Xuân bút by Toại Khanh

 TẾT CHƯA HẲN LÀ XUÂN

 

“Ngày nhà em pháo nổ…tôi cuộn mình trong chăn…như con sâu làm tổ..”

            Tôi đón xuân bằng mấy câu thơ thất tình đó của nhà thơ họ  Nguyễn. Pháo nào cũng thế thôi, pháo cưới hay pháo xuân mà chẳngdính dáng gì tới mình thì ta đây chỉ còn nước trùm mền mà ngủ. Xuân gì chứ, chung quanh là mấy người Mỹ chẳng biết gì về cái gọi là Tết Âm Lịch. Nếu tôi có rán mà vui xuân, thì cũng là với riêng mình. Mấy năm rồi, phải có người nhắc mới nhớ nổi đêm Giao Thừa. Nếu bây giờ có ai hỏi tôi những gì là vô duyên nhất đời, có lẽ tôi phải kể thêm chuyện ăn Tết Việt Nam ở mấy xứ Tây Phương. Tết gì mà như đám giỗ: Nhà ai cúng nấy biết. Hàng xóm chẳnghay biết gì. Thành phố tôi ở không đông người Việt, đã vậy rãi rác đó đây. Thế là xuân cứ quạnh.

            Buổi chiều cuối năm tôi ghé nhà sách Border để uống với riêng mình một tách cà-phê. Một chút nắng quái cuối ngày rọi vào góc nhà gắn kiếng, tôi ngó thấy  một cậu trẻ có lẽ người Việt, đang ngồi một mình ở đó. Thì ra cũng còn có một người giống tôi, một mình giữa chiều cuối năm trên đất khách và không nhớ mình vừa thêm một tuổi. Trên tay tôi lúc đó là một cuốn sách của ngài Achahn Chah mới lấy  từ kệ sách, chưa trả tiền.

              Cảm giác du xuân đơn độc và hình ảnh cậu Việt Nam đàng kia chợt trộn lại thành một mớ suy nghĩ rơi xuống trên trang sách trước mặt tôi. Một chút ngậm ngùi len lõi. Người Phật tử Việt Nam trong nước hay hải ngoại khi có dịp thường bảo Phật giáo Việt Nam có từ hai ngàn năm nay, nhưng so với người Tây Phương, chỉ riêng giới trẻ của họ thôi, chúng ta tuyệt không bì được họ số lượng những người học hiểu Phật giáo một cách nghiêm túc. Do nhiều nguyên nhân, tuổi trẻ Việt Nam không có nhu cầu và điều kiện tham cứu Phật Pháp. Ngoại trừ những tăng ni sinh trong các học viện Phật giáo, hầu hết Việt Nam hôm nay xa lạ với lời Phật, một suối nguồn tâm linh cho xứ Việt từ ngàn năm nay. Theo chỗ tôi biết, có không ít đại học hàng đầu thế giới ở khắp Âu Mỹ đều có phân khoa Phật học hẳn hoi. Người ta xem Phật học là một chuyên ngành tương đương với bao lĩnh vực khoa học, văn chương, xã hội khác. Đã thế, người Tây Phương có may mắn là chưa kịp bị ám khói bởi những thành kiến phân biệt qua những tên gọi bộ phái Phật giáo. Đại Thừa, Tiểu Thừa hay Kim Cang Thừa đều phải đọc cả. Gì họ cũng đọc, miễn là cần thiết cho học trình, cho kiến thức. Thế là một thanh niên Hà Lan hay thiếu nữ Hi Lạp nào đó ta gặp trên đường rất có thể kể tên vanh vách các bộ luận thư bằng tiếng Sanskrit hay Pali. Quê hương của họ không có một lịch sử Phật giáo lâu đời, nhưng họ đã đường hoàng bước vào kho tàng Phật pháp như những đứa con xa vừa trở về. Tuổi trẻ  Phật tử Việt Nam hình như không phải vậy. Họ hầu hết lạc lõng ngay trong khu vườn Phật pháp. Hôm nay thỉnh thoảng có người dành chút thời gian vào Paltalk nói là để trao đổi Phật pháp, mà suy cho cùng, chỉ để cãi chày cãi cối bằng vài chuyện nghe được từ những ngày xưa theo ngoại vào chùa lễ Phật. Phật tử Việt Nam hầu hết đều sợ đọc sách và đã vậy, trong số ít oi đọc được, hầu hết đều được khử trùng Tiểu Thừa thật cẩn thận. Nghĩ đến họ, tôi cứ nhớ những ngày xuân của tôi trên đất Mỹ. Nghe người ta kháo nhau là đêm nay Giao Thừa, mà lòng mình cứ ngỡ ngàng quá đỗi. Vì trong lòng và chung quanh có gì là xuân đâu chứ. Cũng như họ, bước vào chùa nghe tiếng kinh kệ, nghe mùi khói nhang mà cứ hồ nghi về cái gọi là Phật Pháp. Họ bơ vơ ở những đạo tràng, thậm chí tự thấy mình giống ngoại đạo ngay trước kim thân đức Phật.

