LỚP PHẬT PHÁP - BUDDHADHAMMA
Bài học - Ngày 27-1-2012
Vui đón 2600 năm thành đạo của Đức Thế Tôn
Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín
ĐIỀU PHỤC TÂM Ý
"Tâm phàm phu xoay vần theo ngũ dục, xao động không thể nắm bắt. Chỉ những người nào điều phục được tâm mìmh mới được yên vui". Câu thứ 35 ấy trong kinh Pháp cú có duyên khởi như sau:
Thuở Phật còn tại thế, trong xứ Kiều tất la có một khu làng nằm dưới chân núi gọi là Mã đề thôn. Tại đấy có một bà lão sống một mình với một gia tài phong phú. Bà được mệnh danh là Mã Lão Mẫu. Vào một ngày an cư, sau khi đức Phật chỉ dạy cho chúng tỳ kheo pháp quán 32 uế vật trong thân, có 60 vị đi đến Mã Ðề thôn để thực hành thiền quán. Bà lão cho xây cất một tu viện cho 60 vị ấy cư trú và cúng dường đầy đủ về y phục, thực phẩm dược phẩm, mền chiếu trong suốt mùa an cư. Những tỳ kheo ấy muốn tinh tiến tu hành nên cùng đặt ra một quy luật như sau: không được hai vị tỳ kheo cùng đứng hay ngồi tại một chỗ đồng thời với nhau. Ðại chúng chỉ nhóm họp hai lần trong ngày là sáng sớm trước khi vào rừng tọa thiền và chiều tối sau khi ở rừng về, để bái yết vị thượng tọa chúng trưởng. Tuy nhiên, nếu có tỳ kheo nào bị bệnh, thì hãy đánh lên một hồi kiểng. Khi nghe tiếng kiểng tất cả sẽ nhóm lại để cùng lo cho bệnh nhân. Sau khi thỏa thuận quy luật trên chúng tỳ kheo đi vào rừng mỗi ngày.
Một hôm bà lão đem thực phẩm tới chùa cúng dường, không thấy ai cả, bà bèn hỏi những người ở chung quanh, làm cách nào để gặp chúng tỳ kheo. Có người biết quy luật nói trên, bày cho bà lão đánh kiểng. Tức thì từ trong rừng các vị tỳ kheo lần lượt trở về. Bà lão lấy làm quái lạ thấy mỗi người đi từ một hướng, không ai đi chung với ai, nên nghĩ thầm: "Có lẽ các Ðại Ðức có chuyện cãi vã nhau chăng?" Khi họ đến gần bà hỏi ngay câu ấy, và được trả lời: "Không đâu lão mẫu ". Bà lão hỏi: - Nếu quý vị không xích mích thì tại sao khi tới đây quý vị đi chung, mà bây giờ mỗi người đi mỗi ngã như vậy? - Lão mẫu, chúng tôi mỗi người ngồi một gốc cây để thực hành phép thiền quán của Thế tôn chỉ dạy. - Thưa Ðại Ðức, phép quán gì thế? - Lão mẫu, chúng tôi quán 32 uế vật trong thân. - Thưa, phép quán ấy chỉ dành cho các vị tỳ kheo mà thôi, hay cư sĩ như lão cũng tập được?
- Ồ, lão mẫu, phép quán ấy ai muốn học cũng được cả, không ai cấm. - Vậy thì xin chư Ðại Ðức dạy cho lão với. - Ðược, lão mẫu hãy nghe cho kỹ. Rồi một vị tỳ kheo đằm trách dạy cho bà lão phép quán 32 uế vật trong thân, để đi đến nhận thức rõ ràng về hoại diệt, chết chóc luôn ẩn tàng trong thân mình. Bà lão thuộc lòng ngay phép quán và tinh cần tu tập đến nỗi bà đắc quả vị thứ ba (Bất lai) trong bốn Thánh quả, trước cả các vị tỳ kheo.
Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, bà quán thấy tất cả những vị tỳ kheo chưa ai đắc gì cả, và sau khi quán sát kỹ, bà thấy họ đều có khả năng chứng quả A La Hán. Khi nhận thấy điều này, bà lão quyết định hỗ trịï cho chúng tỳ kheo đầy đủ về mọi mặt, để họ có thể mau chứng quả. Vị nào thích hợp với món ăn nào, thức uống nào, bà cung cấp đúng như nhu cầu của họ. Bà thận trọng không cúng dường những thực phẩm có vị chua cho những người nào yếu bao tử. Vị nào ưa ngủ gục trong lúc tọa thiền, bà lão cúng cà phê. Vị nào yếu phổi, bà cúng thêm mền và áo lạnh. Trong tâm vị nào tưởng đến món ăn gì, bà lão biết ngay và đáp ứng.
Nhờ sự chăm sóc chu đáo ấy, sau khi giải hạ, 60 vị tỳ kheo trở về bên Phật với sắc diện hồng hào tươi nhuấn, và tiến bộ khá hơn trên đường tu. Phật âu yếm nhìn đàn con trở về và bảo: - Này các tỳ kheo, chắc hẳn các con được an vui, sức khỏe, thực phẩm đầy đủ trong mùa an cư? - Dạ thưa vâng, Bạch Thế Tôn. Chúng con được an vui, sức khỏe, và khỏi lo gì đến chuyện ăn uống. Bởi vì có một bà lão ở Mã Ðề thôn biết được ý nghĩ chúng con, đến nỗi chúng con vừa ước món gì, là có ngay món ấy. Các vị tỳ kheo thi nhau kể chuyện về bà lão dị kỳ cho Phật và chúng Tăng ở Xá vệ nghe.
Một vị tỳ kheo nghe xong, quyết đi đến Mã Ðề thôn để thiền định, và xin Phật: - Bạch Thế tôn, cho con tới đó. Phật bằng lòng, sau khi ra đề tài cho vị ấy thiền quán. Vị tỳ kheo lên đường đi dến Mã Ðề thôn. Khi đến ngôi chùa của bà lão bỏ vắng, vị ấy nghĩ: "Mình nghe bà lão dường như biết được tâm kẻ khác. Vậy nay mình vừa mới tới, quá mệt vì đường xa không thể quét dọn chùa. Mong sao bà lão cho người tới quét dùm". Bà lão đang ở nhà riêng, biết được ý ấy, bèn cho người tới quét chùa. Vị tỳ kheo lại ao ước trong lòng "ước chi mình có được một ly cô ca mát lạnh mà giải khát". Bà lão cho người đem ly cô ca lạnh cho vị tỳ kheo. Hôm sau, vừa thức dậy, vị t? kheo ước: "Mong sao bà lão dọn cho mình một bữa điểm tâm nhiều bị và thức ăn ngon lành". Bà lão cho người đem bữa điểm tâm đúng như vị ấy muốn. Vị tỳ kheo suy nghĩ: "Bà lão đã cho ta mọi thứ ta ao ước. Bấy giờ ta muốn gặp mặt bà. Mong sao bà hãy đích thân đến, mang cho ta thật nhiều thức ăn loại cứng loại mềm. Bà lão liền đi đến chùa cùng với thức ăn cúng dường đúng sở thích của vị tỳ kheo. Vị tỳ kheo nói: - Lão mẫu, có phải bà là Mã lão mẫu không? - Thưa vâng. - Bà có tha tâm thông à? - Tại sao Ðại Ðức hỏi vậy? - Vì bà đã cho tôi mọi thứ tôi nghĩ đến. - Nhiều vị tỳ kheo cũng có tha tâm thông. -Tôi không nói các tỳ kheo, tôi muốn hỏi bà. Bà lão tránh né trả lời bằng cách nói: - Thưa Ðại Ðức đâu cần phải có tha tâm thông mới có thể cúng dường các thứ ấy?
Khi ấy vị tỳ kheo bắt đầu hoằng sợ, nghĩ: " Khốn thay, kẻ chưa chứng đắc như ta thì có khi nghĩ tốt nhưng cũng lắm khi nghĩ bấy. Nếu lỡ có một ý nghĩ bậy bạkhởi lên, bà lão sẽ tóm cổ ta như tóm bắt một kẻ trộm, và liếng hành lý ta ra khỏi chùa. Ta sẽ bị khốn đốn với bà lão. Chi bằng ta hãy thoát khỏi chốn này. Nghị vậy xong, vị tỳ kheo nói với bà lão: - Này lão bà, tôi muốn rời khỏi nơi đây. - Ðại Ðức đi đâu? - Trở về Thế tôn. - Ðại Ðức ở lại ít lâu đã. - Không tôi không thể ở lại. Tôi phải đi ngay.
Thế là vị đại đức của chúng ta thu xếp hành lý thoát ra khỏi ngôi chùa bà lão, vừa đi vừa thở phào nhẹ nhõm cả người, như vừa thoát khỏi tử nạn. Khi trở về vườn Cấp cô độc, đến đãnh lễ Phật, Phật hỏi: - Sao, sao con không ở Mã Ðề thôn nữa à? - Bạch Thế tôn, bà lão biết hết mọi ý nghĩ trong tâm con. Và con nghĩ rằng, kẻ chưa chứng đạo như con thì có khi nghĩ tốt, nhưng cũng nhiều khi nghĩ bấy. Lỡ mà con có ý nghĩ xấu, bà lão ấy sẽ túm lấy đầu con, và sẽ làm con khốn đốn. - Con đi, chính nơi ấy con cần nên cư trú. - Bạch Thế tôn, con không thể nào ở chỗ ấy được nữa. - Này tỳ kheo, con có thể giữ một điều này thôi không? - Ðiều gì, Bạch Thế tôn, con chưa hiểu.
- Chỉ giữ cái tâm của con, không làm việc gì khác.
Sau khi nghe lời Phật dạy, vị tỳ kheo trở lại làng bà lão. Với thiên nhãn bà lão biết được vị tỳ kheo sắp đắc quả nên càng chu đáo cúng dường để hỗ trịï cho ông mau chóng đạt mục đích. Do đó, chỉ trong vài ngày vị ấy đắc quả A La Hán. Sau khi đắc quả, vị ấy suy nghĩ: "Bà ấy quả thực đã giúp đỡ ta rất nhiều. Nhờ bà lão ấy mà ta thoát ly được vòng sống chết. Không biết chỉ trong kiếp này bà ấy giúp ta, hay nhiều kiếp trước cũng vậy?" Vị La hán nhập định quán sát các tiền kiếp thì biết rằng trong 99 kiếp trước, bà lão đã làm vợ mình và đã ngoại tình với những người đàn ông khác, và làm cho mình phải thật điên bát đảo. Bà lão lại còn âm mưu giết mạng sống của mình. Khi biết được điều ấy, vị La hán nghĩ: "Ồ tín nữ này đã phạm biết bao tội ác!" Bà lão ngồi trong ngôi nhà riêng, biết được tâm niệm của vị A La Hán, và nghĩ: "Vị ấy đang nghĩ về tội lỗi 99 kiếp trước của ta. Nhưng trong vòng luân hồi đã qua, có lần nào ta giúp vị ấy không? Bà lão nhập định thấy ở kiếp thứ 100 về trước, bà đã cứu mạng sống của vị A La Hán khi vị ấy là chồng bà. Do đó, bà dùng thần giao cách cảm bảo vị La hán: - Hãy quán sát tiếp, đi sâu hơn nữa vào quá khứ. Bằng thiên nhị thông, vị La hán nghe được hiệu lệnh trên, và tiếp tục quán sát đến kiếp thứ 100 về trước của mình, thì thấy quả nhiên bà lão cứu mạng mình. Vị La hán nghĩ: "Tín nữ này quả đã giúp ta rất nhiều". Sau khi nghĩ như vậy, ngay tại chỗ vị ấy nhập Niết bàn vô dư y.

