a Buddha or Bodhisattva:

1)      Câu Minh: A hook, for summoning.

2)      Tác Minh (sách minh): A cord, for leading.

3)      Tỏa Minh: A lock, for firmly holding.

4)      Linh Minh: A bell, for the resultant joy.

Tứ Minh Gia: Phái chính thống của tông Thiên Thai—Ssu-Ming school in the direct line of T’ien-T’ai.

Tứ Minh Sơn: Dăy núi ở Ninh Phụ nơi có thể thấy được Tứ Minh—A  mountain range in Ningpo perfecture where the four emblems are clearly seen:

1)      Nhựt Sơn: The Sun.

2)      Nguyệt Sơn: The Moon.

3)      Tinh Sơn: The Stars.

4)      Đại Hùng Tinh Sơn: The Constellations.

Tứ Minh Tôn Giả: Pháp Tri Lễ đời nhà Tống, ở núi Tứ Minh hoằng truyền chánh pháp của tông Thiên Thai, có hiệu là Tôn Giả Tứ Minh—Chih-Li of the Sung dynasty is known as the honoured one of the Ssu-Ming.

Tứ Minh Vương: Bốn vị thiên vương hộ pháp trong các tự viện—The four deva kings of the four quarters (guardians in a monastery)—See Tứ Thiên Vương.

Tứ Môn: Bốn môn—The four doors, or schools of thought, or theories:

1)      Hữu Môn: Tam tạng Giáo cho rằng thế giới hiện tượng có thật—The phenomenal world is real.

2)      Không Môn: Thông giáo cho rằng thế giới hiện tượng không có thật—The phenomenal world is unreal.

3)      Diệc Hữu Diệc Không Môn: Biệt giáo cho rằng thế giới hiện tượng cũng là hữu mà cũng là không—The phenomenal world is both real and unreal.

4)      Phi Hữu Phi Không Môn: Viên giáo cho rằng thế giới hiện tượng chẳng phải hữu mà cũng chẳng phải không—The phenomenal world is neither real nor unreal.

**   For more information, please see      

       Thiên Thai Tam Giáo.

Tứ Môn Du Quán: Đức Phật Thích Ca khi c̣n là Thái Tử Tất Đạt Đa, do chơi thăm bốn cửa thành mà nh́n thấy bốn cảnh khổ—The four distresses observed during his wandering by the Buddha when he was a prince:

1)      Sanh: Birth.

2)      Lăo: Old age.

3)      Bệnh: Sickness—Diseases.

4)      Tử: Death.

Tứ Môn Mật Giáo: Bốn giai đoạn tu hành trong Mật tông—The four stages in esoteric symbolism:

1)      Phát Tâm: Xuất Gia—The stage of Initiation.

·        Đông Khai: Liên hệ với phương Đông—Associated with the East.

·        Xuân Ôn: Liên hệ với mùa Xuân ấm áp—Associated with the warm season.

2)      Tu Hành: The stage of development.

·        Nam Tu Hành: Liên hệ với phương Nam—Associated with the South.

·        Thị Hạ Nhiệt: Liên hệ với mùa Hạ nóng nực—Associated with the hot season.

3)      Bồ Đề: Giác ngộ đạo Bồ Đề—The stage of enlightenment.

·        Tây Ngộ: Liên hệ với phương Tây—Associated with the West.

·        Thu Lănh Liên hệ với mùa Thu mát mẽ—Associated with the season of coolness.

4)      Niết Bàn: The stage of Nirvana.

·        Bắc Niết Bàn: Liên hệ với phương Bắc—Associated with the North.

·        Nhập Đông Hàn: Liên hệ với Đông mùa lạnh lẽo—Associated with the cold season.

Tứ Môn Niệm Phật: Four methods of Buddha Recitation—Theo Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, niệm Phật không chỉ chuyên về miệng niệm, mà c̣n dùng tâm để tưởng niệm. Cho nên trong môn niệm Phật, ngoài phương pháp “Tŕ Danh Niệm Phật” c̣n có ba pháp môn khác—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in Pure Land Buddhism in Theory and Practice, Buddha Recitation does not consist of oral recitation alone, but also includes contemplation and meditation. Therefore, within the Pure Land School, in addition to oral recitation, there are three other methods. They are:

1)      Thật Tướng Niệm Phật: Thật tướng niệm Phật là nhập vào đệ nhất nghĩa tâm, niệm tánh Phật bản lai của chính ḿnh. Đây chính là quán pháp thân thật tướng của Phật, kết quả sẽ chứng được ‘Chân Như Tam Muội.’ Phương pháp nầy thuộc về thiền định, nhưng cảnh giới do tâm thiền hiển lộ lại là ‘Tịnh Độ.’ Pháp nầy không gồm thâu những bậc trung hay hạ căn, nếu không phải là bậc thượng thượng căn, tất không thể ngộ nhập. V́ thế trong Tịnh Độ Tông ít có người đề xướng, mà phần hoằng hóa lại thuộc về các vị bên Thiền tông. Theo thiển ư, khi c̣n đi trên đoạn đường hành tŕ chưa đạt đến địa vị viên giác, th́ tất cả các pháp môn đều là phương tiện, niệm Phật cũng là phương tiện, mà tham thiền cũng là phương tiện. Theo tam kinh Tịnh Độ, Đức Thích Tôn mở phương tiện chỉ bày cơi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, khuyên chúng hữu t́nh nên niệm Phật cầu sanh về thế giới ấy để không c̣n bị luân hồi, mượn cảnh duyên thắng diệu để tiếp tục tu hành mau tiến lên Phật quả. Niệm Phật tinh chuyên cũng tỏ ngộ như bên Thiền tông, nhưng điểm chánh yếu của môn niệm Phật là cầu văng sanh, c̣n tỏ ngộ được bao nhiêu cũng thuộc về thứ yếu. Cho nên pháp Thật Tướng Niệm Phật luận về chỗ cứu cánh mà vẫn nhiếp thuộc Tịnh Độ. Nhưng nếu nói đến phương tiện văng sanh th́ pháp nầy vẫn chưa chính thức thuộc về Tịnh Độ, như ư nghĩa trong tam kinh Tịnh Độ mà Đức Phật đă đề xướng. Có lẽ v́ vậy mà chư tổ bên Tịnh Độ tông chỉ đề cập để cho rộng thêm về nghĩa lư Tịnh Độ, mà không rộng tuyên hóa để khuyên người tu chăng?—‘Real Mark’ or ‘Self-Nature’ Buddha Recitation. This entails penetrating the Mind’s foremost meaning, reciting our own original Buddha Nature. It is to contemplate the Real Mark Dharma Body of the Buddhas, resulting in attainment of True Thusness Samadhi. This method is really a Zen practice; however, since the realm revealed by the meditational mind is the Pure Land, it also qualifies as a Pure Land practice. This method is not for those of limited or moderate capacities. If the practitioner is not of the highest capacity, he cannot become enlightened and enter into it. For this reason, few Pure Land teachers promote it and the proponents of the method are found chiefly within the Zen tradition. Incidentally, I would venture to say here that while we are still treading the path of practice, not having reached the sage of Perfect Enlightenment, all Dharma methods are expedients. Buddha Recitation is an expedient and so is Zen. According to the three Pure Land sutras, Buddha Sakyamuni provided the expedient teaching of the Western Pure Land, and urged sentient beings to recite Amitabha Buddha’s name seeking rebirth there. Within this method, they can escape Birth and Death, avail themselves of that wonderful, lofty realm to pursue cultivation, and swiftly attain Buddhahood. Diligent Buddha Recitation also leads to Awakening, as in Zen; however, the principal goal of the Pure Land School is rebirth in the Land of Ultimate Bliss, while the degree of Awakening achieved is a secondary consideration. Thus, the goal of Real Mark Buddha Recitation falls within Pure Land teachings. However, from the standpoint of an expedient leading to rebirth in the Land of Ultimate Bliss, it does not trully qualify as a Pure Land method within the meaningof the Three Pure Land sutras taught by Buddha Sakyamuni. This is, perhaps, the reason why Pure Land Patriarchs merely referred to it to broaden the meaning of Buddha Recitation, but did not expound it widely.   

