Ngày Xuân t́m hiểu về Tranh tết Đông Hồ- Hàng Trống. 

Theo phong tục cổ truyền, hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên đán, những tờ tranh in màu sắc tươi rói lại bày bán la liệt khắp nơi từ nông thôn đến thành thị, lên cả các vùng núi xa xôi làm cho hông khí hội xuân ngày Tết càng thêm vui, hồ hởi.         

Do nhu cầu tín ngưỡng và thú chơi tranh ngày Tết của nhân dân ngày càng tăng. Tranh vẽ tay không đủ đáp ứng, nên các nghệ nhân phải t́m cách in tranh thành nhiều bản. Từ đó tranh dân gian, tranh Tết truyền từ đời này sang đời khác bằng kỹ thuật in bản gỗ.         

Tranh khắc gỗ dân gian được sản xuất ở nhiều địa phương hoặc tập trung từng làng, hoặc (in từng hộ gia đ́nh in riêng). Nổi tiếng có: Đông Hồ (Hà Bắc), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây), Nam Hoành (Nghệ An), Śnh (Huê), tranh Nam bộ. tranh của các dân tộc miền núi. Từ nhiều quê tranh, nổi lên hai ḍng tranh có truyền thống lâu đời hơn cả là tiếng tranh Đông Hồ và ḍng tranh Hàng Trống. Sự khác biệt từ đề tài, chất liệu đến kỹ thuật khắc ván và in tranh đă tạo nên tính cách nghệ thuật riêng biệt giữa hai ḍng tranh.         

Tiêu biểu cho ḍng tranh Đông Hồ là loại tranh khắc gỗ in trên giấy "điệp" Tranh in cả nét lẫn mầu, ván gỗ của tranh khắc bằng những mũi đục c̣n là " vẻ" nét khắc đục thẳng đậm nét, đứng cạnh và to đậm. C̣n ván in tranh Hàng Trống lại khắc h́nh trên mặt gỗ bằng mũi tràng đục hay mũi dao nhọn đầu. Nét khắc cắt gọt vát cạnh chân thang, nhỏ nét, tinh tế.         

Tranh Đông Hồ màu in trước, nét in sau. Tờ tranh có bao nhiêu màu. In bấy nhiêu lần ván màu. In màu xong, cuối cùng mới in ván nét to đậm, mềm mại bao quanh lấy những mảng màu to bẹt, đồng bộ, tạo thành một đường viền làm ổn định h́nh trên tranh (ngoại lệ sau này cũng có tranh chỉ in nét, c̣n màu phẩm tô bằng bút lông).         

Giấy in tranh là giấy dó dai bền, trên mặt giấy quét phủ một lớp điệp tạo cho tờ giấy dó cứng xốp và nổi lên chất nghệ thuật đặc sắc của những thô điệp phát sáng lung linh hấp dẫn.          

Màu mực in chế từ những nguyên liệu cỏ cây, đất đá săn có trong thiên nhiên từ trên rừng dưới biển:

          - Màu đen xốp, êm nhẹ chế từ chất than lá tre khô.

          -Màu xanh mát chiết từ lá chàm màu vàng ấm lấy từ hoa hoè hay quả dành dành - màu đỏ tươi, chắc nịch từ bột sỏi son tán nhỏ hay đỏ vang từ chất gỗ vang trên rừng, chẻ nhỏ sắc kỹ cô đặc, c̣n màu trắng óng ánh th́ dùng vỏ trai điệp ở biển nghiền mịn.         

Khi in tranh, các màu pha trộn với hồ nếp, quấy kỹ thành chất màu quánh dính gọi là "thuốc cái" in tranh dễ ăn màu và chịu được ánh sáng không phai nhạt. Điều này rất quan trọng v́ tờ tranh ra đời chủ yếu phục vụ công dân. Tranh mua về không lồng kính đóng khung mà dán thẳng tờ tranh lên mặt tường, vách đất, liếp tre hay cánh cửa cổng nhà là những nơi tranh chịu tác động của mưa nắng nhiều.         

Tranh Hàng Trống là loại tranh khắc gỗ của một số gia đ́nh nghệ nhân sản xuất ở Hà Nội, hoặc ở một số địa phương làm tranh theo cùng một phong cách, chủ yếu là tranh thờ, mang ra Hà Nội bán tập trung ở phố Hàng Trống cùng với các đồ thờ khác         

Loại tranh này đă có từ lâu, c̣n tên "Tranh Hàng Trống" chỉ là cái tên gọi chung cho một loại tranh có cùng một kỹ thuật, phong cách mới đặt ra gần đây để phân biệt cho khỏi lẫn với đ̣ng tranh khắc gỗ sản xuất ở làng Đồng Hồ (Hà Bắc)'.         