Thảo Luận: Chư Tăng điều hợp
1. Phải chăng tất cả tâm cần phải điều phục? Giải thích và phân biệt tâm nào cần phải điều phục và tâm nào không cần điều phục? - ĐĐ Pháp Tân
2. Những lúc mình ngồi thiền cũng cố gắng tập trung qua đề mục nhưng những triền cái trạo hối tức là trạng thái phóng dật làm tâm bị chao động. Làm cách nào để tâm trú trong một đề mục thích hợp? Làm cách nào để tâm lắng dịu không còn bị chao động nữa? - ĐĐ Tuệ Quyền
Đố Vui
a.
b.
c.
d.
Xem câu trả lời đúng ở bên dưới phần Pháp Thoại
Pháp Thoại
Không Phải Chỉ Có Hai Đường
TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp , ngày 29 tháng 12 năm 2011
Chánh Văn:
-- không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
TT Giác Đẳng giảng bài kinh này tuy rất ngắn nhưng lại mở đầu của Tương Ưng Bộ thuật lại lời đối thoại giữa Đức Phật và một vị Thiên. Chúng ta được biết thường là những vị Chư Thiên đến viếng Đức Thế Tôn vào đêm khuya có nhiều lý do nhưng thời gian đó là thời gian tương đối tĩnh mịch ít người và Đức Thế Tôn thường dành thời gian ban đêm để cho các vị Thiên diện kiến. Một điểm rất thú vị đó là sở dĩ chúng tôi có niềm tin với Tam Bảo nhiều và niềm tin với Chư Thiên là bởi vì đọc trong kinh Tạng khi nói đến Chư Thiên thì không nói đến những huyền hoặc mà là chúng ta được nghe những đối thoại, những đối thoại đó để lại cho chúng ta những lời kinh rất vi diệu, như kinh Hạnh Phúc hay bài kinh học hôm nay là một thí dụ. Bởi vì thông thường khi người ta đề cập đến Chư Thiên đề cập đến những thế giới vô hình người ta vẽ vời lên đó nhiều huyền thoại huyền hoặc nhưng trong kinh điển Pali thì chúng ta tìm thấy rằng trong những cuộc đối thoại đó Đức Thế Tôn đã có những lời dạy cho Chư Thiên và những lời dạy đó còn lưu truyền cho đến ngày hôm nay.
Bài kinh này trước nhất chúng ta cần lưu ý chữ "oghà" hay là "bộc lưu". Bộc lưu tức là giòng cuồng chảy hay là một thủy lưu mà nó có thể cuốn phăng đi những vật ở trên đó, thí dụ như có một lần nào đó chúng ta đến một con suối nước chảy xiết hay trong một giòng sông nước chảy xiết thì chúng ta cảm nhận được rằng chúng ta là người bị động bị cuốn đi. Chúng tôi lớn lên ở bên giòng sông Cửu Long nên biết thủy triều của miền Nam là một thủy triều rất đặc biệt là có hai chiều. Những giòng sông như sông Hằng, sông Nile, sông Amazon thì thông thường những giòng sông đó muôn thuở về suôi tức là giòng sông từ trên non cao chảy ra biển cả lúc nào cũng một chiều. Nhưng giòng sông ở miền Nam nước Việt do thế đặc biệt của biển Nam Hải nên có hai chiều tức là có nước ròng và nước lớn. Nước ròng là lúc nước chảy ra làm giòng sông cạn xuống và nước lớn là nước chảy ngược lại thì làm đầy giòng sông và có những giờ phút gọi là nước đứng. Chúng tôi nhớ hồi nhỏ không biết vì lý do gì đó mà thân phụ chúng tôi nói rằng ở trong tiếng Việt tất cả chữ "những" đều là dấu ngã hết nhưng mà duy "nước nhửng" thì lại dấu hỏi, lớn lên chúng tôi cũng không thấy nhiều người sài chữ "nước nhửng" nhưng nếu qúi Phật tử ở miền Nam thì biết rằng cường triều của Việt Nam có nước ròng và nước lớn. Thì mỗi lần anh em chúng tôi có TT Tuệ Siêu cùng đi tắm ở sông thì thường lựa vào lúc nước đứng vì nó không chảy xiết nên an toàn hơn, nếu tắm vào lúc nước ròng là lúc nước chảy xuống thì nước chảy rất nhanh và khi nó chảy nhanh như vậy rất là nguy hiểm do đó cái cảm giác mà giòng nước cuồn chảy thì đối với chúng tôi là ấn tượng mạnh ở trong đời.
Khi đọc đến những bài kinh có chữ bộc lưu (oghà) thì chúng tôi lại nhớ đến hình ảnh một người sanh ra đời ở trong một giòng cuộn chảy của thời cuộc, cuộn chảy của nghiệp lực, cuộn chảy sự vận hành của thế giới này. Nhiều lúc như buổi sáng nay thức dạy chúng ta cảm thấy rằng mình không làm gì hết nằm yên một chỗ nhưng thật ra cái gọi là yên đó chỉ là một khái niệm rất đơn giản, quá đơn giản đến đỗi chúng ta không hiểu rằng vạn vật luôn luôn vận hành, vạn vật luôn luôn vận chuyển, xã hội bên ngoài vận chuyển, giòng tâm thức chúng ta hay thân thể của chúng ta từ từ đi đến tuổi già và xã hội bên ngoài không bao giờ ngừng nghỉ, cuộc đời không bao giờ ngừng nghỉ ở bên này hay bên kia, có thể là có lúc bên này Thái Bình Dương bên kia Thái Bình Dương, bên sáng bên tối, bên này thấy nó yên lặng nhưng bên kia lại đang rất năng động. Rồi chúng ta nghĩ đến những sự vận hành của tinh tú, của các tinh cầu, mặt trăng xoay chung quanh trái đất, trái đất xoay chung quanh mặt trời, và cả Thái Dương Hệ này cũng không nằm yên một chỗ trong Thái Không mênh mông này, trong sự vận hành của vạn vật chúng ta chỉ là một chiếc lá nhỏ nhoi trong giòng chảy đó, nói chiếc lá thì còn khá người ta nói chúng ta còn nhỏ hơn một hạt cát ở trong sông Hằng. Nhưng riêng với Phật Pháp thì Đức Phật Ngài nhìn giòng cuồng chảy cuộc đời không phải là hiện tượng vật chất không, vật chất thì dĩ nhiên chúng ta biết rằng thân này cuộc đời này vũ trụ này là vận hành rồi nhưng Ngài cho chúng ta biết rằng có những sự vận hành khác có những sự lôi cuốn khác, sự lôi cuốn của dục, của hữu, của kiến, của vô minh, những thứ này không nằm yên một chỗ.
- Dục tức là sự đắm nhiễm đối với sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc.
- Hữu là những gì sở tạo và hướng đến tương lai, đặc biệt là trong kinh Chuyển Pháp Luân nói rằng "đi tầm cầu cái này cái kia", chúng ta thường nghĩ đến là mình sẽ là cái này, mình sẽ là cái kia, cho dù mình không biết đó là ai.
- Kiến ở đây là cái nhìn cái tư kiến, con người sống thì không phải là mình nói muốn suy nghĩ là suy nghĩ, mình luôn luôn sống bằng quan niệm thường đậm đặt gọi là kiến chấp, rất nhiều quan niệm, cái này đẹp cái kia xấu, cái này đúng hay sai, cái này hay cái kia dở, đạo này cao đạo kia thấp, và nói đến kiến thì chúng ta có vô số cái nhìn về kiến chấp.
- Vô Minh, một điều rất đặc biệt ở tại đây là nhiều khi chúng ta hiểu vô minh là một cái trạng thái rất thụ động, ví dụ vô minh là không, thấy không biết, mê mờ. Thật ra vô minh là một lực rất mạnh, dính vào vô minh thúc đẩy con người lên đường, nếu không có phải thấy như vậy thì Đức Phật không gọi là "vô minh duyên cho hành", bởi vì chính ở trong cái không biết không thấy trong sự tăm tối của chúng ta thì chúng ta chạy lung tung. Chúng ta muốn biết rõ lực của vô minh như thế nào thì chúng ta thử đi chung với một phái đoàn, ở trong phái đoàn đó có một người đi lạc đường và khi họ lạc đường khi họ bị xé lẻ ra họ bị lạc đàn thì chúng ta hiểu trạng thái của vô minh như thế nào, một con người đứng giữa đám đông hoàn toàn xa lạ không biết đi đâu về đâu không biết liên lạc với ai, nhất là không có điện thoại cầm tay nên không liên lạc được, thì họ chạy loạn lên, lúc đó thì chúng ta hiểu được cái lực của vô minh, họ không biết đi đâu về đâu họ không biết họ đang đứng ở chỗ nào, chúng tôi có một vài lần gặp trường hợp như vậy thì lúc đó họ lăng xăng chạy tới chạy lui, cái chuyện họ chạy tới chạy lui thật sự là ảnh hưởng của vô minh. Tất cả chúng ta trong cuộc đời này không biết được là chúng ta đi đâu về đâu.
Xem Tiếp.
Kinh Thừa Tự Pháp
TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp , ngày 13 tháng 10 năm 2011
TT Giác Đẳng giảng :Bài kinh Thừa Tự Pháp, một bài kinh qua đó chúng ta hiểu được tôn ý của Đức Phật và trở thành vấn đề cân não ở trong cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay. Thời nào cũng vậy khi Phật Pháp được phát triển thì chúng ta nhận thấy cả hai phương diện hình thức và tinh hoa của Phật Pháp.
Phần hình thức thì chúng ta có thể kể nổi bậc nhất là chùa, những cơ sở vật chất to lớn. Về điều này thì chúng ta phải nhìn nhận rằng nó cụ thể và thường có sự hấp dẫn đối với người ta nhiều hơn. Chưa bao giờ mà những cơ sở của Phật Giáo được đặc biệt chú trọng về hình thức như thời đại ngày nay bởi vì đây là một thời đại tương đối có nhiều khả năng và trên phương diện xây cất thì lại có nhiều kỹ thuật hơn. Nhưng ngược lại thì chúng ta cũng phải đặt nặng vấn đề rằng việc xây cất những ngôi chùa lớn chưa chắc biểu hiện những giá trị thật sự ở trong đạo Phật.
Đức Phật như là chúng ta hiểu, nếu chúng ta chỉ nghĩ biết về Đức Phật, nếu chúng ta không có nghĩ đến tôn ý của Đức Phật thật sự là Đức Phật Ngài muốn chúng ta học điều gì hành điều gì? Thì những việc chúng ta làm phần lớn chỉ nặng về mặt hình thức ở bên ngoài như là chùa to Phật lớn hoặc địa vị danh vọng, nhưng những điều đó chưa chắc đã nói được những gì thật sự là chúng ta có thừa hưởng được gia tài của Đức Phật hay không. Chúng tôi nghĩ rằng đây là một vấn đề mà tất cả chúng ta cần phải đặc biệt đặt lại trong hướng đi tới của chúng ta. Không may cho chúng ta đó là con người thường chỉ nhận thức về bề ngoài, một ví dụ là một vị tăng sĩ sống mà xây được một ngôi chùa lớn đẹp thì người ta nói vị tu sĩ đó có phước đức có tài, còn những vị tăng sĩ sống khiêm tốn đơn giản sống nghèo thì có nhiều khi người ta gặp họ không có kính trọng mà còn ra vẻ như là vị đó là kẻ bất tài vô tướng v.v... Trên thực tế thì không biết rõ ai là người thật sự chuyên chở tinh hoa của đạo Phật, có một điều chắc chắn là càng nặng về hình thức thì chúng ta càng đi xa về nội dung và những thành tựu bề ngoài thì khiến cho nhiều người hoan hỉ, nhưng chúng ta vẫn trở lại với vấn đề là chúng ta có chú trọng để làm sao thắp sáng lời dạy của Đức Phật hay không.