2)      Pháp Quán Tưởng Niệm Phật: Quán tưởng niệm Phật là chiếu theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ để quán tưởng y báo chánh báo nơi cơi Cực Lạc. Trong kinh nầy có dạy 16 phép quán, nếu quán hạnh được thuần thục, th́ lúc mở mắt hay nhắm mắt hành giả đều thấy cảnh Cực Lạc hiện tiền, tâm thần dạo chơi nơi cơi tịnh, khi mạng chung quyết định sẽ văng sanh. Công đức của pháp nầy lớn lao không thể nghĩ bàn, nhưng v́ cảnh quán quá vi tế sâu mầu, nên ít người hành tŕ được thành tựu. Bởi đại để có năm điều khó, ít có người được đầy đủ, nên phép quán tưởng nầy thuộc về môn khó hành tŕ—Contemplation by Thought Recitation. This entails meditation on the features of Buddha Amitabha and His Land of Ultimate Bliss, in accordance with the Meditation Sutra (the sutra teahces a total of 16 contemplations). If this practice is perfected, the cultivator will always visualize the Pure Land before him. Whether his eyes are open or closed, his mind and thoughts are always coursing through the Pure Land. At the time of death, he is assured of rebirth there. The virtues obtained through this method are immense and beyond imagination, but since the object of meditation is too profound and subtle, few practictioners can achieve it. This is because, in general, the method presents five difficulties. Very few can avoid all five pitfalls. Thus upon reflection, this method also belongs to the category of difficult Dharma doors: 

a)      Nếu độn căn, tất khó thành tựu: With dull capacities, one cannot easily succeed.

b)      Nếu tâm thô thiển, tất khó thành tựu: With a crude mind, one cannot easily succeed.

c)      Nếu không biết khéo dùng phương tiện xoay chuyển trong khi tu, tất khó thành tựu: Without knowing how to use expedient skillfully and flexibly during actual practice, one cannot easily succeed.

d)      Nếu ghi nhận ấn tượng không sâu, tất khó thành tựu: Without the ability to remember images clearly, one cannot easily succeed.

e)      Nếu tinh lực yếu kém, tất khó thành tựu: With low energy, one cannot easily succeed.     

3)      Quán Tượng Niệm Phật: Quán tượng niệm Phật là phương thức đem một bức tượng Phật A Di Đà để trước mặt, ghi nhận mọi nét của bức tượng ấy, rồi quán tưởng cho đến khi dù không có tượng, lúc mở mắt hay nhắm mắt đều thấy h́nh tượng Phật hiện rơ trước mắt. Phương pháp nầy cũng khó, v́ cần phải có tinh lực mạnh, kư ức sâu, và trí phương tiện khéo. Đă có người áp dụng cách thức nầy, nhưng v́ không khéo dùng phương tiện thay đổi, nên bị hư hỏa xông lên, mang chứng nhức đầu khó trị. Tuy nhiên, xét lại dùng phép quán tượng để văng sanh, không thấy nói trong kinh điển. Đây chỉ là cách thức phụ giúp cho sự tŕ danh hiệu Phật, để hành giả tâm không tán loạn, dễ được chánh niệm mà thôi. Nếu người tu với ḷng thành tín, cũng có thể được cảm ứng, tiêu tội nghiệp sanh phước huệ, từ nơi h́nh tượng giả mà thấy được Phật tướng thật và được văng sanh—Contemplation of an Image Recitation. In this method, the practictioner faces a statue of Amitabha Buddha and impresses all the features of that statue in his memory, contemplating to the point where, even in the absence of a statue, and whether his eyes are open or closed, he clearly sees the image of Amitabha Buddha. This method is also difficult, because it requires a great deal of energy, a faithful memory and skillful use of expedients. There are cases of individuals who have practiced it in an inflexible way and have developed headaches difficult to cure. Moreover, upon examination, this method of seeking rebirth in the Pure Land is not mentioned in the Buddhist sutras. It is merely a technique to assist in the practice of Buddha Recitation, so that the practitioner can harness his mind and achieve right thought. Still, if we practice this method in a pure, devoted frame of mind, we can obtain a response, eradicate our bad karma, develop virtue and wisdom, and, through an illusory statue of Amitabha Buddha, awaken to His True Marks and achieve rebirth in the Pure Land.

4)      Tŕ Danh Niệm Phật: Tŕ danh niệm Phật là phương pháp niệm ra tiếng hay niệm thầm bốn hoặc sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật.” Tŕ bốn chữ “A Di Đà Phật” được điểm lợi là dễ nhiếp tâm; nếu tŕ đủ sáu chữ th́ được điểm lợi là dễ phát khởi sự kính thành cơ cảm. Phương pháp nầy trong Kinh Phật Thuyết A Di Đà, Đức Thích Tôn đă đề xướng, hiện đang được thông dụng nhứt—Oral Recitation. In this method, the practitioner recites, aloud or silently, either “Nam Mo Amitabha Buddha” or “Amitabha Buddha.” The short form (Amitabha Buddha) has the advantage of easily focussing the cultivator’s mind, while the longer version facilitates development of a truly earnest, respectful mind conducive to a response. This method, taught by Sakyamuni Buddha in the Shorter Amitabha Sutra, is the dominant form of Pure Land practice at the present time.   

**   For more information, please see Thập

       Chủng Tŕ Danh.  

Tứ Môn Tam Muội: See Tứ Chủng Tam Muội.

Tứ Môn Tri Kiến Phật: Four divisions of the Enlightened Knowledge—Theo Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng đă dạy: “Nầy thiện tri thức! Nếu hay nơi tướng mà ĺa tướng, nơi không mà ĺa không th́ trong ngoài chẳng mê. Nếu ngộ được pháp nầy, một niệm tâm khai, ấy là khai Tri Kiến Phật. Phật tức là giác, phân làm bốn môn: Khai giác tri kiến, thị giác tri kiến, ngộ giác tri kiến, nhập giác tri kiến. Nếu nghe khai thị liền hay ngộ nhập tức là giác tri kiến, chơn chánh xưa nay mà được xuất hiện. Các ông dè dặt chớ hiểu lầm ư kinh, nghe trong kinh nói khai thị ngộ nhập rồi tự cho là Tri Kiến của Phật, chúng ta th́ vô phần. Nếu khởi cái hiểu nầy tức là chê bai kinh, hủy báng Phật vậy. Phật kia đă là Phật rồi, đă đầy đủ tri kiến, cần ǵ phải khai nữa. Nay ông phải tin Phật tri kiến đó chỉ là tự tâm của ông, lại không có Phật nào khác; v́ tất cả chúng sanh tự che phủ cái quang minh, tham ái trần cảnh, ngoài th́ duyên với ngoại cảnh, trong tâm th́ lăng xăng, cam chịu lôi cuốn, liền nhọc Đức Thế Tôn kia từ trong tam muội mà dậy, dùng bao nhiêu phương tiện nói đến đắng miệng, khuyên bảo khiến các ông buông dứt chớ hướng ra ngoài t́m cầu th́ cùng Phật không hai, nên nói khai Phật tri kiến.  Tôi cũng khuyên tất cả các người nên thường khai tri kiến Phật ở trong tâm của ḿnh. Người đời do tâm tà, ngu mê tạo tội, miệng th́ lành tâm th́ ác, tham sân tật đố, siểm nịnh, ngă mạn, xâm phạm người hại vật, tự khai tri kiến chúng sanh. Nếu ngay chánh tâm, thường sanh trí huệ, quán chiếu tâm ḿnh, dừng ác làm lành, ấy là tự khai tri kiến Phật. Các ông phải mỗi niệm khai tri kiến Phật, chớ khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật tức là xuất thế, khai tri kiến chúng sanh tức là thế gian. Nếu ông chỉ nhọc nhằn chấp việc tụng niệm làm công khóa th́ nào khác con trâu ly mến cái đuôi của nó!”—According to the Dharma Jewel Platform Sutra, the Sixth Patriarch taught: “Good Knowing Advisors! If you can live among marks and yet be seaprate from it, then you will be confused by neither the internal nor the external. If you awaken to this Dharma, in one moment your mind will open to enlightenment. The knowledge and vision of the Buddha is simply that. The Buddha is enlightenment. There are four divisions:

1)       Opening to the enlightened knowledge and vision;

2)       Demonstrating the enlightened knowledge and vision;

3)       Awakening to the enlightened knowledge and vision; and

4)       Entering the enlightened knowledge and vision.