Khác với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống thể hiên với một kỹ thuật nửa in nửa vẽ, nghĩa là tranh chỉ in ván nét lấy h́nh, c̣n màu là thuốc nước, tô bằng bút lông mềm rộng bản, một nửa ngọn bút chấm màu, cỡn nửa ngọn bút kia chấm nước lă, tô tranh theo kỹ thuật "vờn" màu, nên luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt, tinh tế như vậy màu sắc, đường nét của tranh rất uyển chuyển đáp ứng đ̣i hỏi thẩm mỹ của khách mua tranh nơi kẻ chợ.         

Tranh Hàng Trống in trên giấy dó bồi dầy hay giấy báo khổ rộng. Có những tranh bộ khổ to và dài, thường bồi dầy, hai đầu trên dưới lồng suốt trục để tiện treo, phù hợp với những ngôi nhà cao cửa rộng nơi thành thị.         

Cùng với các đề tài phải ánh sinh hoạt thường ngày, hay minh họa cổ tích. Tranh Hàng Trống c̣n nổi trội về thể loại tranh thờ, ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo với h́nh tượng tương đối b́nh dị, gần gũi với con người, mà thể lại khá hiện công phu không bao giờ thiếu sắc thái uy vệ, sùng kính (như tranh các Thánh mẫu, ông Hoàng, Bà Cô).         

Từ góc độ thẩm mỹ nh́n nhận về tranh dân gian Việt Nam, ta thấy toàn bộ tranh vẽ bằng một nét gói gọn mọi chi tiết của h́nh vào trong. Do đó tranh dân gian của ta mang yếu tố của nghệ thuật đồ họa. Nghệ nhân làm tranh đă dùng kỹ thuật khắc trên gỗ, nghĩa là làm bức vẽ nổi bật h́nh trên mặt gỗ, rồi qua h́nh khắc nổi trên đó để in tranh. Từ đó một bản khắc có chất lượng nghệ thuật tốt sẽ in ra nhiều bức tranh có giá trị như nhau phục vụ đông đảo nhân dân.         

Nghệ nhân xưa vẽ tranh theo quan niệm sống hơn giống. Do vậy, cảnh vật con người vẽ trong tranh tuy là h́nh ảnh thực trong đời sống, nhưng khi thể.hiện vào tranh, nghệ nhân đă tạo dựng bằng đường nét khái quát, hết sức gạn lọc thuần khiết cất sao sợi ư gây được rung cảm cho người xem hơn là vẽ đúng luật giống như thực nhưng lại khô cứng chẳng diễn tả truyền cảm được ǵ. Tranh dân gian nhỏ bé, nên bố cục trong tranh thường chắc gọn, chặt chẽ; nhưng cũng không kém phần linh hoạt phóng túng.

Có tranh lại bố cục phóng lăng táo bạo, vượt hẳn ra ngoài mọi khuôn khổ luật lệ mà vẩn đạt tính nghệ thuật cao về h́nh thức và nội dung.

Văn Hiến Việt Nam

Tranh Đông Hồ

Tranh Đông Hồ, hay tên đầy đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ, là một ḍng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xă Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).

Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Thơ Tú Xương về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu:

Đ́ đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om ṣm trên vách bức tranh gà

Thay đổi gần đây

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế với tranh Hàng Trống và tranh Đông Hồ

 

Tranh Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết cả. Tranh gần gũi c̣n v́ h́nh ảnh của nó đă đi vào thơ, văn trong chương tŕnh học. Ngày nay lệ mua tranh Đông Hồ treo ngày Tết đă mai một, làng tranh cũng thay đổi nhiều: làng Đông Hồ ngày nay có thêm nghề làm vàng mă. Nghề giấy dó ở làng Yên Thế (Bưởi, Tây Hồ) cũng đă không c̣n. Tuy thế tranh Đông Hồ đóng vai tṛ như một di sản văn hóa, một ḍng tranh dân gian không thể thiếu.

Theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ in ở thời điểm hiện tại thường không có màu sắc thắm như tranh cổ, nguyên nhân là người ta trộn màu trắng vào điệp quét giấy để bớt lượng điệp khiến giấy mất độ óng ánh và trở nên "thường", màu sắc sử dụng cũng chuyển sang loại màu công nghiệp, các bản khắc mới có bản không được tinh tế như bản cổ. Một điểm đáng lưu ư khác nữa là một số bản khắc đă đục bỏ phần chữ Hán (hoặc chữ Nôm) bên cạnh phần h́nh của tranh khiến tranh ít nhiều bị què cụt về mặt ư nghĩa. Nguyên nhân dẫn tới t́nh trạng này ước đoán là:

  1. Có một thời chữ Hán (và chữ Nôm) bị coi là phong kiến lạc hậu, liệt vào danh mục bài xích nên thợ in đục bỏ cho đỡ rách việc.
  2. Thế hệ sau này không phải ai cũng đọc và hiểu được các kư tự ấy nên tự ư bỏ đi.
  3. Cũng do không đọc hiểu được nên các ván khắc truyền lại "tam sao thất bản", đến mức c̣n lại các kư tự nhưng không đọc được ra chữ ǵ.