Như công việc chúng ta đang làm ở tại đây đôi lúc phải nhìn nhận rằng nó không có đơn giản nếu như chúng ta ngồi nghe những bài kinh mà chúng ta gọi là khô khan, thay vào đó nếu có vị nào ngâm một bài thơ hay, hoặc chúng ta có thể có hoa lá cành tô điểm cho có sinh khí nhiều. Thì thông thường những lời nói hoa mỹ những lời nói chau chuốt dễ đi vào lòng người còn những y văn của chánh kinh nhiều khi rất khô khan chứ không có hấp dẫn. Đi sâu vào việc đó chúng ta hiểu được một điều rằng "ngọc thì phải tìm ở trong đá" và những thành tựu lớn những tinh hoa có được về Phật Pháp cần được tìm kiếm và trích dẫn ở một hình thức chú ý về phẩm hơn là về lượng, chú ý về thực chất tinh hoa hơn là bề ngoài. Dĩ nhiên là chúng ta không thể nói là tất cả những giá trị nó đều nằm ở đằng sau cái sự thầm lặng, không phải như vậy, có những giá trị rất là nổi bậc. Nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận một điều rằng con người thường có khuynh hướng thả mồi bắt bóng, thường thường chúng ta chỉ đặt nặng về hình thức bên ngoài. Nếu một người nào đó họ thương mến chúng ta thật tình thì đôi khi chúng ta không cảm nhận được điều đó; như tình thương của mẹ của cha, nhưng có những cái có tánh đãi bôi bề ngoài thì chúng ta lại ưa chuộng hơn. Cái thất bại của phần lớn những tổ chức Phật Giáo ở trong thời gian hiện đại đó là chúng ta quá chú trọng đến bề ngoài, ở đâu mà có chức vụ nhiều, ở đâu mà có những chuyện nổi đình nổi đám nhiều, người ta nói là "lúa thóc đến đâu thì bồ câu đến đó" nó chỉ thu hút cái danh cái lợi nhiều hơn là những tinh thần sống rất thầm lặng sống rất là âm thầm.
Có một thời gian rất dài một số những vị Tỳ Kheo duy trì Phật Pháp bằng cách học thuộc lòng, những vị này làm công việc mà ngày nay ít khi chúng ta nhắc đến, không có những vị này thì Phật Pháp không có tồn tại đến ngày hôm nay, chúng ta gọi là thời kỳ của nền văn học truyền khẩu Phật Giáo. Nền văn học truyền khẩu đó là Chư Tỳ kheo học thuộc lòng từng lời từng chữ từng câu ở trong Tam Tạng và thường đi vào trong rừng sống, bên cạnh đó là những vị tỳ kheo tu thiền, những vị Trưởng Lão trì luật, và đa số những vị đó không đi hoạt động giao tế xã giao nhiều với đại chúng ở bên ngoài mà chỉ sống rất là thầm lặng nhưng trong sự thầm lặng đó thì các vị đã bảo toàn được những lời dạy của Đức Phật mà chúng ta nói đến Tam Tạng Kinh Điển. Dĩ nhiên là cuộc sống của các vị này rất thầm lặng, thầm lặng đến đỗi ở Tích Lan có thời kỳ người ta lo ngại là nếu những vị đó mất đi thì Phật Giáo sẽ mất bởi vì không còn ai nhớ nhiều biết nhiều về Phật Pháp nữa và cuối cùng thì người ta đem kinh điển viết trên những tờ lá bối chúng ta gọi là buông, những cái lá giống như lá cây tre chúng ta gọi là bối diệp để lưu giữ Tam Tạng.
Có một thời gian rất dài một số những vị Tỳ Kheo duy trì Phật Pháp bằng cách học thuộc lòng, những vị này làm công việc mà ngày nay ít khi chúng ta nhắc đến, không có những vị này thì Phật Pháp không có tồn tại đến ngày hôm nay, chúng ta gọi là thời kỳ của nền văn học truyền khẩu Phật Giáo. Nền văn học truyền khẩu đó là Chư Tỳ kheo học thuộc lòng từng lời từng chữ từng câu ở trong Tam Tạng và thường đi vào trong rừng sống, bên cạnh đó là những vị tỳ kheo tu thiền, những vị Trưởng Lão trì luật, và đa số những vị đó không đi hoạt động giao tế xã giao nhiều với đại chúng ở bên ngoài mà chỉ sống rất là thầm lặng nhưng trong sự thầm lặng đó thì các vị đã bảo toàn được những lời dạy của Đức Phật mà chúng ta nói đến Tam Tạng Kinh Điển. Dĩ nhiên là cuộc sống của các vị này rất thầm lặng, thầm lặng đến đỗi ở Tích Lan có thời kỳ người ta lo ngại là nếu những vị đó mất đi thì Phật Giáo sẽ mất bởi vì không còn ai nhớ nhiều biết nhiều về Phật Pháp nữa và cuối cùng thì người ta đem kinh điển viết trên những tờ lá bối chúng ta gọi là buông, những cái lá giống như lá cây tre chúng ta gọi là bối diệp để lưu giữ Tam Tạng.
Có lẽ phải nói một điều là khi nói đến Đạo Phật thì chúng ta phải nói đến Giáo Pháp. Và việc hấp thụ và duy trì Giáo Pháp không phải là chuyện đơn giản như chúng ta nói. Đa số những chuyện rộn ràng của chúng ta nếu nó được chăng thì nó chỉ được phần lớn về hình thức nhưng nó lại rất ít về nội dung. Chúng tôi lấy một ví dụ là trong những ngày lễ Phật Đản nhìn ở bên ngoài thì không thể không có buổi lễ nhưng là một vị trụ trì cũng là người mà năm nào cũng dự các buổi lễ Phật Đản thì chúng tôi cũng phải nhìn nhận một điều đó là đa số chúng ta chỉ đặt nặng về hình thức, một buổi lễ làm sao cho người ta đến đông, rồi đọc diễn văn, rồi đến đó thì lời kinh tiếng kệ, rồi cúng dường lăng xăng v.v... nhưng sau buổi lễ mình nhìn lại và hỏi rằng những người đi đến chùa ngày hôm đó, có mặt ngày hôm đó, có bao nhiêu người dành thì giờ để tưởng niệm nghĩ về Đức Phật, về lời dạy của Ngài. Thật sự thì chúng ta thấy rất ít và hầu như chúng ta phung phí rất nhiều thì giờ tâm trí công phu của chúng ta cho những cái chúng ta gọi là nặng phần trình diễn nhiều hơn là về nội dung.
Xem Tiếp.
Chúng Sanh Tồn Tại Là Do Dưỡng Tố
TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp , ngày 19 tháng 12 năm 2007
TT Giác Đẳng giảng :"Tất cả chúng sanh tồn tại là do dưỡng tố."
Khi chúng ta nói tất cả loài hữu tình được tồn tại do dưỡng tố. Dưỡng tố ở đây là những thức ăn dinh dưỡng thì chúng ta nghe hơi ngờ ngợ có cái gì thâm sâu, có cái gì đặc biệt khi chúng ta nói đến điều này, nhưng đó là một ý niệm hàm tàng, sự thâm áo của Đạo Phật.
Thế nào là chúng sanh tồn tại do dưỡng tố hay là Ahara? chúng ta dịch là vật thực cũng được, nhưng nói chung là như vậy.
Ngọn lửa cháy thì phải có nhiên liệu tức là nó phải có lý do nào đó để nó tiếp tục tồn tại, và bởi vì có lý do để tiếp tục tồn tại nó trở lên cực kỳ quan trọng đối với chúng ta. Chúng tôi lấy ví dụ như vầy là người ta thường nói đến sự hiện hữu và sự đào thải, nhưng cái gì đó mà nó có khả năng tiếp tục hiện hữu tức là phải có lý do để nó hiện hữu, và nó phải có một điều kiện để tiếp tục hiện hữu ở trong cuộc đời này. Một cái cây chẳng hạn, dầu là cỏ dại hay là một đóa hoa rừng hay là chúng ta gọi kỳ hoa dị thảo, bất cứ loại hoa gì mà qúi vị nhìn thấy thì nó đều có những dinh dưỡng nhất định; nào là ánh sáng mặt trời, nào là nước nào là phân và đất, thiếu những yếu tố cần thiết nó sẽ không tồn tại được. Thì mỗi con người chúng ta sống ở trên thế gian này dù rằng chúng ta hiện hữu ở bất cứ phương trời nào, mỗi một ngày chúng ta thức dậy, có lần nào chúng ta hỏi rằng mình đã hiện hữu bằng những lý do nào không, và lý do mà chúng ta tồn tại đó rất đặc biệt trong kinh Phật đạo Phật nói dưỡng tố hay là ahara, chúng ta nói đến thực phẩm, thực phẩm ở đây không nên hiểu là chỉ là đồ ăn đồ uống.
Thật ra Đức Phật Ngài dạy là có bốn loại dưỡng tố hay là bốn chất dinh dưỡng hay là bốn thứ thực vật, bốn thứ thức ăn. Bốn thứ thức ăn đó được nói đến là đoàn thực, tức là những thức ăn mang đến dinh dưỡng vật chất như là cơm, là bánh, là rau cải, cho chúng ta sinh tố để cơ thể tồn tại cái đó gọi là đoàn thực, như là cơm chúng ta ăn mỗi ngày hay là ổ bánh mì chúng ta ăn điểm tâm buổi sáng đó gọi là đoàn thực.
Rồi có một loại vật thực khác mà chúng ta gọi là xúc thực, xúc thực là sự tiếp xúc giữa căn, cảnh và thức, nói một cách khác là cảnh nuôi dưỡng cho tâm. Khi chúng ta nói xúc thực ở đây là chúng ta nói sự gặp gỡ giữa cảnh bên ngoài, ví dụ sự gặp gỡ giữa con mắt rồi cảnh sắc tức là đối tượng của mắt rồi nhãn thức, thì như vậy sự tiếp xúc đó tạo ra sự tồn tại của cái mà chúng ta gọi là cái biết của mắt, hay là thị giác. Thì nếu không có xúc thực đó thì giác quan chúng ta không hoạt động được. Nói cách khác sáu căn chỉ là một vật, rồi nó lại có sáu cảnh, rồi có sáu thức, rồi những thứ đó gặp gỡ nhau tạo nên sự tồn tại, rồi từ đó như chúng ta nói nhãn thức sở sanh thọ, rồi nhĩ thức sẽ sanh thọ, tức là sự gặp gỡ căn cảnh và thức nó sanh ra cảm thọ. Thì ở đây xúc thực cũng là một tác nhân, một chất dinh dưỡng cho cuộc sống này, chúng ta có thể cảm nhận được rất nhiều khi chúng ta nói nôm na bên ngoài là chính cảnh nuôi dưỡng cho tâm.
Xem Tiếp.
Phục vụ tha nhân
TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp , ngày 13 tháng 8 năm 2006
TT Giác Đẳng giảng :Trước khi đi vào đề tài ngày hôm nay chúng tôi xin thưa rằng:
Đối với chuyện đọc Phật ngôn chúng ta nên ghi nhớ, nhiều khi người ta trích một đoạn hoặc một câu để giảng giải, chúng ta sẽ không thấy rõ được tôn ý của Đức Phật. Điều này cũng dễ hiểu giống như hằng ngày chúng ta trích dẫn lại lời của người khác. Người ta nói trong một bối cảnh và với một cách nói đặc biệt nào đó . Nhưng khi chúng ta trích lại chỉ trích một phần, dường như hơi khó hiểu hoặc giả có thể hiểu sai lạc đi. Trường hợp ba câu Phật ngôn chúng ta có tại đây. Thưa quý vị nếu chúng tôi nhớ không lầm, đây là một cố gắng của Ngài Dhammananda Trong sự cố gắng đó Ngài đã đề ra tinh thần phục vụ tha nhân đúng theo nghĩa những gì Đức Phật dạy trong kinh điển.