If you listen to the opening and demonstrating of the Dharma, you can easily awaken and enter. That is the enlightened knowledge and vision, the original true nature becoming manifest. Be careful not to misinterpret the Sutra by thinking that  the opening, demonstrating, awakening, and entering of which it speaks is the Buddha’s knowledge and vision and that we have no share in it. To explain it that way would be to slander the Sutra and defame the Buddha. Since he is already a Buddha, perfect in knowledge and vision, what is the use of his opening to it again? You should now believe that the Buddha’s knowledge and vision is simply your own mind, for there is no other Buddha. But, because living beings cover their brilliance with greed and with the love or states of defilement, external conditions and inner disturbance make slaves of them. That troubles the World-Honored One to rise from Samadhi, and with various reproaches and expedients, he exhorts living beings to stop and rest, not to seek outside themselves, and to make themselves the same as he is. That is called ‘Opening the knowledge and vision of the Buddha.’ I, too, am always exhorting all people to open  to the knowledge and vision of the Buddha within their own minds. The mind of worldly people are deviant. Confused and deluded, they commit offenses. Their speech may be good, but their minds are evil. They are greedy, hateful, envious, given over flattery, deceit, and arrogance. They oppress one another and harm living creatures, thus they open not the knowledge and vision of Buddha, but that of living beings. If you can with an upright mind constantly bring forth wisdom, contemplating and illuminating your own mind, and if you can practice the good and  refrain from evil, you, yourself will open to the knowledge and vision of the Buddha. In every thought you should open up the knowledge and vision of the Buddha; do not open up to the knowledge and vision of living beings. To be open to the knowledge and vision of the Buddha is transcendental; to be open to the knowledge and vision of living beings is mundane. If you exert yourself in recitation, clinging to it as a meritorious exercise, how does that make you different from a yak who loves his own tail?”

Tứ Nghi: Theo Thượng Tọa Thích Hải Quang trong Thơ Gởi Người Học Phật, có bốn thứ nghi—According to Venerable Thích Hải Quang in the Letters to Buddhist Followers, there are four types of doubts:

1)      Nghi về Thân—Doubts of the body:

a)      Nghi rằng trong quá khứ ḿnh đă từng có thân hay không?—Doubting that whether in the past one had a body or not?

b)      Nghi rằng trong hiện tại thân nầy có thật sự hiện hữu hay không?—Doubting that whether at the present this body really exists or not?

c)      Nghi rằng trong tương lai có đầu thai hay không?—Doubting that whether in the future one will have another body or not (one will be reincarnated or not)?

d)      Nghi rằng trong quá khứ và vị lai thân ta là nam hay nữ?—Doubting that in the past and in the future, whether one will have a male’s or female’s body?   

2)      Nghi về Mạng-Doubts of Life:

a)      Nghi rằng có thân có mạng hay có thân không mạng?—Doubting that whether there is life and body or there is body but no life?

b)      Nghi rằng thân cùng mạng nầy là thường hay vô thường?—Doubting that life and body are permanent or impermanent?

c)      Nghi rằng thân cùng mạng nầy do ai tạo ra?—Doubting about who created this life and body, such as:

·        Trời Tự Tại tạo ra?—Was created by Isvaradeva (God of Free-Will).

·        Theo luật tiến hóa tạo ra—Was created through time or evolution.

·        Tự nhiên sanh ra—Was naturally created.

·        Do đời tạo ra—Was created by the nature of life.

·        Do cát bụi tạo ra. Nghi rằng nếu thân nầy không do cát bụi tạo ra th́ tại sao khi tan ră rối th́ thân ấy lại hoàn về cát bụi—Was created from the soil.  Doubting that if the body was not formed from the soil, then how come once it deteriorates it returns to the soil?

·        Nghi rằng thân do pháp hay do chẳng phải pháp tạo ra—Doubting that the body was created by dharma or not dharma.

·        Nghi rằng thân nầy do nghiệp hay chẳng do nghiệp tạo ra—Doubting that this body was created by karma or not karma.

·        Nghi rằng thân nầy do phiền năo tạo ra—Doubting that this body was created by afflictions.

·        Nghi rằng thân nầy có phải do cha mẹ tạo ra hay không—Doubting that whether this body was created by parents or not.

3)      Nghi về Ngă—Doubts of Self:

a)      Nghi rằng Ngă từ đâu sanh ra và sẽ đi về đâu?—Doubting where does the Self come from and where will it go?

b)      Nghi rằng nếu có cái Ngă, th́ Ngă ấy là sắc hay chẳng phải sắc?—Doubting if there is a Self, then does that Self have form or doesn’t have form?

c)      Nghi rằng nếu có Ngă th́ cái Ngă ấy là tướng hay chẳng phải là tướng?—Doubting if there is Self, then does that Self have characteristics or doesn’t it have characteristics?

d)      Nghi rằng cái Ngă ở trong thân hay ở ngoài thân?—Doubting whether the Self exists within the body or outside the body?

e)      Nghi rằng cái Ngă ở trong tâm hay ở trong mắt?—Doubting whether the Self exists within the mind or within the eyes?

f)        Nghi rằng cái Ngă ở đời quá khứ thuộc giống nào (là thú, hay là người và nó hành xử ra sao)?—Doubting about what type of  the Self in the past (was it an animal, a human, and how did it behave, etc)? 

g)      Nghi về cái Ngă đời vị lai thuộc giống nào?—Doubting about what will be the type of the Self in the future?

4)      Nghi về Tội—Doubts about Transgressions:

a)      nghi rằng sát sanh có phạm tội hay không?—Doubting if killing living things (animals) is considered transgressions or not?

b)      Nghi rằng uống rượu hay những chất cay độc có phạm hay không phạm tội?—Doubting if drinking alcohol or other substances is considered a transgression or not?

c)      Nghi rằng tội ta tự tạo hay v́ người khác mà gây tạo?—Doubting one’s transgressions are created by the individual or created by someone else?

d)      Nghi rằng nếu gây tạo tội rồi th́ thân nầy sẽ thọ báo hay Ngă nầy sẽ thọ báo?—Doubting if transgressions are created will one reap the retribution or will the Self reap those retributions? 

Tứ Nghiệp: Four kinds of kamma—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn loại nghiệp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four kinds of kamma:

1)      Hắc Nghiệp Hắc Báo: Kanha-vipakam (p)—Black kamma, or evil deeds with black results.

2)      Bạch Nghiệp Bạch Báo: Sukka-vipakam (p)—Bright kamma with bright result.

3)      Hắc Bạch Nghiệp, Hắc Bạch Báo: Kanha-sukka-vipakam (p)—Black-and-bright kamma with black-and-bright result.

4)      Phi Hắc Phi Bạch Nghiệp, Phi Hắc Phi Bạch Báo, đưa đến sự tận diệt các nghiệp: Akanham-asukkam (p)—Kamma that is neither black nor bright, with neither black nor bright result, leading to the destruction of kamma.

Tứ Ngung Tứ Hạnh Bồ Đóa: Bốn vị nữ thị giả của Ngài Đại Nhật Như Lai trên Kim Cang Giới—The four female attendants on Vairocana in the Vajradhatu—See Tứ Ba La Mật Bồ Tát.

Tứ Nguyện: Tứ Thắng Xứ—Four kinds of resolve—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn nguyện—According to the sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four kinds of resolve:

1)      Tuệ Thắng Xứ: Gaining wisdom.

2)      Đế Thắng Xứ: Gaining truth.

3)      Xả Thắng Xứ: Gaining relinquishment.

4)      Chỉ Tức Thắng Xứ: Gaining tranquility.

Tứ Nguyệt: Asadha (skt)—Tháng thứ tư—The fourth month.

Tứ Nguyệt Bát Nhật: Ngày tám tháng tư, ngày Đản Sanh của Đức Phật—The eighth of the fourth moon, the Buddha’s birthday.

Tứ Nhăn: Bốn lực thị giác của chư Bồ Tát, cũng giống như Ngũ Nhăn  ngoại trừ phần cuối cùng là Phật Nhăn—The four powers of sight of Bodhisattvas. They are similar to the that (five powers of sight of) a Buddha, except the last one, the Buddha-eye—See Ngũ Nhăn. 

Tứ Nhân Duyên: Theo Kinh Lăng Già, có bốn nhân duyên—According to the Lankavatara Sutra, there are four Causations (Hetupratyaya):

1)      Nhân Duyên: Hetupratyaya-hetu (skt)—Luật tổng quát về nhân duyên—The general law of causation.

2)      Thứ Đệ Duyên: Samanantara-hetu (skt)—Đệ Vô Gián Duyên—Điều kiện điều động sự diễn tiến của các sự kiện—Condition governing the succession of events.

3)      Sở Duyên Duyên: Alambana-hetu (skt)—Điều kiện trở thành một đối tượng của nhận thức—Condition becoming an object of cognition.