        Nói khó nghe, tôi vốn gần như không tin chuyện bùa ngãi thư ếm, nhưng càng có tuổi thì lại càng có vẻ nhẹ dạ hơn. Tôi cứ ngờ   rằng Cao Biền của Tàu xưa và sau đó là cao nhân của hai xứ Chàm, Chân Lạp bị tổ tiên ta chiếm đất đã trù ếm con cháu Đại Việt đời đời phân hoá ở mọi lĩnh vực. Chính trị thì có Quốc Cộng, tôn giáo thì có đạo Chúa với đạo Phật, Đại Thừa với Tiểu Thừa. Mấy nhãn hiệu đó tàn phá thê thảm mọi nguồn nhân lực, trí lực của xứ sở. Lẽ ra nếu chỉ nghĩ đến lợi ích chúng sinh, hẹp hơn một chút là lợi ích dân tộc, thì giờ ta đã khá lắm rồi. Bao nhiêu năng lượng ta có được đều nhằm vào việc tự hủy. Nói thiệt, bối cảnh lịch sử Việt Nam cứ giống hệt án xứ Danh Sắc trong tiến trình tu Quán của truyền thống Pàli: Gì cũng trên đường tự băng hoại, tự phân hủy, sinh ra chỉ để diệt mất, ngó mãi sẽ thấy sợ (Bố Úy Tuệ- Bhayanàna), rồi thì chán phèo (Yếm Ố Tuệ- Nibbidànàna) và sau đó là kiếm đường mà dzọt lẹ (Đạo Lộ Trí- Patipadànàna), rồi thì ở một phương trời tự tại nào đó ngó lại mọi sự để nghe một cảm giác lãnh đạm hờ hững (Hành Xã Tuệ -Sankhàrupekkhànàna).

              Chúng ta đang từng ngày lập lại lịch sử buồn của người Do Thái xưa là ngàn năm luân lạc, luân lạc bằng phần xác và cả phần hồn. Chúng ta liên tục bỏ xứ mà đi, bỏ đi từ mọi nguồn cội. Thiên hạ có gì lạ cứ đổ hết lên dân Việt để thử nghiệm. Thấy kết quả rùng rợn quá thì họ phủi tay. Riêng ta tiếp tục giữ lại làm gia bảo để hại mình hại người. Chúng ta chỉ vì những nhãn hiệu mà tương tàn, đến cả một miếng tàu-hũ cũng là cái cớ để làm buồn nhau. Tôi là đứa dốt, chỉ bằng vào cái tuổi đời chớm già mà ngờ ngợ thấy ra vài chuyện đủ rớt nước mắt. Có thể có người giận tôi khi đọc thấy bài viết này, nhưng tôi tin họ cũng có lúc bệnh rồi già, bớt hăng tiết manh động để cùng chia sẽ mấy suy nghĩ đó.

            Xin gẩm mà xem, trăm năm là bao lâu mà toan tính thị phi. Tôi nhớ đúng mười năm trước từng viết câu này: Hãy từng ngày làm chuyện trăm năm, đừng đem trăm năm làm chuyện của một ngày. Thắng thua chỉ là chuyện ngày buổi. Nếu tin có kiếp sau thì ai cũng sẽ sống trách nhiệm hơn. Nếu thiếu niềm tin đó thì tối thiểu cũng xin tự hỏi nếu tiền nhân ai cũng chỉ nghĩ đến riêng mình thì thế giới hôm nay đang như thế nào.

                Xin đừng để mình phải cô đơn giữa các đạo tràng Phật pháp chỉ vì không chịu học hiểu Phật pháp. Mong thiên hạ đừng phải tiếp tục ly hương ngay trên đất mẹ và nguyện cầu đừng có ai chỉ thấy mùa đông giữa ba ngày xuân Đinh Hợi này. Trong lòng có thì gì cũng có, trong lòng không thì gì cũng không. Mong lắm thay !

 

---—Øv×–---