Trong câu kệ đầu tiên của kinh Pháp cú, kệ ngôn số 166 cho chúng ta thấy một điều người ta thường nghĩ rằng phục vụ là một điều tốt, hễ phục vụ có nghĩa là đã quá đủ không cần phải nói thêm gì. Tuy nhiên chúng ta phải cẩn thận, bởi vì không biết mà phục vụ không đúng chỗ, không đúng thời, không đúng cách, chẳng những chúng ta không phục vụ được nhiều mà còn đánh mất đi lợi ích cho mình và người khác.
Lấy ví dụ một thanh niên trẻ đang đi học và học trong điều kiện rất tốt nhưng muốn bỏ học giữa chừng để đi làm và nghỉ rằng, “ Mình đi làm như vậy để cải thiện kinh tế gia đình”. Ý nghĩ đó không phải là ý nghĩ quấy mà đó là sự lựa chọn của nhiều người. Thậm chí có những người dấn thân vào nhữngcon đường sa đoạ với ý nghĩ để cứu lấy gia đình trong một hoàn cảnh nào đó. Một hoàn cảnh riêng, chúng ta không phê phán. Tuy nhiên khi đã quyết định điều gì chúng ta phải nghĩ có quá khứ, có hiện tại, có tương lai, chúng ta phải nghĩ đến những ảnh hưởng về lâu về dài. Giả sử một sinh viên đang đi học mà bỏ học, học hành dang dở nghĩ rằng sẽ đi làm để phụ thêm cho gia đình tiền bạc. Chúng ta không nói đó là điều sai lầm nhưng nếu nguời này kiên trì và gia đình chịu khó đầu tư nhiều hơn để cho vị này khả dĩ có thể có thì giờ chịu khó học thêm vài ba năm nữa. Thực ra sau vài ba năm đó, vị này tốt nghiệp ra trường chắc chắn sẽ phục vụ gia đình tốt hơn.
Ở bên Mỹ có trường hợp người ta để tiền tiết kiệm, có những người rút tiền tiết kiệm sớm thay vì để cho việc hưu trí. Lúc đó rút cũng được nhưng khi về hưu sẽ mất đi khá nhiều tiền bạc, cụ thể là số lương lãnh hằng tháng. Có những thứ nên để cho nó có thời gian và không nên vì một nhu cầu trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Đúng ra phần đông con người trên thế gian này rất ích kỷ. Chúng ta phải nhìn nhận như vậy. Hiếm người gọi là phục vụ quên mình nhưng cũng không có nghĩa là không có.
Xem Tiếp.
Bấm vào đây để xem mục lục các bài Pháp Thoại
Câu trả lời đúng của câu đố vui là:
|

|
TIN TỨC PHẬT GIÁO |
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện Thiền
Tri Kiến, Giác Ngộ, Minh Triết cho đời sống
Đức Phật và đống phân bò
Một thi sĩ nổi tiếng tên là Su Tung-po (1036 - 100) trong triều đại Song đã viết rất nhiều bài thơ về triết lý Phật giáo, ông tự cho rằng mình là người mộ đạo. Ông được chỉ định trong nhiệm vụ giám đốc của ngành văn học cho toà án của hoàng cung.
Một ngày kia ông đến thăm một ngôi chùa và hành thiền với vị tu sĩ Buddhastamp. Sau một ít lâu, thi sĩ Su hỏi vị Tăng:
"Nhìn vào tôi. Tôi đang ngồi đây để hành thiền. Tôi giống cái gì?
Thiền sư Buddhastamp nhìn chăm chú vào thi sĩ một lúc và nói,
"Thưa Ngài, ông rất trang nghiêm, khoẻ mạnh và hoà nhã. Ông giống như một tượng Phật."
Thi sĩ Su đã rất hài lòng với câu trả lời.
Một lúc sau, lần này thiền sư Buddhastamp hỏi thi sĩ Su.
"Thưa Ngài, tôi cũng đang ngồi đây để hành thiền. Tôi giống cái gì?
Vị thi sĩ suy nghĩ, vị Tăng này luôn luôn lấy phần hơn mỗi khi chúng ta cuộc tranh luận về bất cứ đề tài nào. Bây giờ, ta phải thừa cơ hội thắng lần này. Và rồi, ông ta nói,:
"Ông giống như một đống phân bò."
Lần này, vị Tăng sĩ chỉ mỉm cười và đã không tranh luận với ông ta gì hết.
Cứ nghĩ rằng ông ta đã thắng trong cuộc tranh luận kỳ này, thi sĩ Su đã đi nói với tất cả mọi người trong thị trấn về việc ông đã làm, cho tới khi người em gái của ông nghe được câu chuyện này.
"Người anh yêu dấu của tôi ơi. Anh đã hoàn toàn thua trong cuộc tranh luận đó" người em gái nói như vậy."
"Cái gì!? tôi chắc chắn rằng vị Tăng sĩ đã chết lặng đi. Anh đã thua trong cuộc tranh luận đó như thế nào?
"Anh ơi, vị Tăng sĩ với trái tim được đầy ấp với bản chất Đức Phật, bởi vậy ông đã nhìn thấy anh như là một vị Phật. Nhưng trái tim anh thì chứa đầy những đống phân bò, và bởi vậy anh đã nhìn ông ta như là đống phân bò."
Sưu Tầm
Nguồn Gốc Tết Nguyên Đán và Những Điều Kiêng Kỵ
Trong một năm Việt Nam có rất nhiều lễ Tết, ứng với tiết trời và mùa vụ khác nhau, nhưng trọng đại nhất vẫn là Tết Nguyên đán. Tết bắt đầu cho năm mới, hy vọng mọi sự may mắn tốt lành của mùa xuân nảy lộc đâm chồi, đồng thời cũng bỏ lại tất cả những rủi ro, đen đủi của năm cũ.
Tết Nguyên đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, năm mới hay đơn giản một chữ Tết) là lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Chữ "Tết" từ chứ Hán "Tiết" mà thành. Hai chữ "Nguyên đán" có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán"
Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn hay quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người trong gia đình xum họp. Họ đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em được người lớn lì xì bằng một phong bao đỏ đựng ít tiền với ý nghĩa chúc mừng trẻ em chóng lớn.
Theo luật tạo hóa thì mọi vật đều có bắt đầu thì phải có kết thúc, cho nên trong Tết Nguyên đán, đón lễ Giao thừa chính là thời khắc thiêng liêng nhất, từ giả cái cũ, đón nhận cái mới.
Vì vậy lễ Giao thừa còn gọi là Lễ Trừ tịch. Tết Nguyên đán của ta tiến hành vào phút cuối cùng của năm cũ, phút đầu tiên bước sang năm mới, tức là giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và Giờ Tý ngày mùng 1 tháng Giêng năm sau.
Phong Tục:
Trang trí Mâm ngũ quả
Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có chừng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.
Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, quýt, lê-ki-ma, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc.
Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.
Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, sung, xoài với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài.
Cây nêu
Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai... Ở Gia Định xưa, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: "bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là "lên nêu"... có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ".
Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Ngày 7 tháng Giêng triệt hạ, gọi là "hạ nêu" phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong tiết ấy không được đòi hỏi, đợi ngày hạ nêu rồi mới được đòi hỏi".
Tranh Tết
Kiêng không treo những tranh “xui xẻo” như đánh ghen, kiện tụng mà phải ;à những tranh lợn, gà, cậu bé, vinh hoa phú quý… hy vọng năm mới sẽ có nhiều điều tốt lành, trâu bò chật ních, thóc lúa đầy bồ. Ngày Tết nhà nào cũng có lọ hoa, tuỳ theo gia cảnh mà trang trí bày biện.
Câu đối Tết
Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho tới những người bình dân cổ xưa vẫn còn trọng tục treo "câu đối đỏ" nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho màu đen hay vàng trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ. Bản thân chữ "câu đối đỏ" cũng xuất hiện trong câu đối Tết sau:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Xem Tiếp.
Năm Rồng Nói Chuyện Rồng
Sưu Tầm trên Net
Trong Tam Tạng Kinh Điển có ghi nhận về loài rồng như sau:
1. Trích trong Kinh Tương Ưng Loài Rồng (Tương Ưng Bộ Kinh - Samyutta Nikaya
I. Chủng Loại (Tạp 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,240)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo có bốn loại Nàga (rồng, rắn) về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.
II. Diệu Thắng (S.iii,240)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Nàga về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh.
5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ thai sanh, loại từ ẩm ướt sanh, và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh.
6) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ ẩm ướt sanh và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh và từ thai sanh.
7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh, loại từ thai sanh và loại từ ẩm ướt sanh.
Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.
2. Trích trong Chú Giải Người và Cõi - Tỳ khưu Thiện Phúc
Đức Virūpakkha (Quãng Mục Thiên Vương), ở hướng Tây núi Sinera, là người cai quản loài Rồng (Nāga).
3. Trích trong Tám Sự Tích Phật Lực Tỳ khưu Hộ Pháp
Ðức Phật cho phép Đại Đức Mahàmoggallàna thu phục rồng chúa Nandopananda
Vào canh chót đêm ấy, như lệ thường, Ðức Phật nhập đại bi định, khi xả định quán xét thế gian xem chúng sinh nào hữu duyên nên tế độ. Ngài nhìn thấy Rồng chúa Nandopananda hiện ra trong mạng lưới đại bi tế độ của Ngài. Ðức Phật quán xét thấy Rồng chúa là Rồng tà kiến, không có đức tin nơi Tam bảo, rất hung dữ có nhiều thần thông. Nhưng cuối cùng, nó sẽ có đức tin rồi quy y Tam bảo. Vậy, ai là người có khả năng thu phục được Rồng chúa này? Ngài biết rằng Ðại đức Mahàmoggallàna có năng lực thu phục được Rồng chúa này.
Ðức Phật chấp nhận cho phép Ðại đức Mahà-monggallàna vận dùng thần thông biến hoá thành con Rồng có thân hình to lớn và dài hơn Rồng chúa Nandopananda, bao quanh thân hình Rồng chúa, chồng lên nhau 14 vòng, siết chặt lấy thân hình của nó, phồng mang lớn đè lên mang của nó, Ðại đức Mahàmonggallàna càng siết vào, thân mình Rồng chúa càng đau đớn chịu không nổi.
Rồng chúa tức giận hoá ra luồng khí độc phun ra để làm hại Ngài Ðại đức Mahàmonggallàna, nhưng không hại được Ngài, ngược lại Ngài Ðại đức cũng hoá ra luồng khói mạnh hơn làm cho Rồng chúa vô cùng khó chịu.
Rồng chúa càng tức giận hoá ra luồng lửa phun ra để thiêu đốt Ngài, Ngài Ðại đức cũng hoá ra luồng lửa mạnh hơn làm cho thân hình Rồng chúa nóng như thiêu như đốt.
Thế là một phần thân thể bị siết chặt, đau đớn, một phần thì bị khói và lửa thiêu đốt không sao chịu nổi được nữa.
Rồng chúa muốn biết vị Sa môn này là ai, bèn hỏi rằng:
- Ngươi là ai? Sao dám làm khổ ta đến như vậy?
Ðại đức Mahàmoggalàna trả lời:
- Này Nandopananda, bần đạo là Mahàmoggalàna đây!
Rồng chúa yêu cầu Ngài Ðại đức rằng: Bạch Ðại đức, xin Ngài hiện trở lại hình tướng vị Tỳ khưu.