4)      Tăng Thượng Duyên: Karana-hetu (skt)—Điều kiện tối cao—The supreme condition.

Tứ Nhân Quán Thế: Bốn hạng người quán sát về thế gian hay bốn cách nh́n về nhân thế—The world from four points of view:

1)      Phàm phu hưởng thụ vô tâm chẳng chút giác tri: Men thoughtlessly view the world as pleasure place to live.

2)      Thanh văn Duyên giác nh́n thế gian khó chịu như nh́n căn nhà lửa đang rực cháy: Sravakas and pratyeka-buddhas uneasily view the world as a burning house.

3)      Bồ Tát nh́n thế gian là không như một đóa hoa trống rỗng hay hoa không: Bodhisattvas view the world as an empty flower.

4)      Giác tâm tức Phật (chư Phật quan sát thấy tam giới chỉ là tâm): Buddhas view the world as mind (all things being for or of intelligent mind).

Tứ Nhập Thai: Four ways of descent into the womb—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bốn cách nhập thai—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are four ways of descent into the womb:

1)      Không tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai: One descends into the mother’s womb unknowing, stays there unknowing, and leaves it unkmowing.

2)      Tỉnh giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai: One enters the womb knowing, stays there unknowing, and leaves it unknowing.

3)      Tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai: One enters the womb knowing, stays there knowing, and leaves it unknowing.

4)      Tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai, tỉnh giác xuất mẫu thai: One enters the womb knowing, stays there knowing, leaves it knowing.

Tứ Nhất: Theo tông Thiên Thai giải thích qua Kinh Pháp Hoa, có bốn thứ duy nhất—According to the T’ien-T’ai sect in the Lotus sutra, there are four “ones” or four kinds of unity:

1)      Giáo Nhất: Giáo thuyết chỉ duy có Nhất Phật Thừa—Its teaching of one vehicle.

2)      Hành Nhất: Chỉ chuyên nhất thực hành theo Bồ Tát đạo—Its sole bodhisttva procedures.  

3)      Nhân Nhất: Người chỉ y theo Phật tri kiến mà tu hành, người đó chỉ là Bồ Tát—Its men all and only as bodhisattvas.

4)      Lư Nhất: Lư sở chứng chỉ là một lư thực tướng của các pháp—Its one ultimate truth of the reality of all existence. 

Tứ Nhật: Catvarah-suryah (skt)—Bốn mặt trời (trong Phật giáo)—The four suns (in Buddhism):

1)      Mă Minh Bồ Tát: Asvaghosa.

2)      Đề Bà Bồ Tát: Devabodhisattva.

3)      Long Thọ Bồ Tát: Nagarjuna.

4)      Cưu Ma La Bạt Đà: Kumaralabdha.

Tứ Nhiếp Bồ Tát: Tứ Chúng Bồ Tát—Chỉ bốn vị Bồ Tát trong Kim Cang Giới với bốn đức hóa tha —The four Bodhisattvas in the Vajradhatu whose office is to convert or transform the living:

1)      Kim Cang câu Bồ Tát: The Bodhisattva with the Hook.

2)      Kim Cang Sách Bồ Tát: The Bodhisattva with the Rope.

3)      Kim Cang Tỏa Bồ Tát: The Bodhisattva with the Chain.

4)      Kim Cang Kinh Bồ Tát: The Bodhisattva with the Bell. 

Tứ Nhiếp Pháp: Catvari-samgraha-vastuni (skt)—Bốn pháp để dẫn dắt chúng sanh—Four elements of popularity—Four ways of leading human beings to emancipation. Also called four means of integration, four integrative methods, four means of integration, four attractions, four Dharmas of attraction, or four all-embracing virtues—Tứ nhiếp pháp là cửa ngơ vào hào quang của chư pháp, v́ khi sống với tứ nhiếp pháp chúng ta biết chấp nhận tha nhân và sau khi giác ngộ bồ đề, chúng ta sẳn sàng chia xẻ với tha nhân những ǵ ḿnh chứng ngộ (đây là bốn phép mà chư Phật và chư Bồ tát tùy dùng để thâu nhiếp lấy cái tâm của chúng sanh, làm cho họ thân ái với ḿnh để ḿnh có cơ hội dạy đạo lư cho họ)—The four elements of sociability is a gate of Dharma illumination; for with them we accept all living beings and after we have attained the truth of bodhi, we bestow upon all living beings the Dharma:

1)      Bố Thí Nhiếp: Dana (skt)—Charity—Cho những thứ mà người khác cần (chúng sanh nào thích của th́ thí của, chúng sanh nào thích pháp th́ thí pháp) hầu giúp họ có được yêu thương và hiểu thông chân lư—Giving, charity, or generosity—Giving unsparingly what others need in order to lead them to love and receive the truth.

2)      Ái Ngữ Nhiếp: Priyavacana (skt)—Kindly talk—Tùy theo căn tánh của chúng sanh mà dùng lời lẽ tốt lành để dẫn dắt họ vào con đường đạo đức—Kind speech, or pleasant words—Affectionate speech—Kind communication—Kind words which help beings love and receive the truth.

3)      Lợi Hành Nhiếp: Artha-carya (skt)—Useful deeds—Khởi thiện hành về thân khẩu ư để làm lợi cho người khác để họ nhiếp thụ chân lư—Beneficial action—Useful conduct, or beneficial action—Conduct profitable to others—Beneficial conduct which helps others love and receive the truth.

4)      Đồng Sự Nhiếp: Samana-arthata (skt)—Engaging in the same work—Tùy sự ưa thích của chúng sanh mà cùng hợp tác làm việc với nhau để giúp dẫn dắt họ đi vào chân lư—Cooperation, or comaradeship and accommodation—Like work—Sharing a common aim—Cooperation with and adaptation of oneself to others, to lead them into the truth.

Tứ Như Thực Quán:  A meditation method on the four good roots—See Tứ Thiện Căn.

Tứ Như Ư Túc: Rddhipada (skt)—Iddhipada (p)—Tứ Thần Túc—Bốn điều nên biết đủ—Four Sufficiences:

1)      Dục Như Ư Thần Túc: Dục Thần Túc: Chanda-rddhi-pada (skt).

·        Mong muốn phát triển thần thông như ư: Desire to develop magic.

·        Vị Tỳ Kheo tu tập dục thần túc, câu hữu với tinh tấn thực hiện Dục Thiền Định—Strong aspiration or will—Sufficience of desire—Strong aspiration—Intensive longing. Here a monk develops CONCENTRATION OF INTENTION accompanied by effort of the will power.

2)      Niệm Như Ư Thần Túc (Tâm Thần Túc): Citta-rddhi-pada (skt).

·        Mong muốn ghi nhớ phải thực hành chánh pháp: Endeavor to remember to practice correct dharmas.

·        Ở đây vị Tỳ Kheo tu tập tâm thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tâm Thiền Định—Intense concentration or thoughts—Sufficience of concentration—Intense concentration—Memory or intense holding on to the position reached. Here a monk develops concentration of consciousness accompanied by effort of the thought power.

3)      Tinh Tấn Như Ư Thần Túc (Cần Thần Túc): Virya-rddhi-pada (skt).

·        Tinh tấn thực chứng thần thông: Effort to realize magic.

·        Ở đây vị Tỳ Kheo tu tập cần thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tinh Tấn Thiền Định—Vigor or exertion—Sufficience of energy—Vigor—Intensified effort. Here a monk develops concentration of energy accompanied by strenuous efforts.

4)      Tư Duy Như Ư Thần Túc (Quán Thần Túc): Mimamsa-rddhi-pada  (skt).

·        Mong muốn nhiếp tâm vào một đề mục: Meditation on one subject.

·        Ở đây vị Tỳ Kheo tu tập quán thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tư Duy Thiền Định—Intense contemplation or meditation—Investigation—Suffience of contemplation—The state of dhyana—Intense contemplation. Here a monk develops concentration of investigation accompanied by effort of deep thinking.  

Tứ Niệm Châu: Bốn loại niệm châu—The four classes of “prayer-beads.”

1)      Hạ phẩm: Lower, numbering 27.

2)      Trung phẩm: Middle, numbering 54.

3)      Tối thắng phẩm: Superior, numbering 108.

4)      Thượng phẩm: Most superior, numbering 1.080.

Tứ Niệm Trú: The four basic subjects of Buddhist meditation—Theo Thiền Sư Thích Nhất Hạnh trong phần giải Kinh Bát Đại Nhân Giác, th́ đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ nhất là đoạn kinh thuyết minh về phép “Tứ Niệm Trú.” Tứ niệm trú là bốn phép thiền quán căn bản của đạo Phật, là sự nhớ nghĩ thường trực về bốn đặc tính của thực hữu: vô thường, khổ không, vô ngă và bất tịnh. Nếu chúng ta biết quán sâu vào những thứ nầy một cách cần mẫn th́ có thể dần dần thoát ly được thế giới sinh tử—According to Zen Master Thích Nhất Hạnh in the explanation of the first Awakening in the Sutra On The Eight Realizations of the Great Beings, the first awakening explains and clarifies the four basic subjects of Buddhist meditation: impermanence, suffering, no-self, and impurity. If we always remember and meditate on these four principles of reality, we will gradually be released from the round of birth and death (samsara).

1)      Vô Thường hay bản chất vô thường của vạn hữu: Impermanence or the impermanent nature of all things—Mọi vật trên thế gian nầy biến đổi trong từng giây từng phút, đó gọi là sát na vô thường. Mọi vật trên thế gian, kể cả nhân mạng, núi sông và chế độ chính trị, vân vân, đều phải trải qua những giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt. Sự tiêu diệt nầy được gọi là “Nhất kỳ vô thường.” Phải quán sát để thường xuyên nh́n thấy tính cách vô thường của mọi sự vật, từ đó tránh khỏi cái ảo tưởng  về sự miên viễn của sự vật và không bị sự vật lôi kéo ràng buộc—All things in this world, including human life, mountains, rivers, and political systems, are constantly changing from moment to moment. This is called impermanence in each moment. Everything passes through a period of birth, maturity, transformation, and destruction. This destruction is called impermanence in each cycle. To see the impermanent nature of all things, we must examine this closely. Doing so will prevent us from being imprisoned by the things of this world.

2)      Khổ Không: Người Ấn Độ xưa có quan niệm về tứ đại, cho rằng bản chất của sự vật  là đất hay yếu tố rắn chắc, nước hay yếu tố lưu nhuận, lửa hay yếu tố nhiệt lượng, và gió hay yếu tố năng lực, gọi chung là tứ đại. Bậc giác ngộ thấy rằng v́ sự vật là do tứ đại kết hợp, cho nên khi có sự điều ḥa của tứ đại th́ có sự an lạc, c̣n khi thiếu sự điều ḥa ấy th́ có sự thống khổ. Vạn vật v́ do tứ đại kết hợp, không phải là những cá thể tồn tại vĩnh cữu, cho nên vạn vật có tính cách hư huyễn, trống rỗng. Vạn vật v́ vô thường, nên khi bị ràng buộc vào vạn vật, người ta cũng bị sự vô thường làm cho đau khổ. Vạn vật v́ trống rỗng cho nên khi bị ràng buộc vào vạn vật, người ta cũng bị sự trống rỗng làm cho đau khổ. Nhận thức được sự có mặt của khổ đau là khởi điểm của sự tu đạo. Đó là chân lư thứ nhất của Tứ Diệu Đế. Mất ư thức về sự có mặt của khổ đau, không quán niệm về tính cách khổ đau của vạn hữu th́ dễ bị lôi kéo theo vật dục, làm tiêu ṃn cuộc đời ḿnh trong sự đuổi theo vật dục. Thấy được khổ đau mới có cơ hội t́m ra nguyên nhân của khổ đau để mà đối trị—The ancient people of India said that all things are composed of four elements: earth, water, fire, and air. Acknowledging this, Buddhas and Bodhisattvas understand that when there is a harmonious relationship among the four elements, there is peace. When the four elements are not in harmony, there is suffering. Because all things are created by a combination of these elements, nothing can exist independently or permanently. All things are impermanent. Consequently, when we are caught up  in the things of the world, we suffer from their impermanent nature. And since all things are empty, when we are caught up by things, we also suffer from their emptiness. Awareness of the existence  of suffering leads us to begin to practice the way of realization. This is the first of the Four Noble Truths. When we lose awareness of and do not meditate on the existence of suffering in all things, we can easily be pushed around by passions and desires for worldly things, increasingly destroying our lives in the pursuit of these desires. Only by being aware of suffering can we find its cause, confrint it directly, and eliminate it.

3)      Vô Ngă: Selflessness—Tính cách vô ngă của tự thân. Đạo Phật dạy rằng con người được năm yếu tố  kết hợp nên, gọi là ngũ uẩn: vật chất, cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và nhận thức. Nếu vật chất là do tứ đại cấu thành, trống rỗng, không có thực chất th́ con người, do ngũ uẩn kết hợp, cũng không có tự ngă vĩnh cữu, hay một chủ thể bất biến. Con người thay đổi từng giây từng phút, cũng trải qua sát na vô thường và nhất kỳ vô thường. Nhờ nh́n sâu vào ngũ uẩn cho nên thấy “Ngũ ấm vô ngă, sinh diệt biến đổi, hư ngụy không chủ” và đánh tan được ảo giác cho rằng thân nầy là một bản ngă vĩnh cữu. Vô Ngă Quán là một đề tài thiền quán quan trọng vào bậc nhất của đạo Phật. Nhờ Vô Ngă Quán mà hành giả tháo tung được biên giới giữa ngă và phi ngă, thấy được ḥa điệu đại đồng của vũ trụ, thấy ta trong người và người trong ta, thấy quá khứ và vị lai trong hiện tại, và siêu việt được sinh tử—The nature of our bodies. Buddhism teaches that human beings’ bodies are composed of five aggregates, called skandhas in Sanskrit. If the form created by the four elements is empty and without self, then human beings' bodies, created by the unification of the five skandhas, must also be empty and without self. Human beings’ bodies are involved in a transformation process from second to second, minute to minute, continually experiencing impermanence in each moment. By looking very deeply into the five skandhas, we can experience the selfless nature of our bodies, our passage through birth and death, and emptiness, thereby destroying the illusion that our bodies are permanent. In Buddhism, no-self is the most important subject for meditation. By meditating no-self, we can break through the barrier between self and other. When we no longer are separate from the universe, a completely harmonious existence with the universe is created. We see that all other human beings exist in us and that we exist in all other human beings. We see that the past and the future are contained in the present moment, and we can penetrate and be completely liberated from the cycle of birth and death. 

4)      Bất Tịnh: Impurity—Tính chất bất tịnh của thân tâm—Bất tịnh có nghĩa là không tinh sạch, không thánh thiện, không đẹp đẽ. Đứng về cả hai phương diện sinh lư và tâm lư, con người là bất tịnh. Đây không phải là một cái nh́n tiêu cực hay bi quan, mà chỉ là cái nh́n khách quan về con người. Thấy được sự cấu tạo của cơ thể, từ tóc trên đỉnh đầu, cho đến máu, mủ, đàm, phân, nước tiểu, những vi khuẩn ẩn náo trong ruột và những bệnh tật cứ chực sẳn để phát sinh, ta thấy phần sinh lư của ta quả là bất tịnh. Phần sinh lư đó cũng là động lực thúc đẩy ta đi t́m sự thỏa măn dục lạc, do đó nên kinh gọi thân thể là nơi tích tụ của tội lỗi. C̣n phần tâm lư? V́ không thấy được sự thật về vô thường, khổ không và vô ngă của sự vật cho nên tâm ta thường trở thành nạn nhân của tham vọng thù ghét; do tham vọng và thù ghét mà chúng ta tạo ra biết bao tội lỗi, cho nên kinh nói “tâm là nguồn suối phát sinh điều ác.”—Impurity is the nature of our bodies and minds. Impurity means the absence of an immaculate state of being, one that is neither holy nor beautiful. From the psychological and physiological standpoint, human beings are impure. This is not negative or pessimistic, but an objective perspective on human beings. If we examine the constituents of our bodies from the hair on our head to the blood, pus, phlegm, excrement, urine, the many bacteria dwelling in the intestines, and the many diseases present waiting for the opportunity to develop, we can see clearly that our bodies are quite impure and subject to decay. Our bodies also create the motivation to pursue the satisfaction of our desires and passions. That is why the sutra regards the body as the place where misleads gather. Let us now consider our psychological state. Since we are unable to see the truth of impermanence, suffering, and the selfless nature of all things, our minds often become the victims of greed and hatred, and we act wrongly. So the sutra says, “The mind is the source of all confusion.”  

**   For more information, please see Tứ Niệm

       Xứ.