Ðại đức Mahàmoggallàna biết mưu mô xảo quyệt của Rồng chúa muốn hại Ngài, cho nên Ngài vừa hiện ra, liền đi thẳng vào lỗ tai bên phải, đi sang lỗ tai bên trái, rồi từ lỗ tai bên trái đi sang lỗ tai bên phải của Rồng chúa. Rồng chúa đau đớn khó chịu, nhanh như chớp, Ngài lại đi vào từ lỗ mũi bên phải đi sang lỗ mũi bên trái, rồi từ lỗ mũi bên trái đi sang lỗ mũi bên phải của Rồng chúa.
Rồng chúa càng đau đớn, càng khó chịu gấp bội phần, dường như không còn chịu đựng được nữa, nó van xin Ngài Ðại đức tha lỗi cho nó; nhưng thật tâm của nó chưa chịu khuất phục, đây chỉ là một mưu kế chờ có cơ hội là hại Ngài, ngay tức khắc. Ngài Ðại đức biết rõ ác tâm của nó, cho nên Ngài vừa thoát ra khỏi lỗ mũi, khi Rồng chúa vừa mở miệng, Ngài lại nhanh như chớp đi thẳng vào miệng của Rồng chúa mà nó không hề hay biết, Ngài đi thẳng vào bụng của nó, mở đường đi kinh hành từ hướng Ðông sang hướng Tây, rồi đi ngược lại, và từ hướng Nam sang hướng Bắc, rồi đi ngược lại làm cho Rồng chúa đau đớn và khó chịu vô cùng.
Ðức Thế Tôn nhìn thấy như vậy, nhắc nhở Ðại đức Mahàmoggallàna.
- Này Moggallànà, con nên thận trọng, Rồng chúa có nhiều phép mầu lợi hại và ác tâm, vậy con hãy cẩn thận kẻo nguy hiểm.
Ðại đức Mahàmoggallàna bạch với Ðức Thế Tôn:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn, con đã luyện Iddhipàla (tứ thần túc) đến chỗ thuần thục, vận dụng như ý. Còn ý nghĩ độc ác của Rồng chúa thì con biết rõ.
Kính bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài đừng bận tâm lo cho con. Dầu có hàng trăm, hàng ngàn Rồng chúa như Nandopananda thì con cũng có khả năng thu phục được dễ dàng, huống hồ gì chỉ có một con. Bạch Ngài.
Rồng chúa Nandopananda nghĩ rằng: "Lúc đầu vị Sa môn này đi vào miệng mà ta chẳng hề hay biết, bây giờ ta chờ y ra, ta sẽ cắn răng, nhai nuốt y vào bụng mới hả cơn tức giận này".
Rồng chúa bạch Ngài Ðại đức:
- Kính bạch Ðại đức, tôi xin chịu khuất phục Ngài rồi, kính thỉnh Ngài từ bi ra ngoài, Ngài đi qua, đi lại trong bụng của tôi, làm cho tôi đau đớn khó chịu quá!
Ngay lúc ấy, Ðại đức Màhàmoggallàna đi ra khỏi miệng, mà Rồng chúa Nandopannanda không hề hay biết gì cả. Ngài hiện ra đứng trước mặt, vừa nhìn thấy Ngài Ðại đức Rồng chúa bằng giọng căm tức nói:
- Chính Sa môn này đây à!
Nhanh như chớp, từ hai lỗ mũi, Rồng chúa phun ra hai luồng khí độc như vũ bão cực kỳ nguy hiểm để giết hại Ngài Ðại đức; ngay tức khắc, Ngài Ðại đức liền nhập đệ tứ thiền hữu sắc, nên luồng khí độc của Rồng chúa không thể làm cho đầu sợi lông chân của Ngài lay động.
Thấy vậy, Rồng chúa Nandopananda vô cùng kinh ngạc, nghĩ rằng vị Sa môn này có thần thông thật là phi thường.
Lúc ấy, Ðại đức Mahàmoggallàna hoá ra điểu vương Garuda, to lớn phát ra một luồng khói mạnh, phóng thẳng đến Rồng chúa, làm cho thân hình của nó quằn quại lảo đảo một cách khốn khổ. Rồng chúa tự biết mình không thể chịu đựng nổi oai lực của Ngài Ðại đức nên đành chịu khuất phục trước uy lực và đức độ của Ngài.
Rồng chúa hoá ra một cậu bé chấp tay đảnh lễ Ðại đức rồi bạch rằng:
- Kính bạch Ngài Ðại đức, con đem hết lòng thành kính xin nương nhờ nơi Ngài, rồi y cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Ngài Ðại đức một cách thành kính bằng tâm phục thiện.
Như vậy, Ðại đức Mahàmoggallàna đã thu phục được Rồng chúa Nandopananda cải ác tùng thiện, cải tà quy chánh, Ngài Ðại đức bảo Rồng chúa rằng:
- Này Nandopananda, có Ðức Thế Tôn đang ngự ở kia, con hãy đi theo thầy đến hầu đảnh lễ Ngài.
Rồng chúa Nandopananda ngoan ngoãn vâng lời thầy đi theo sau đến hầu đảnh lễ Ðức Thế Tôn rồi bạch rằng:
- Kính bạch Ðức Thế Tôn:
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ nhì.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Phật, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Pháp, lần thứ ba.
Con đem hết lòng thành kính xin qui y Tăng, lần thứ ba, kể từ nay cho đến trọn đời.
Ðức Thế Tôn truyền dạy rằng: "Này Rồng chúa Nandopananda, cầu chúc cho con được sự an lạc lâu dài".
Rồng chúa Nandopananda có duyên lành đã quy y Tam bảo trở thành Rồng chúa có chánh kiến, có đức tin trong sạch nơi Tam bảo.
4. Trích trong Đại Đường Tây Vực Ký của Pháp sư Huyền Trang Thích Như Điển dịch
Một Bảo Tháp do Vua A Dục dựng nên nơi Thái Tử Đản Sanh. Nơi đây có hai con rồng phun nước tắm Thái Tử. Sau khi Bồ Tát sanh liền tự đi không cần nâng đỡ ngài đi bốn hướng, mỗi hướng bảy bước, và tự nói rằng: "THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN. ĐÂY LÀ LẦN SANH CUỐI CÙNG CỦA TA" Tự nhiên dưới chân mọc lên những đóa hoa lớn, rồi hai con rồng bỗng nhiên xuất hiện từ hư không cùng phun nước xuống, một vòi nước lạnh, một vòi nước ấm để tắm cho Thái Tử.
Con rồng Việt Nam (Trích từ Wikipedia)
Theo trí tưởng tượng của người Việt, con rồng là vật trang trí kiến trúc, điêu khắc và hội họa mang bản sắc riêng. Nó khác với rồng trong trang trí kiến trúc và hội họa của người Trung Hoa và ở quốc gia khác. Các di tích về con rồng Việt Nam còn lại khá ít do các biến động thời gian và sự Hán hóa của triều đại phong kiến cuối cùng ở nhà Nguyễn.
Người Việt sống tại vùng sông nước nên từ thời xa xưa họ đã tôn sùng cá sấu như một con vật linh thiêng, vì chúng đại diện cho sự trù phú và sức mạnh, thời kỳ này vùng đất người Việt sống còn rất nhiều cá sấu. Họ đã thần thánh hóa loài cá sấu lên thành con "Giao Long" mà người Trung Hoa gọi sau này, một cách thức tô điểm cho hình hài con cá sấu nhiều chi tiết tưởng tượng và cũng nhiều ý nghĩa hơn. Con rồng này tồn tại cùng tâm thức của người Việt trong suốt thời Văn Lang - Âu Lạc. Rất có thể từ con Giao Long này mà người Trung Hoa đã tạo ra con rồng Trung Hoa của họ.
Trong cả thiên niên kỉ bị đô hộ bởi Trung Hoa, trong hoàn cảnh chung của chính sách Hán hóa, hình ảnh con rồng Việt Nam phát triển theo các xu hướng giống với con rồng của người Hán. Đến khi giành được độc lập, thời kỳ nhà Lý lên nắm quyền, đặt tên nước là Đại Việt (để sánh ngang với Đại Tống của Trung Hoa), Việt Nam đã có con rồng cho riêng mình và khác với con rồng Trung Quốc. Văn hóa [Đại Việt] nói chung, trong đó có mỹ thuật đã khẳng định được đẳng cấp và sự độc lập trong nghệ thuật biểu hiện của mình. Xuất hiện từ việc trang trí kinh thành lộng lẫy, chùa chiền đồ sộ..., con rồng Việt Nam được tạo nặn từ chất liệu văn hóa dân tộc, kết hợp với yếu tố văn hóa Chăm Đông Nam Á và văn hóa Trung Hoa.[cần dẫn nguồn]
Rồng là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây. Trong cả phương Đông lẫn phương Tây, hình ảnh loài rồng đều được biểu thị cho loài linh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. Rồng ở các nước châu Á có nhiều khác biệt với rồng ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Tại một số nước châu Á, rồng có mình rắn, vảy cá, bờm sư tử, sừng hươu và biết bay. Đa số các nước châu Á coi rồng là con vật linh thiêng trong khi các nước châu Âu lại coi rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ.
Tại Trung Quốc và các nước lân cận khác, rồng là một trong bốn linh vật: "Long, lân, quy, phụng" gọi là tứ linh. Bốn linh vật này chỉ có rùa là có tồn tại.
Trên thực tế, một số loài sinh vật cũng được gọi cho cái tên "rồng" dù chúng chỉ là loài bò sát như loài Rồng Komodo.
Chuyện Cười
CHÚA TỂ RỪNG XANH
Một con sư tử thức giấc vào một buổi sáng cảm thấy mất trật tự và kém cỏi. Nó đi ra ngoài và dồn một con khỉ nhỏ vào góc và gầm lên:
- ”Ai là người hùng mạnh nhất của muông thú rừng xanh?”
Con khỉ run rẩy nói:
- ”Ngài, thưa ngài sư tử vĩ đại !”
Sau đó, sư tử đụng đầu một con bò và rống lên mãnh liệt:
- ”Ai là người hùng mạnh nhất của muông thú rừng xanh?” Con bò hoảng sợ lắp bắp:
”Ồ thưa ngài sư tử vĩ đại, ngài là thú rừng vĩ đại nhất trong rừng !”
Tiếp theo, sư tử vênh váo đi tới một con voi và gầm lên:
- ”Ai là người hùng mạnh nhất của muông thú rừng xanh?”
Nhanh như chớp, con voi dùng vòi chộp con sư tữ, đập nó vào một thân cây nhiều lần.Sau đó con voi dậm lên con sư tử cho tới khi nó trông như một cái bánh bắp rồi bước đi.
Con sư tử bật ra một tiếng kêu đau đớn, nâng đầu lên một cách yếu ớt và kêu phía sau con voi:
- ”Chỉ bởi vì ông không biết câu trả lời, ông đừng có quá khó chịu về điều đó !”
TRUYỆN XƯA TÍCH CŨ
CHUYỆN PHẬT THÍCH CA VÀ SỰ TÍCH CÂY NÊU
Tác giả: Tác giả: Sơn Nam – Tô Nguyệt Đình
bài sưu tầm trên NET
Thuở xưa, lúc tổ tiên chúng ta còn sống ở hang hóc, khe đá, cuối bãi đầu ghềnh rất là cực khổ, lại thêm bọn ác quỷ, ma vương hiện ra khuấy phá sát hại.
Ngày kia, đức Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen ở chín từng mây nhìn xuống, thấy sự thể như vậy thì động lòng từ bi bác ái, mới hạ san tại đất Việt Nam. Các loài thú dữ và bọn ma quỷ, ma vương liền áp lại bao vây chận đường đức Phật không cho đi tới nữa. Phật bèn bảo chúng rằng: -Ta ưa chỗ đất này, ta muốn có một khoảnh, các ngươi nghĩ sao?