Tứ Niệm Trụ: Smrty-upasthana (skt)—Four abodes of mindfulness—Four foundations of mindfulness  (in Theravada)—See Tứ Niệm Xứ in Vietnamese-English Section.

Tứ Niệm Xứ: Four kinds of mindfulness.

(I)     Bốn đối tượng thiền quán để trụ tâm hay bốn cách Thiền theo Phật giáo để diệt trừ ảo tưởng và đạt thành giác ngộ. Phật giáo Tiểu thừa gọi những phương pháp nầy là “nghiệp xứ” (kammatthana), là một trong những phương pháp tư duy phân biệt. Có lối bốn mươi pháp Thiền như vậy được liệt kê trong Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhi-Magga) bao gồm Tứ Vô Lượng Tâm, Mười Bất Tịnh, Bố Vô Sắc, Mười Biến Xứ, Mười Niệm, Một Tướng và Một Tưởng—Four meditations, or four foundations of Mindfulness, or four objects on which memory or thought should dwell. Four types of Buddhist meditation for eradicating illusions and attaining enlightenment. Hinayana calls these practices ‘basis of action’ (kammathana) which is one of the modes of analytical meditation. Some forty such meditations are given in the Visuddha-Magga: four ‘measureless meditations, ten impurities, four formless states, ten universals, ten remembrances, one sign, and one mental reflex: 

 

1)      Thân Niệm Xứ (Quán Thân Bất Tịnh): Quán và toàn chứng được thân nầy bất tịnh—Meditation and full realization on the impurity of the body. 

·        Bản chất của thân tâm chúng ta là bất tịnh, chứ không đẹp mà cũng chẳng Thánh thiện. Theo quan điểm tâm sinh lư th́ thân thể con người là bất tịnh. Điều nầy không có nghĩa tiêu cực hay bi quan. Khách quan mà nói về thân thể con người, nếu chúng ta xem xét cho kỹ th́ sẽ thấy rằng sự kết thành của thân nầy từ tóc, máu, mủ, phân, nước tiểu, ruột, gan, bao tử, vân vân, là hang ổ của vi khuẩn, là những nơi mà bệnh tật chờ phát triển. Thật vậy, thân chúng ta bất tịnh và bị hoại diệt từng phút từng giây.  Quán thân cấu uế bất tịnh, phủ nhận ư nghĩ về “tịnh.” Ở đây vị Tỳ Kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời—Kaya-smrtyupasthana (skt)—The nature of our bodies and minds are impure which is neither holy nor beautiful. From psychological and physiological standpoint, human beings are impure. This is not negative or pessimistic. Objectively speaking, if we examine the constituents of our bodies from the hair, blood, pus, excrement, urine, intestines, liver, and stomach, etc., they are dwelling places for many bacteria. Many diseases are awaiting for the opportunity to develop. In fact, our bodies are impure and subject to decay. The body as an abode of mindfulness—Contemplation of the  impurity of the body, or to contemplate the body as impure. Midfulness of the body as impure and utterly filthy (consider the body is impure). This negates the idea of “Purity.”—Here a monk abides contemplating body as body, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

·        Như trên ta thấy khi quán thân th́ thân nầy là bất tịnh. Nó bị coi như là một cái túi da đựng đầy những rác rưỡi dơ bẩn, và chẳng bao lâu th́ nó cũng bị tan ră. V́ vậy chúng ta không nên luyến chấp vào thân nầy: As we see above, through contemplation we see that our body is not clean. It is viewed  as a skinned bag containing dirty trash, that will soon be disintegrated. Therefore, we must not become attached to it. 

2)      Thọ Niệm Xứ (Quán thọ thị khổ): Quán và toàn chứng được những cảm thọ là xấu xa, dù là cảm thọ khổ đau, vui sướng hay trung tính—Meditation and full realization on the evils of sensations, no matter they are painful, joyous, or indifferent sensations.

·        Chúng ta kinh qua những cảm thọ tốt và xấu từ ngũ quan. Nhưng cảm thọ tốt chẳng bao lâu chúng sẽ tan biến. Chỉ c̣n lại những cảm thọ xấu làm cho chúng ta khổ đau phiền năo: We experience good and bad feelings from our five senses. But good feelings never last long; and sooner or later they will disappear. Only bad feelings remain from which we will suffer. 

·        Không có thứ ǵ trên cơi đời nầy hiện hữu riêng lẽ, độc lập hay trường cửu. Vạn hữu kể cả thân thể con người chỉ là sự kết hợp của tứ đại đất, nước, lửa, gió. Khi bốn thứ nầy liên hợp chặt chẻ th́ được yên vui, ví bằng có sự trục trặc là khổ. Quán thọ thị khổ để phủ nhận ư nghĩ về “lạc.” Ở đây vị Tỳ Kheo quán thọ trên các cảm thọ; thọ thị khổ, từ đó tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời—Vedana-smrtyupasthana (skt)—Nothing in the universe can exist independently or permanently. All things including bodies of human beings are composed of four elements: earth, water, fire, and air. When there is a harmonious relationship among these four elements, there is peace. When the four elements are not in harmony, there is suffering. Feelings as an abode of mindfulness, or to contemplate all feelings or sensations lead to suffering, or mindfulness of feeling as the cause of suffering. Sensation or consciousness as always resulting in suffering (receiving is self-binding. Consider feelings or the senses as a source of suffering). This negates the idea of “Joy.” Here a monk abides contemplating feelings as feelings, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

3)      Tâm Niệm Xứ (Quán Tâm Vô Thường): Quán và toàn chứng được tâm là vô thường—Meditation and full realization on the evanescence or impermanence of mind and thoughts (contemplating the impermanence of the thought)—Vô thường là bản chất chính yếu của vạn hữu. Vạn hữu kể cả thân tâm con người vô thường, từng giây từng phút biến đổi. Tất cả đều phải trải qua tiến tŕnh sinh trụ dị diệt. Quán tâm vô thường, phủ nhận ư nghĩ về “thường.” Ở đây vị Tỳ Kheo quán tâm trên tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời—Citta-smrtyupasthana (skt)—Impermanence is the key nature of all things. From moment to moment, all things in this universe, including human’s bodies and minds are in constant transformation. Everything passes through a period of birth, maturity, transformation and destruction. Mind as an abode of mindfulness, or mindfulness of the mind as impermanent, or to contemplate the mind as impermanent—Ordinary mind is impermanent, merely one sensation after  another (mind is everchanging—consider the mind to be a constant state of flux). This negates the idea of “Permanence.” Here a monk abides contemplating mind as mind, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

4)      Pháp Niệm Xứ (Quán pháp vô ngă): Quán và toàn chứng vạn pháp vô ngă—Meditation and full realization on the transiency selflessness of all elements (contemplating that all the dharmas are without their own nature)—Vạn pháp không có thực tướng, chúng chỉ là sự kết hợp của tứ đại, và mỗi đại không có tự tánh, không thể đứng riêng lẽ, nên vạn pháp vô ngă. Quán pháp vô ngă, chúng chỉ nương tựa vào nhau để thành lập, từ đó phủ nhận ư nghĩ về “Ngă.” Ở đây vị Tỳ Kheo quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời—Dharma-smrtyupasthana (skt)—Everything has no real nature, they are only a combination of the four elements, and each element is empty and without a self of itself, thus everything is without a self. Dharmas (real things and phenomena) as an abode of mindfulness, or mindfulness of dharmas as dependent, without self-entity, or to contemplate all things as being dependent, without self-nature or self-identity—All phenomena lack self-nature—There is no such thing as an ego—Things in general as being dependent and without a nature of their own (things are composed and egoless—consider everything in the world as being a consequence of causes and conditions and that nothing remains unchanged forever). This negates the idea of “Personality.” Here a monk abides contemplating monf-objects as mind-objects, ardent, clearly aware and mindful, having put aside hankering and fretting for the world.

**   For more information, please see Tứ Niệm

       Trú.

(II)  Kinh Tứ Niệm Xứ—Satipatthana Sutta:   Theo Kinh Trung A Hàm hay Kinh Trung Bộ—According to the Majjhima Nikaya:

·         Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ Thế Tôn ở xứ Câu Lâu, Kiềm Ma Sắt Đàm là đô thị của xứ Câu Lâu. Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ Kheo: “Này các Tỳ Kheo.” Các Tỳ Kheo vâng đáp Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn!” Thế Tôn thuyết như sau: Thus, I have heard. On one occasion, the Blessed One was living in the Kuru country at a town of the Kurus named Kammasadhamma. There He addressed the Bhikkhus thus: “Bhikkhus.” “Venerable sir,” they replied. The Blessed One said:

·         Nầy các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu năo, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ—Bhikkhus, this is the direct path for the purification of beings, for surmounting (overcoming)  sorrow and lamentation, for the disappearance of pain and grief, for the attainment of the true Way, for the realization of Nibbana, namely, the four foundations of mindfulness. 