Tất cả đều lắc đầu từ chối và hung hăng muốn đuổi đức Phật đi. Phật liền xòe bàn tay, tức thì vàng bạc, châu báu hiện ra vô số xung quanh ngài.
Bấy giờ Phật lại bảo bọn ác quỷ, ma vương: -Tất cả những châu báu vô giá này sẽ thuộc về các ngươi, nếu các ngươi bằng lòng để cho ta một khoảnh đất nơi đây.
Bọn ác quỷ, ma vương đã chóa mắt vì châu báu, chúng bàn với nhau rồi thuận tình để cho đức Phật một khoảnh đất. Chúng liền hỏi đức Phật: -Khoảnh đất đó rộng chừng bao nhiêu. Có gì làm dấu hiệu?
Đức Phật bảo rằng: -Hễ nghe có tiếng kêu leng keng là dấu hiệu của ta. Khoảnh đất của ta thì rộng vừa đủ chiếc áo của ta trải ra.
Bọn ác quỷ, ma vương cả cười. Tưởng rằng rộng lớn chớ dè đâu bé nhỏ như chiếc áo trải ra.
Đức Phật lại bảo chúng: -Ta muốn rằng khoảnh đất đã thuộc về ta, thì các ngươi không một ai được đặt chân tới nữa, các ngươi chịu chớ?
Bọn ác quỷ, ma vương đều bằng lòng nên đáp: -Ngài cứ việc trải rộng chiếc áo ra nơi khoảnh đất nào ngài chọn. Đức Phật bảo: -Được rồi, các ngươi hãy lui ra, lui ra xa hết sức đi.
Bọn quỷ ma đều ngơ ngác không hiểu. Đức Phật liền quát bảo: -Sao các ngươi còn đứng đó, hãy lui ra xa.
Dứt lời đức Phật liền cởi áo vứt về phía lũ quỷ ma. Chiếc áo mở rộng ra bao trùm khắp bốn phương tám hướng. Lũ quỷ ma thất kinh bỏ chạy, áo Phật rộng lớn mênh mông đến tận chân trời.
Xong rồi, đức Phật mới gọi người Việt Nam đang sợ hãi núp trong các hang đá ra mà bảo rằng: -Ta cho các ngươi đất này và ta che chở cho. Đến ngày cuối năm, khi các ngươi làm lễ cúng rước ông bà tổ tiên về ăn Tết với con cháu, thế nào bọn ác quỷ, ma vương cũng tìm cách trà trộn khuấy phá. Vậy các ngươi hãy trồng một cây tre thật cao, rồi treo ở ngọn một cái khánh mang dấu hiệu của ta, như vậy lũ quỷ ma không dám bước tới nữa vì là chỗ này thuộc giới hạn đất của chúng bán cho ta.
Từ đó, dân Việt Nam nhớ lời Phật dạy, mỗi dịp cuối năm, trong lúc sửa soạn rước ông bà tổ tiên đều có trồng cây nêu ở trước cửa nhà để trừ ma quỷ.
Lâu ngày, việc dựng nêu thành một tục lệ như câu ca dao sau sau đây:
Cu kêu ba tiếng cu kêu, Trông cho mau Tết dựng nêu ăn chè.
Những câu chuyện ngụ ngôn hay
Ông già và thần chết
Một lần ông già đẵn xong củi và mang về. Phải mang đi xa, ông cụ kiệt sức, đạt bó củi xuống rồi nói:
- Chà giá thần chết cứ đến ngay đi có phải hơn không?
Thần chết đến và bảo:
- Ta đây, lão cần gì nào?
Ông già sợ hải bảo:
- Nhắ hộ bó củi lên cho lão.
Cổ Học Tinh Hoa
65. BÁO THÙ
Nước Ngô, nước Việt đánh nhau.
Vua Ngô là Hạp Lư thua trận, phải quân Việt đâm chết. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua, thề thế nào cũng phục thù được cho cha mới nghe. Phù Sai bèn cho người đứng ở sân, mỗi khi mình ra vào, người ấy phải nói to lên rằng: “Phù Sai kia! Nước Việt nó giết chết cha mày mà mày quên ư?”
Phù Sai thưa rằng: “Dạ không dám quên.”
Ba năm sau, quả nhiên Phù Sai đánh được nước Việt, báo thù cho cha.
Lúc nước Việt thua, vua Việt là Câu Tiễn sang cầu Hòa. Tuy rằng được hòa; nhưng đêm ngày âu sầu, lo nghĩ nát gan, tan ruột. Chất củi làm giường nằm, treo cái mật trước chỗ ngồi. Khi nằm thì trông cái mật, khi ăn thì nếm cái mật. Chính thân thì cày cuốc, vợ thì dệt vải, làm ăn lao khổ như thường dân. Ai là bậc hiền tài thì trọng dụng, ai là kẻ khốn khó thì cứu giúp. Hơn hai mươi năm trời, lúc nào cũng như vậy. Sau Câu tiễn xem chừng lòng dân đã khiến được, bấy giờ mới đem quân sang đánh Ngô, quả nhiên Ngô lại thua mà Việt được.
Chu Thư
LỜI BÀN
Một bên vì cha mà báo thù, một bên vì nước mà báo thù, hai cái thù không đội trời chung, mà dụng tâm theo đuổi đến báo kì được mới nghe thực là chính đáng, khiến ai nghe thấy cũng phải kính phục. Nếu Phù Sai, Câu Tiến gặp cái cảnh đau đớn như thế, mà cứ mặt dày mày dạn điềm nhiên như không, thì chẳng là đất đá, không biết nhục là cái gì ư! Có biết nhục thì sau mới rửa được nhục. Khi đã rửa được nhục lại cần phải tu tỉnh luôn luôn và quí nhất là cảm hóa, nâng đỡ kẻ thù đã chịu lui bước hay đầu hàng để cho họ đỡ đau khổ, có địa vị, thì mới được yên lâu. Nếu rửa nhục xong mà kiêu căng đại nọa, quên cả phòng bị thì lại chuốc lấy nhục mà oan oan tương báo, chỉ những tàn hại nhau hoài mà thôi.
Chùa Pháp Luân
13913 S. Post Oak Rd
Houston TX 77045
Phone: (713) 433-4364
Fax: (832) 550-2889


Tháp chuông chùa Pháp Luân


Trụ Trì: TT. Giác Đẳng (xem tiểu sử)
Nhâm Thìn
2012
NĂM LẠC THÀNH CHÙA PHÁP LUÂN
Năm 2011 Chùa Pháp Luân hoàn tất công trình trùng tu. Năm 2012 tổ chức Lạc Thành. Không phải tổ chức trong một thời điểm mà trọn năm 2012 với 12 pháp hội.
Pháp Hội Tháng Giêng: TƯ LƯƠNG KHỞI HÀNH
Chủ Nhật 22 -1 đến Thứ Tư 25-1
Nguyên Đán là khởi đầu của tân niên. Nội dụng của pháp hội là giới thiệu những lời Phật dạy thiết yếu cho hành trình của đời sống. Những bài pháp đầu năm gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).
Pháp Hội Tháng Hai: HUYỀN NGHĨA HOA SEN
Chủ Nhật 26-2-2012 12 giờ trưa
Nội dung nói về những ý nghĩa hoa sen tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật giáo được thể hiện qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân phối hợp tổ chức.
Pháp Hội Tháng Ba: NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN
Hai tuần lễ từ 2-3 đến 16-3
Hành hương thăm viếng hai quốc gia Phật giáo Miến Điện và Tích Lan. Một quốc gia thịnh hành thiền tứ niệm xứ và A tỳ đàm; một quốc gia đóng vai trò quan yếu trong lịch sử truyền thừa Phật Pháp. Bốn cố đô Phật giáo ghi đậm nét thời hoàng kim của lịch sử Yangon, Pagan, Kandy, Anuradhapura là trọng điểm của chuyến hành hương.
Pháp Hội Tháng Tư: THIỀN QUÁN
23-4 đến 29 -4
Khóa tu thiền quán 7 ngày. Bằng kinh nghiệm của nhiều năm hướng dẫn thiền tứ niệm xứ, Ngài Thiền Sư sẽ giới thiệu về phương pháp huân tu chánh niệm cho những hành giả muốn dành trọn tuần lễ sống tại chùa tu tập. Những thiền sinh sẽ khám pháp tại sao thiền quán chẳng những là tinh hoa của Phật Pháp mà còn có thể ứng dụng đa năng trong đời sống hằng ngày.
Pháp Hội Tháng Năm: BƯỚC CHÂN BẬC ĐẠI TỪ
Chủ Nhật 20-5
Chiêm nghiệm những bước chân kỳ vĩ của Đức Phật nhân mùa Khánh Đản Phật lịch 2556 qua 9 họa phẩm mô tả đấng Thiên Nhơn Chi Đạo Sư. Nghi thức cúng dường sẽ thể hiện bằng sự kết hợp năm truyền thống nghi lễ của Phật Giáo Á Châu.
Pháp Hội Tháng Sáu: HẠT GIỐNG HÒA BÌNH
Thứ Bảy và Chủ Nhật 23, 24-6
“Người Phật tử gieo trồng và trưởng dưỡng tinh thần hòa bình giữa thế giới hận thù bằng cách nào” Đó là nội dung được chia sẽ bởi nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng. Một quốc gia bị ngoại xâm với hơn 120 ngàn dân tị nạn lưu vong khắp nơi trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng chẳng những bảo lưu được truyền thống văn hóa đặc thù cho chính mình mà còn tích cực hoằng hóa Phật pháp và xã hội Tây Phương với những thành công đáng kể. Ngoài những bài nói chuyện còn có nhạc lễ và thiết lập mạn đà la.
Pháp Hội Tháng Bảy: TIN HỌC VÀ PHẬT HỌC
Thứ Bảy và Chủ Nhật 21,22 -7
Khoa học kỹ thuật ngày nay cho con người những phương tiện mà cách đây mấy mươi năm không ai có thể tượng tượng. Áp dụng những kỹ thuật đó vào việc học Phật là điều mang lại lợi ích lớn lao. Tổng Vụ Truyền Thông GHPGVNTN-HK phối hợp với chùa Pháp Luân giới thiệu những tận dụng kỹ thuật tin học cho việc đọc kinh sách, thiền tập và nghiên cứu Phật Pháp. Sáu chuyên gia sẽ trình bày những ứng dụng qua ba hệ thống IOS, Android, và Windows.
Pháp Hội Tháng Tám: HIẾU VÀ ĐẠO
Chủ Nhật 26-8
Đại lễ Vu Lan với ba bài thuyết trình về chữ Hiếu theo văn hóa, theo Phật Pháp và theo thực tế cuộc sống hôm nay. Nghi thức cầu thọ cho phụ mẫu hiện tiền và kỳ siêu cho cha mẹ quá vãng được hướng dẫn từng phần một. Chương trình thực hiện bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh cho những người nói tiếng Việt cũng như không hiểu tiếng Việt.
Pháp Hội Tháng Chín: TUỔI TRẺ VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM
Chủ Nhật 30-9
Tuổi trẻ hôm nay lớn lên với những hấp lực to lớn cuốn phăng khỏi những giá trị truyền thống gia đình. Hơn thế nữa những hướng dẫn về đời sống nội tâm ngày càng ít đi. Thay vào đó là những đam mê kỹ thuật khiến tâm hồn suy nghĩ một cách máy móc. Ba nhà giáo dục: một chuyên về sư phạm, một chuyên về thiền định, một chuyên về gia đình sẽ chủ trì chương trình hội thảo về đời sống tâm tinh của người trẻ hôm nay.
Pháp Hội Tháng Mười: ĐẠO PHẬT VÀ DÂN TỘC
Chủ Nhật 14-10
Dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm của chiến tranh và ngoại xâm. Đạo Phật Việt Nam gắn bó mật thiết với dân tộc trong mọi thời đại. Lịch sử đương đại của đất nước và đạo Phật để lại nhiều bài học quan trọng. Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức buổi hội thảo về Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Đệ Tứ Tăng Thống và những viễn kiến về đất nước. Sẽ có lễ cầu nguyện cho những người đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.
Pháp Hội Tháng Mười Một: TRUYỀN THỐNG TĂNG GIÀ
Chủ Nhật 25-11
Giáo đoàn Tăng lữ được Đức Phật thiết lập 26 thế kỷ qua là tổ chức tồn tại miên tục lâu đời nhất của nhân loại. Cơ chế tổ chức không giống bất cứ hình thái khác trong xã hội loài người. 2 bài thuyết trình giới thiệu chủ đề trong đại lễ kiết giới Sima chánh điện và lễ Tăng y Kathina là hình ảnh cụ thể của truyền thống tổ chức đặt trên những giá trị thiêng liêng.
Pháp Hội Tháng Mười Hai: HƯỚNG NGUYỆN
Chủ Nhật 16-12
Phật Giáo sẽ đi về đâu trong 50 tới dự trên những bài học lịch sử. Đó là nội dụng được thảo luận bởi 5 học giả Phật Giáo. Năm chủ đề: Sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo và chế độ thuộc địa, Phật giáo và chế độ cộng sản, Phật giáo và sự phát triển khoa học kỷ thuật, Sự phổ biến của thiền học Phật giáo trong thế kỷ 20.
Thông Báo Tết Nguyên Đán và Lễ Thượng Nguyên Chùa Pháp Luân
Nhân dịp xuân về kính chúc quí đồng hương, đồng bào Phật tử tân niên cát tường, hanh thông an lạc.
Tết Nguyên Đán Nhâm Thìn khởi đầu với đêm giao thừa tối Chủ Nhật 22 -1-2012 lúc 11:30 tối gồm khóa lễ cúng Tam Bảo, ba hồi chuông giao thừa, nghi thức cầu quốc thái dân an, đạo từ tân xuân, múa lân, thỉnh lộc. Ngày mùng một tết, mùng hai, mùng ba nhằm các ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư 23-25 tháng 1 có chương trình tụng kinh Tam bảo buổi sáng 11:30; tuyên sớ cầu nguyện tân niên vào buổi tối 7:00 sau đó là pháp thoại. Những bài pháp đầu năm sẽ gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).
Đại lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng năm nay được tổ chức vào Thứ Bảy 4-2-2012 với chương trình trọn đêm tu học. Vì là Rằm Magha đánh dấu hai sự kiện trọng đại: ngày Đức Thế Tôn tuyên thuyết tôn chỉ chánh pháp (ovadāpatimokkha) và cũng là ngày Đức Phật tuyên bố sự thiết lập ngôi nhà chánh pháp viên mãn nên đại lễ Rằm Tháng Giêng còn được gọi là Ngày Pháp Bảo (Dhamma Day). Đêm tu học bắt đầu lúc 7:30 tối với nghi thức cúng dường, tụng kinh lễ Tam Bảo, thắp nến nguyện cầu, nghi thức thọ trì hạnh đầu đà, hướng dẫn thiền tập tứ niệm xứ, sinh hoạt tu học chủ đề Truyền Thống Chánh Pháp. 5 giờ sáng hồi hướng hoàn mãn.
Pháp Hội Huyền Nghĩa Hoa Sen Trong Đạo Phật ngày Chủ Nhật 26-2-2012 là hoạt động kết hợp giữa Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân. Nội dung nói về những ý nghĩa hoa sen tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật giáo được thể hiện qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. Ca sĩ Gia Huy sẽ cống hiến phần âm nhạc giữa những pháp thoại. Cơm trưa do ban trai soạn chùa khoản đãi. Giá ủng hộ 30 mỹ kim.
Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc chùa Pháp Luân (713)433-4364
Nguyện cầu Phật lực cao vời gia hộ tất cả chúng ta
Trụ Trì
Tỳ kheo Giác Đẳng
Lá Thư Xuân
Xem Hình Ảnh Buổi Sinh Nhật Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác
Xuân lại về. Năm nay Tết Nguyên Đán đến sớm. Chỉ ba tuần lễ sau tết Dương Lịch. Có nhiều dấu hiệu cho thấy năm 2012 đến với viễn ảnh hứa hẹn sau thời gian kinh tế toàn cầu suy thoái. Xuân dưới mái chùa gợi nhắc ý nghĩa thạnh suy là thường sự. Cũng như thời tiết, tất cả thăng trầm vốn là luật tuần hoàn.
Xin gởi đến toàn thể qúi Phật tử xa gần lời chúc nguyện tân niên an lạc, cát tường, như ý.
Sinh nhật của Đại lão Hòa thượng Thích Hộ Giác và Tất niên được tổ chức vào chiều thứ Bảy 14-1-2012 bắt đầu lúc 5 giờ chiều. Năm nay sức khỏe của Ngài khả quan hơn năm trước. Ngài dành nhiều thì giờ hơn hiệu đính cho 4 tác phẩm lớn chưa in trong đó có Chú Giải Kinh Pháp Cú và Kinh Tứ Niệm Xứ. Tiệc Tất Niên và Sinh Nhật Đức Tăng Thống sẽ bắt đầu với nghi thức khai chung tại tháp chuông mới. Đây là công trình xây cất sau cùng của đề án trùng tu chùa được hoàn tất trong vòng 11 tháng của năm 2011. Tiếp theo sẽ là lễ khánh tuế và văn nghệ tất niên.
Tết Nguyên Đán khởi đầu với đêm giao thừa tối Chủ Nhật 22-1-2012 lúc 11:30 tối với khóa lễ cúng Tam Bảo, ba hồi chuông giao thừa, nghi thức cầu quốc thái dân an, đạo từ tân xuân, múa lân, thỉnh lộc. Ngày mùng một tết, mùng hai, mùng ba nhằm các ngày thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư 23-25 tháng 1 có chương trình tụng kinh Tam Bảo buổi sáng lúc 11:30, tuyên sớ cầu nguyện tân niên vào buổi tối 7:00 sau đó là pháp thoại. Những bài pháp đầu năm sẽ gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).
Đại Lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng năm nay được tổ chức vào Thứ Bảy 4-2-2012 với chương trình trọn đêm tu học. Vì là Rằm Magha đánh dấu hai sự kiện trọng đại: ngày Đức Thế Tôn tuyên thuyết tôn chỉ chánh pháp (ovadàpatimokka) và cũng là ngày Đức Phật tuyên bố sự thiết lập ngôi nhà chánh pháp viên mãn nên đại lễ Rằm Tháng Giêng còn được gọi là Ngày Pháp Bảo (Dhamma Day). Đêm tu học bắt đầu lúc 7:30 tối với nghi thức cúng dường, tụng kinh lễ Tam Bảo, thắp nến nguyện cầu, nghi thức thọ trì hạnh đầu đà, hướng dẫn thiền tập Tứ Niệm Xứ, sinh hoạt tu học chủ đề Truyền Thống Chánh Pháp. 5 giờ sáng hồi hướng hoàn mãn.
Pháp Hội Huyền Nghĩa Hoa Sen Trong Đạo Phật ngày Chủ Nhật 26-2-2012 là hoạt động kết hợp giữa Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân. Nội dung nói về những ý nghĩa liên hệ tới hoa sen tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật Giáo được thể qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. Ca sĩ Gia Huy sẽ cống hiến phần âm nhạc giữa những pháp thoại. Cơm trưa do ban trai soạn chùa khoản đãi. Giá ủng hộ 30 Mỹ kim.
Năm 2011 tuy là thời điểm suy thoái nhất của kinh tế Hoa Kỳ trong hơn nửa thế kỷ qua thế nhưng lại là năm Chùa Pháp Luân hoàn tất công trình trùng tu trong vòng 11 tháng kể từ Rằm Tháng Giêng. Nội viên chùa bây giờ được lót gạch còn lại duy nhất một câu sồi (oak tree) sừng sững giữa sân chùa. Khi chùa mới tạo mãi cây oak chỉ lớn cao khỏi đầu người khoảng một thước bây giờ tàn cao bóng cả phủ mát sân chùa. Có một ý nghĩa mà ít người biết tới là danh tánh của Đức Phật là Thích Ca (Sakya) có nghĩa là "cứng cáp như lõi cây sồi" do nhân giòng tộc khởi nghiệp hiển hách ở biên cương được vua cha khen ngợi. Giòng họ Thích Ca bắt đầu từ đây như được ghi trong kinh Ambattha- Trường Bộ. Cuộc đời là giòng cuộn chạy của bao nhiêu nhân duyên. Xin những thiện duyên kết tụ thành niềm vui vô tận cho tất cả chúng ta nhân dịp xuân về.
Lời sau cùng xin cầu nguyện cho một quê hương Việt Nam sớm tự do, thịnh trị.
Trụ Trì
Tỳ kheo Giác Đẳng
Chùa Pháp Luân
13913 S. Post Oak Rd,
Houston, TX 77045
Bản Đồ Đến Chùa Pháp Luân
Thành Tâm Cầu Nguyện.
Cố Tu Nữ Diệu Từ thân mẫu TT Giác Đẳng mãn phần ngày 8 tháng 8 năm 2010
được về cõi an lạc.
Xem
Tiếp. |
DVD Hành Hương Ấn Độ tháng 3 năm 2010
Lưu Ý: Tất cả 15 DVD đã được đưa vào trang web
Bấm vào hàng dưới để coi DVD
Mục Lục DVD Hành Hương Ấn Độ
Pháp Thoại
Cát Tường - Kinh Điềm Lành
TT Giác Đẳng giảng
Kinh Điềm Lành là một bài kinh được trong bộ Khuddaka Nikayatức là Tiểu Bộ Kinh và ở trong Sutta Nipata là Kinh Tập, một bài kinh được Chư Tăng sử dụng tụng trong các khoá lễ cầu an, bài kinh hết sức quan trọng - qúi vị vào trong rơom dieuphap hàng ngày thì qúi vị được nghe sáng sớm luôn luôn có để bài kinh tụng này. Có lẽ ảnh hưởng Pháp Sư Thông Kham người ta thường dịch là kinh Hạnh Phúc, ngay cả HT Nhất Hạnh cũng dịch là kinh Phước Đức, nhưng chính nghĩa Mangala có nghĩa là kinh Điềm Lành hay là những dấu hiệu cát tường, chữ mangala là dấu hiệu cát tường, chúng ta gọi là điềm báo trước, một tín hiệu tốt lành, kinh Điềm Lành là chữ dịch gọn nhất và thẳng nhất.
Có rất nhiều sự kiện xảy ra trong đời sống luôn luôn cho chúng ta những điều ngạc nhiên, nếu chúng ta biết được rằng những biến cố quan trọng như vậy xảy ra, trước đó đã có những dấu hiệu cho chúng ta hoặc biết hoặc không biết. Ví dụ như hồi còn nhỏ chúng tôi thường nghe nói rằng buổi sáng sớm nếu đi trên đường ruộng mà thấy sương mai dầy đặc thì hôm đó là một ngày nắng, hoặc giả là có lúc nào đó mà mối và kiến ở dưới đất lên nhiều thì sau đó là những ngày mưa tầm tã, những dấu hiệu như vậy thường rất chính xác ở trong thiên nhiên bởi vì những nhà nông và ông bà ngày xưa cũng thường quan sát.