·         Thế nào là bốn? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán niệm tâm thức trên tâm thức, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp (hay đối tượng của tâm thức nơi các đối tượng tâm thức), nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời—What are the four? Here, Bhikkhus, a Bhikkhu abides contemplating the body as a body, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness (envy) and grief for the world. He abides contemplating feelings as feelings, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness and grief for the world. He abides contemplating mind as mind, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness (envy) and grief for the world. He abides contemplating mind-objects as mind-objects, ardent, fully aware, and mindful, having put away covetousness (envy) and grief for the world. 

 

QUÁN THÂN—CONTEMPLATION OF THE BODY  

a)       Tỉnh Thức Về Hơi Thở—Mindfulness of Breathing:

·         Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể? Này các Tỳ Kheo, ở đây, Tỳ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú trong chánh niệm trước mặt. Vị ấy thở vô tỉnh giác là ḿnh đang thở vô; vị ấy thở ra tỉnh giác là ḿnh đang thở ra. Thở vô một hơi dài, vị ấy ư thức rằng: “Tôi đang thở vô một hơi dài.” Thở ra một hơi dài, vị ấy ư thức rằng: “Tôi đang thở ra một hơi dài.” Thở vô một hơi ngắn, vị ấy ư thức rằng: “Tôi đang thở vô một hơi ngắn.” Thở ra một hơi ngắn, vị ấy ư thức rằng: “Tôi đang thở ra một hơi ngắn.” Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập; “cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. Này các Tỳ Kheo, như người thợ quay hay học tṛ người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: “Tôi quay dài” hay khi quay ngắn, vị ấy ư thức rằng: “Tôi quay ngắn.” Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo thở vô dài, ư thức rằng: “Tôi đang thở vô dài.” Thở ra dài, ư thức rằng: “Tôi đang thở ra dài.”  Thở vô ngắn, ư thức rằng: “Tôi đang thở vô ngắn.” Thở ra ngắn, ư thức rằng: “Tôi đang thở ra ngắn.” Vị ấy tập: “Tôi có ư thức rơ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở vào.” Vị ấy tập: “Tôi có ư thức rơ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra.” Vị ấy tập: “Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên an tịnh.” Vị ấy tập: “Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên an tịnh.”—An now, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating the body as a body? Here a Bhikkhu, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, sit down; having folded his legs crosswise, set his body erect, and established mindfulness in front of him, ever mindful he breathes in, mindful he breathes out. Breathing in long, he understands: “I breathe in long;” or breathing out long, he understands: “I breathe out long.” Breathing in short, he understands: “I breathe in short;” or breathing out short, he understands: “I breathe out short.” He trains thus: “I shall breathe in experiencing the whole body of breath;” he trains thus: “I shall breathe out experiencing the whole body of breath.” He trains thus: “I shall breathe in tranquilizing the bodily formation;” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.” Just as a skilled turner or his apprentice, when making a long turn, understands: “I make a long turn;” or when making a short turn, understands: “I make a short turn;” so too, breathing in long, a Bhikkhu understands: “I breathe in long,” he trains thus: “I shall breathe out tranquilizing the bodily formation.”  

·         Như vậy, khi vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể;  hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. Hoặc người ấy quán niệm: “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body externally , or he abides contemplating the body as a body both internally and externally. Or else, he abides contemplating in the body its arising factors, ot he abides contemplating in the body its vanishing factors, or he abides contemplating in the body both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that ‘there is a body’ is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And, he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body. 

b)       Tứ Oai Nghi—The Four Postures:

·         Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi, ư thức rằng: “Tôi đang đi.” Khi đứng, ư thức rằng: “Tôi đang đứng.” Khi ngồi, ư thức rằng: “Tôi đang ngồi.” Khi nằm, ư thức rằng: “Tôi đang nằm.”Thân thể được xử dụng như thế nào, vị ấy ư thức thân thể như thế ấy—Again, Bhikkhus, when walking, a Bhikkhu understands: “I am walking;” when standing, he understands: “I am standing;” when sitting, he understands: “I am sitting;” when lying down, he understands: “I am lying down;” or he understands accordingly however his body is disposed.

·         Vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay vị ấy sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay vị ấy sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy  an trú trong chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời nầy. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a body internally, externally, and both internally and externally. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

c)       Hoàn Toàn Tỉnh Thức—Full Awareness:

·         Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo khi bước tới bước lui, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi mặc áo Tăng Già Lê, mang bát, mang y, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi đại tiểu tiện, biết rơ việc ḿnh đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rơ các việc ḿnh đang làm—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu is one who acts in full awareness when going forward and returning; who acts in full awareness when looking ahead and looking away; who acts in full awareness when flexing and extending his limbs; who acts in full awareness when wearing his robes and carrying his  outer robe and bowl; who acts in full awareness when eating , drinking, consuming food and tasting; who acts in full awareness when walking, standing, siting, falling asleep, waking up, talking and keeping silent. 

·         Như vậy, vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy         an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a body internally, externally, and both internally and externally. And, he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

d)       Thân Uế Trược—Foulness of the Body Parts:

·         Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy, từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi một lớp da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.” Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hạt như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đă xay rồi. Một người  có  mắt, đổ các hột ấy ra và quan sát: “Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đă xay rồi.” Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quan sát thân nầy dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau. Trong thân nầy: “Đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body up from the soles of the feet and down from the top of the hair, bounded by skin, as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs, body-hairs, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone-marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, large intestines, small intestines, contents of the stomach, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, spittle, snot, oil of the joints, and urine.” Just as though there were a bag with an opening at both ends full of many sorts of grain, such as hil rice, red rice, beans, peas, millet, and white rice, and a man with good eyes were to open it and review it thus: “This is hill rice, this is red rice, these are beans, these are peas, this is millet, this is white rice;” so too, a Bhikkhu reviews this same body… as full of many kinds of impurity thus: “In this body there are head-hairs and urine.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally, externally, and both internaly and externally... And, he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body—See# 5.

e)       Thân Tứ Đại—Elements of the Body:

·         Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quan sát thân nầy về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.” Nầy các Tỳ Kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đồ tể giết một con ḅ, ngồi cắt chia từng phần tại ngă tư đường. Cũng vậy, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán sát thấy thân nầy về vị trí các giới: “Trong thân nầy có địa đại, thủy đại và phong đại.”—Again, Bhikkhus, a Bhikkhu reviews this same body, however it is placed, however disposed, as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element, and the air element.” Just as though a skilled butcher or his apprentice had killed a cow and was seated at the crossroads with it cut up into pieces; so too, a Bhikkhu reviews this same body as consisting of elements thus: “In this body there are the earth element, the water element, the fire element and the air element.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a body internally, externally, and both internally and externally… And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body

f-n) Cửu Quán Về Nghĩa Địa—The Nine Charnel Ground Contemplations:

·         Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỳ Kheo quán niệm- thân thể ấy như sau: ‘Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, one, two, or three days dead, bloated, livid, and oozing matter, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể; hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way, he abides contemplating the body as a body internally, externally, and both internaly and externally. And, he abides independent, not clinging to anything in the world. That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

·         Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài ḍi bọ rúc rỉa. Tỳ Kheo quán chiếu sự thực ấy vào thân thể của chính ḿnh: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, being devoured by crows, hawks, vultures, dogs, jackals, or various kinds of worms, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

·         Nầy các Tỳ Kheo, lại nữa, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương c̣n liên kết với nhau, c̣n dính thịt  và máu, c̣n được nối liền bởi các đường gân…, với các bộ xương c̣n liên kết với nhau, không c̣n dính thịt, nhưng c̣n dính máu, c̣n được các đường gân cột lại với nhau…, với các bộ xương không c̣n dính thịt, không c̣n dính máu, không c̣n được các đường gân cột lại với nhau, chỉ c̣n có xương không dính lại với nhau, răi rác chỗ nầy chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, a skeleton with flesh and blood, held together with sinews… a fleshless skeleton smeared with blood, held together with sinews… a skeleton without flesh and blood, held together with sinews.. disconnected bones scattered in all directions, here a hand-bone, there a foot-bone, here a shin-bone, there a thigh-bone, here a hip-bone, there a back-bone, here a rib-bone, there a breast-bone, here an arm-bone, there a shoulder-bone, here a neck-bone, there a jaw-bone, here a tooth, there the skull, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—That too is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

·         Lại nữa, nầy các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ c̣n toàn xương trắng màu vỏ ốc…, chỉ c̣n một đống xương lâu hơn ba năm…, chỉ c̣n là xương thối trở thành bột. Tỳ Kheo ấy quán niệm thân ấy như sau: “Thân nầy tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh tánh chất ấy.”—Again, Bhikkhus, as though he were to see a corpse thrown aside in a charnel ground, bones bleached white, the color of shells; bones heaped up, more than a year old; bones rotted and crumbled to dust, a Bhikkhu compares this same body with it thus: “This body too is of the same nature, it will be like that, it is not exempt from that fate.”