Đã từ lâu con người thường mong mỏi là mình có thể biết được điều gì đó về tương lai và không có điều gì khiến cho chúng ta cảm thấy tin tưởng mạnh mẽ cho bằng những dấu hiệu, nhiều lúc những dấu hiệu này đã khiến cho chúng ta trở nên mê tín, ví dụ nhìn thấy con nhện sa trước mắt, nhện hoặc là nhện trắng hoặc là nhện đen, hay hoặc giả là nghe tiếng chim kêu, có hàng trăm ngàn cái dựa trên những thứ này mà người ta tiên đoán về tương lai, kể cả những giấc mơ.
Thời Đức Phật còn tại thế cũng giống như bây giờ và có lẽ mãi mãi về sau nhân loại vẫn luôn luôn ám ảnh về một câu hỏi rằng cái gì là dấu hiệu của sự tốt lành, cái gì là điềm lành và dĩ nhiên cùng với câu hỏi đó người ta cũng có hỏi câu cái gì là điềm bất tường. Khi mà nói về điềm bất tường và điềm cát tường thì ở trong nhân gian thì có trăm ngàn thứ, có nhiều khi những hình ảnh rất trái ngược, ví dụ như có người nói rằng đầu năm ra đường gặp đám ma là hên mà gặp đám cưới thì sui, có người nói nằm chiêm bao thấy nước là tiền vô, thấy phân là điều tốt lành, còn thấy những điều khác thì không tốt v.v...
Trong kinh ghi rằng lúc bấy giờ Đức Thế Tôn ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ, một vị Thiên đã đến đảnh lễ và bạch hỏi Đức Thế Tôn về một câu tương tựa như vầy:
"Chư Thiên và nhân loại thường suy nghĩ về hạnh phúc, Bạch Đức Thế Tôn xin Ngài vì lòng từ bi chỉ dạy cho cái gì là điềm lành tốt thượng."
Xem Tiếp.
Ý thức tiên khởi: đi tìm cái khác hơn
TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp , ngày 12 tháng 11 năm 2007
TT Giác Đẳng giảng : Bài thứ nhất ở đây nói về "ý thức tiên khởi," trong bài "ý thức tiên khởi" này gợi cho chúng ta một ý thức quan trọng, là tất cả cuộc hành trình tốt đẹp đều có một ý thức bắt đầu hết sức tốt đẹp. Ý thức đó là một ý thức quan trạng, một ý thức tỉnh táo, một ý thức cho chúng ta biết là mình phải đặt đúng vấn đề, đặt đúng chỗ. Đôi khi người ta rất dễ dàng để đưa ra ý kiến này và ý kiến khác. Nhưng đặt ý kiến chính xác để có được một câu trả lời chính xác, và từ đó khởi đi một hành trình chân thực, điều đó không phải dễ dàng. Chúng ta có hàng trăm ngàn thứ băng khoăn trong đời sống, nhưng đa phần những thứ băng khoăn đó nó vốn không có cái giá trị, mà nó chỉ là một mảnh rời của cuộc sống, và từ từ nó tan biến vào hư không mà nó không kết nối lại trở thành một cái gì đáng giá. Bởi vì nó đã không đến từ ý thức tiên khởi chân thật. Do vậy điều đầu tiên mà ông Woodward đã làm đó là ông trích một đoạn ở trong kinh Thánh Cầu, Đức Thế Tôn Ngài đã dạy các vị tỳ kheo là Ngài đã từng sống trong những ngày tháng nhung lụa êm ấm của cung vàng điện ngọc, và cái nhìn nào, ý nghĩ nào khiến cho Ngài lên đường , sự lên đường đó là một sự lên đường đi mà không có trở lại, một sự lên đường dẫn đến công thành thoả mãn. Và đời sống của vị Chánh Đẳng Chánh Giác như Đức Phật đã cho chúng ta rất nhiều điều để chiêm nghiệm, tất cả đều bắt đầu từ "ý thức tiên khởi" đó.
"Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, hãy tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già... cái không già... tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bi ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Rồi này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình."
Đoạn kinh vừa rồi được trích trong kinh Thánh Cầu thuộc Trung Bộ Kinh. Đức Phật trong một pháp thoại hàng ngày gửi đến Chư Tăng, Ngài đã nhắc lại một ý niệm tiên khởi mà Ngài đã có trong lòng khi còn là một vị hoàng tử. Ý niệm đó xác định một điều vô cùng quan trọng là: nếu cái gì mà mình đang có, mình đang là, nơi mình đang đứng, nó như vậy, nó vốn là cái gì mình không bằng lòng, không mãn nguyện và tự nó nó không có giá trị cao đẹp, thì tự nhiên chúng ta đi tìm một cái gì khác, và cái đó nó phải là cái gì tốt hơn, cái đó nó là cái gì ưu việt hơn, ít nhất nó là một giải pháp chớ nó không nên là một lẩn quẩn, nếu nó là một lẩn quẩn lập đi lập lại thì thưa qúi vị đúng là thật sự nó không đáng. Và nếu chúng ta đi tìm một cái như vậy bởi vì chúng ta không có được một sự hiểu biết là có cái tốt hơn để mà thay thế.
Xem Tiếp.
Tin Tức Phật Giáo
Trụ cột cổ xưa với hình ảnh Đức Phật tìm thấy tại Nalasopara
by Sandhya Nair, TNN, Jan 9, 2012
Minh Trí Trần Kim Long Việt dịch
MUMBAI, India -- Một trụ cột cổ xưa có chạm khắc một hình ảnh của Đức Phật Gautam đã được phát hiện gần một bảo tháp Phật giáo ở Nalasopara (W) hôm thứ Sáu. Bảo tháp này được tìm ra do cơ quan khảo cổ Ấn Độ (ASI).
Trụ cột này được phát hiện khi các công nhân đang đào đất để đặt một khu vườn, "người sáng lập Phật Vihar và tu sĩ Phật giáo Bikhoni Sangamitra nói. "Trụ cột là một bằng chứng Đức Phật Gautam đã viếng thăm làng Sopara ".
Sau khi phát hiện ra trụ cột, công việc đào bới đã ngưng. Trụ cột này sẽ được kiểm tra bởi các quan chức ASI và các sử gia trước khi được di chuyển đến nơi an toàn. Chính quyền quốc gia, cùng với Tổng công ty Vasai Virar (VVMC), đang làm việc chuyển đổi bảo tháp thành một nơi du lịch quốc tế. Bảo tháp đa dạng sẽ là nơi c ó một trung tâm thiền định, một viện bảo tàng và một nhà hát nhỏ, nơi những bộ phim về bảo tháp Phật giáo sẽ được trình chiếu.
Chữ khắc Ashokan đã được phát hiện từ Sopara vào những dịp trước đó. Trong quá trình khai quật trước đó, những tàn tích của một bảo tháp Phật giáo và một hòm đá lớn có chứa 8 tượng bằng đồng của Đức Phật từ thế kỷ thứ 8-9 đã được tìm thấy..
Tệ nạn tống tiền khách hành hương tại các đền chùa Trung quốc
by Lu Na, China.org.cn, January 12, 2012
Nguyễn Văn Hoà Việt dịch

Một số khách hành hương tham quan những ngôi đền chùa tại Trung quốc bị đe dọa khi từ chối trả số tiền lớn cho những cây nhang họ đốt.
Tại Quảng Tây, Trung Quốc. Một khách hành hương cho biết khi ông ta và gia đình đến thăm đền thờ Yanquan tại thành phố Côn Minh của tỉnh Vân Nam trong tháng 10 năm 2011 với ý nguyện cầu bình an và sức khỏe cho gia đình. Thay vì được lời chúc lành từ các vị tu sĩ thì ngược lại các vị tu sĩ đã yêu cầu ông trả số tiền 20.000 nhân dân tệ tương đương với US $ 3,167 cho việc thắp những nén nhang hoặc gia đình của ông sẽ bị thảm họa. Ông cho biết "Điều này là hoàn toàn giống như tống tiền của mafia."
Những ngôi chùa Phật giáo trong những năm gần đây đã trở thành cơ quan kinh tài kiếm được rất nhiều lợi nhuận do các khách du lịch sẵn sàng trả bất cứ điều gì để mua và đốt những nén nhang cầu cho may mắn. Nhà thầu nộp lệ phí rất lớn cho chính quyền địa phương để được phê duyệt sự sinh hoạt trong các đền thờ. Bên cạnh họ lập các cửa hàng bên trong khuôn viên chùa để bán nhang và các món nữ trang khác.
Sau khi nghe nhiều lời than phiền về những dịch vụ kinh tài này, một phóng viên từ tờ báo China Newsweek cải trang thành một khách du lịch và đã trải qua kinh nghiệm tương tự tại chùa Yanquan. Các nhà sư đầu tiên đề nghị 600 nhân dân tệ tương đương với 95 USD để được thắp nhang. Khi phóng viên nói rằng ông không thể đủ khả năng đó, thì vị sư hạ giá xuống là 200 nhân dân tệ tương đương 32 USD . Sau khi người phóng viên từ chối một lần nữa, một tu sĩ chỉ vào Tôn tượng Đức Phật và gắt gỏng: "Anh có đưa tiền hay không? Làm sao anh dám nói dối trước mặt Đức Phật? Hãy bước ra khỏi đây?"
Một nguồn tin thông báo với các phóng viên rằng chỉ có một trong các nhà sư trong chùa là thật. Những người khác đã được thuê tới, họ là những tay nghề cao trong việc đánh giá sự giàu có của khách dụ lịch bởi quần áo và xuất hiện của họ. Thay vào đó tiền lương, họ đã cắt giảm các khoản đóng góp. Hầu hết được kết hôn và có xe ô tô và nhà ở Côn Minh.
Trong tháng 7 năm 2001, hành chính ủy ban của làng Jinxing đã ký một hợp đồng với Cơ quan Du lịch Quốc tế Côn Minh để phát triển kinh doanh du lịch cho ngôi đền. Trong năm đã có hơn 200.000 khách du lịch và kiếm được trên 2 triệu nhân dân tệ tương đương với US $ 316,756 lợi nhuận.
Doanh thu du lịch hàng năm của tỉnh Vân Nam đạt 22,63 tỷ nhân dân tệ tương đương với 3,6 tỷ USD trong năm 2009, và số lượng khách du lịch đạt 31,15 triệu. Sau khi ngành du lịch phát triển nhanh chóng trên địa bàn tỉnh, lệ phí hợp đồng của ngôi đền cũng tăng lên đáng kể. Một người trong cuộc nói với phóng viên của tờ báo China Newsweek rằng một doanh nhân từ tỉnh Hồ Nam đã dành 7,2 triệu nhân dân tệ (1,1 triệu USD) mỗi năm để điều hành các ngôi chùa.
Tuy nhiên, sự kiếm tiền đã bắt đầu gặp khó khăn. Một nhân viên từ Đại Lý Du Lịch Hiệp hội của thành phố Côn Minh cho biết rằng cơ quan này đang nhận được rất nhiều cú điện thoại gọi khiếu nại hàng ngày về sự kiếm tiền này, họ đã yêu cầu các cơ quan du lịch loại bỏ các đền thờ Yanquan trong hành trình của họ.
Chính phủ trung ương đã phải thực hiện một số nỗ lực ngăn chặn các cơ quan tôn giáo trở thành chủ thể kinh tài. Cấm các điểm du lịch tôn giáo từ ép buộc, lôi kéo du khách phải trả tiền để đốt nhang. Tuy nhiên các hình phạt nhẹ số tiền phạt quá nhỏ bé so với lợi nhuận của họ tình trạng cũng sẽ không khá hơn.
Bấm vào đây để xem Tin Tức Phật Giáo Lưu Trữ
|
| |
|
|
|