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm thân thể trên nội thân; hay sống quán niệm thân thể trên ngoại thân; hay sống quán niệm thân thể trên cả nội thân lẫn ngoại thân. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên thân thể; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên thân thể. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên thân thể. “Có thân đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm thân thể trên thân thể—In this way he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body internally, or he abides contemplating the body as a body externally, or he abides contemplating the body as a body both internally and externally. Or else he abides contemplating in the body its arising factors, or he abides contemplating in the body its vanishing factors, or he abides contemplating  in the body both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that ‘there is a body’ is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That too  is how a Bhikkhu abides contemplating the body as a body.

 

QUÁN THỌ—CONTEMPLATION OF FEELING

·         Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo khi cảm giác lạc thọ, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc.” Mỗi khi có một cảm thọ đau khổ, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ đau khổ.” Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất.” Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc tinh thần.” Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất.” Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau tinh thần.” Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không đau khổ.” Khi có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau, vị ấy ư thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau.”—And how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating feelings as feelings? Here, when feeling a pleasant feeling, a Bhikkhu understands: “I feel a pleasant feeling;” when feeling a painful feeling, he understands: “I feel a painful feling;” when feeling a neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel a neither-painful-nor-pleasant feeling.” When feeling a worldly pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly pleasant feling;” when feeling an unworldly pleasant feling, he understands: “I feel an unworldly pleasant feeling;” when feeling a worldly painful feeling, he understands: “I feel a worldly painful feeling;” when feeling an unworldly painful feeling, he understands: “I feel an unworldly painful feeling;” when feeling a worldly neither-painful-nor pleasant feeling, he understands: “I feel a worldly neither-painful-nor-pleasant feeling;” when feeling an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling, he understands: “I feel an unworldly neither-painful-nor-pleasant feeling.”   

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm cảm thọ trên các nội thọ; hay sống quán niệm cảm thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán cảm thọ thể trên cả nội thọ lẫn ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên các thọ. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên các thọ. “Có thọ đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm cảm thọ trên các cảm thọ—In this way he abides contemplating feelings as feelings internally, or he abides contemplating feelings as feelings externally, or he abides contemplating feelings as feelings both internally and externally. Or else he abides contemplating in feelings their arising factors, or he abides contemplating in feelings their vanishing factors, or he abides contemplating in feelings both their arising and vanishing factors. Or else, mindfulness that ‘there is feeling’ is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And, he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating feelings as feelings.

 

QUÁN TÂM—CONTEMPLATION OF MIND 

·         Nầy các Tỳ Kheo, như thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức nơi tâm thức? Nầy các Tỳ Kheo, mội khi nơi tâm thức có tham dục, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh không có tham dục. Mỗi khi trong tâm thức ḿnh có sân hận, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang có sân hận. Mỗi khi tâm thức của ḿnh không có sân hận, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang không có sân hận. Mỗi khi tâm thức ḿnh có si mê, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang si mê. Mỗi khi tâm thức của ḿnh không có si mê, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang không có si mê.  Mỗi khi tâm thức ḿnh có  thu nhiếp, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang có thu nhiếp. Mỗi khi tâm thức ḿnh tán loạn, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang tán loạn. Mỗi khi tâm thức ḿnh trở thành khoáng đạt, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức ḿnh trở nên hạn hẹp, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức ḿnh đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức ḿnh không đạt đến trạng thái cao nhất, vị ấy ư thức rằng tâm thức ḿnh không đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức ḿnh có định, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang có định. Mỗi khi tâm thức ḿnh không có định, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang không có định. Mỗi khi tâm thức ḿnh giải thoát, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang giải thoát. Mỗi khi tâm thức ḿnh không có giải thoát, vị ấy ư thức rằng tâm thức của ḿnh đang không có giải thoát—An how, Bhikkhus, doeas a Bhikhu abide contemplating mind as mind? Here a Bhikhu understands mind affected by lust as mind affected by lust, and mind unaffected by lust as mind unaffected by lust. He understands mind affected by hate as mind affected by hate, and mind unaffected by hate as mind unaffected by hate. He understands mind affected by delusion as mind affected by delusion, and mind unaffected by delusion as mind unaffected by delusion. He understands contracted mind as contracted mind, and distracted mind as distracted mind. He understands exalted mind as exalted mind, and unexalted mind as unexalted mind. He understands surpassed mind as surpassed mind, and unsurpassed mind as unsurpassed mind. He understands concentrated mind as concentrated mind, and unconcentrated mind as unconcentrated mind. He understands liberated mind as liberated mind, and unliberated mind as unliberated mind.

·         Như vậy vị ấy sống quán niệm tâm thức trên nội tâm; hay sống quán niệm tâm thức trên cả nội tâm lẫn ngoại tâm. Hay vị ấy sống quán niệm tánh sanh khởi trên tâm thức; hay sống quán niệm tánh diệt tận trên tâm thức. Hay sống quán niệm tánh sanh diệt trên tâm thức. “Có tâm đây, vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật ǵ trên đời. Nầy các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán niệm tâm thức trên các tâm thức—In this way he abides contemplating mind as mind internally, or he abides contemplating mind as mind externally, or he abides contemplating mind as mind both internally and externally. Or else, he abides contemplating in mind its arising factors, or he abides contemplating in mind its vanishing factors, or he abides contemplating in mind both its arising and vanishing factors. Or else mindfulness that ‘there is mind’ is simply established in him to the extent necessary for bare knowledge and mindfulness. And he abides independent, not clinging to anything in the world. That is how a Bhikkhu abides contemplating mind as mind.

 

QUÁN PHÁP—CONTEMPLATION OF MIND-OBJECTS

(A)   Năm Triền Cái—The Five Hindrance: Nầy các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp? Nầy các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái (năm món ngăn che). Và nầy các Tỳ Kheo, thế nào là các Tỳ Kheo sống quán niệm pháp trên các pháp đối với năm triền cái?—An how, Bhikkhus, does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects? Here a Bhikkhu abides contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances. And how does a Bhikkhu abide contemplating mind-objects as mind-objects in terms of the five hindrances? 

1)       Nầy các Tỳ Kheo, ở đây nội tâm Tỳ Kheo có ái dục, vị ấy ư thức rằng nội tâm của ḿnh đang có ái dục. Khi nội tâm không có ái dục, vị ấy ư thức rằng nội tâm của ḿnh không có ái dục. Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy ư thức được sự đang sanh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đă sanh, vị ấy ư thức được sự đă sanh khởi ấy. Khi ái dục đang được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy ư thức như vậy—Here, there being sensual desire in him, a Bhikkhu understands: “There is sensual desire in me;” or there being no sensual desire in him, he understands: “There is no sensual desire in me;” and he also understands how there comes  to be the arising of unarisen sensual desire, and how there comes to be the abandoning of arisen sensual desire, and how there comes to be the future non-arising of abandoned sensual desire.   

2)       Khi nội tâm có sân hận, vị ấy ư thức rằng nội tâm ḿnh đang có sân hận. Khi nội tâm không có sân hận, vị ấy ư thức rằng nội tâm ḿnh đang không có sân hận. Khi một niệm sân hận chưa sanh nay bắt đầu sanh khởi, vị ấy ư thức được sự bắt đầu sanh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đă sanh khởi, nay được đoạn diệt, vị ấy ư thức được sự đoạn diệt ấy. Khi một niệm sân hận đă được đoạn diệt và tương lai không c̣n sanh khởi nữa, vị ấy ư thức được nh&