Về nội dung tranh, lưu ư rằng có sự gần gũi nhất định giữa nội dung tranh khắc gỗ màu của Việt Nam với của Trung Quốc, có những tranh mà cả hai nước đều có, song tranh Đông Hồ phát triển thành một hướng riêng tồn tại nhiều thế kỷ và được thừa nhận như ḍng tranh dân gian được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam.

 

Đi t́m vị thế mới cho tranh Đông Hồ


Sẽ có một ngày tranh Đông Hồ lại rực rỡ trên tường nhà mọi gia đ́nh đón Tết, trong tay các em bé như một món quà thông dụng... và tôi có thể ngồi vẽ những bức tranh Đông Hồ hiện đại...". Đó là mơ ước của họa sĩ Nguyễn Đăng Khoa, "hậu duệ" của một ḍng họ nổi tiếng trong ḍng tranh Đông Hồ.

Phục hưng tranh cũ

Trê kiện Cóc

Trong thời kỳ cực thịnh của ḿnh, những năm đầu thế kỷ trước đến 1930, tranh Đông Hồ đủ sức mang lại gia thế cho cả một ḍng họ. Cùng với cảnh "đổ tranh" tấp nập trên bến dưới thuyền xuôi đi khắp ngả từ 20 tháng Chạp hàng năm, tranh Đông Hồ gây dựng cơ ngơi và tên tuổi lâu đời cho họ Nguyễn Đăng, một trong những ḍng họ làm tranh chủ soái của làng Hồ.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm, người đầu tiên đứng ra nhận việc đưa tranh vào bảo tàng cho Nhà nước, nhớ lại: "Sinh thời, thân phụ tôi từng chứa đầy tận nóc hai gian nhà vài ngàn bản khắc in nét và mầu, tức là đủ cho khoảng ngàn tranh mẫu hoàn chỉnh. Đặc biệt, tranh Đông Hồ thiện về trực giác, và có phần cảm tính. Mỗi họ làm tranh lại có cách pha mầu, tạo nét, tiết chế khác nhau, làm nên phong cách riêng".

Thầy đồ Cóc

Cháu ba đời cụ Khiêm, cử nhân mỹ thuật Nguyễn Đăng Khoa tiếp tục câu chuyện của ḍng họ một cách kịch tính hơn. Năm 2000, mới tốt nghiệp khoa sơn mài trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, Khoa đă lang thang nhiều nơi: Bát Tràng, Phù Lăng, những ngôi chùa ngh́n tuổi ở Hà Tây, Bắc Ninh... trong vài năm để săn t́m bóng dáng hay một gợi ư của thành công.

Chính Khoa cũng không nhận ra lối đi ngay dưới chân: "Một đêm trăng trong chùa Bút Tháp sau vài tuần rượu suông, tôi bị họa sĩ Phan Cẩm Thượng "mắng" khá phũ, nhưng chân t́nh: Thế mà không nghĩ ra? C̣n phải t́m đường ở đâu ngoài tự đứng vững trên chính truyền thống gia đ́nh ḿnh?".

Khoa đă phải mất hai năm ṛng, vừa dè dặt nghe ngóng vừa âm thầm khởi động tài lực rồi mới dám quyết tâm chơi tới cùng với nghiệp: "Kể từ đó tôi vẫn mơ thấy những bức tranh "gà lợn"của ḍng họ Nguyễn Đăng. Không phải thứ in lưới và dùng bột mầu lem nhem vẫn bán đầy ở các khu du lịch. Mầu đỏ cam của son, vàng chói của hoa ḥe, xanh óng lá mạ non... lên hết sắc độ tự nhiên, tươi rói trên nền điệp trong veo trắng óng, với nét đen vừa mềm mại vừa chắc khỏe của than lá tre bồi hồ. Một tinh thần hết sức hồn nhiên, khỏe khoắn, biểu cảm một cách giản dị, không thiếu tính hài ḥa bay bổng. Bức tranh như vậy "trẻ" măi tới năm chục năm sau không suy suyển. Tôi mơ phục hưng ḍng tranh của họ Nguyễn Đăng rực rỡ như tinh thần của người xưa...".

"Đi cày" nuôi tranh

Cứ kiếm được bao nhiêu tiền ở Hà Nội, Khoa lại đem lên Thuận Thành lo chi phí cho việc

Đồng quê

khắc ván, làm mầu. Thứ than lá tre hiện nay chỉ c̣n duy nhất cụ Phiến, nghệ nhân làng Hồ đốt được. Pha chế ra sao cho nhuyễn, trong bất kỳ thời tiết hanh hay nồm cũng không bị chua, bị vón, th́ chỉ có Khoa nắm được bí quyết, thay mặt cho ḍng họ và những người có kinh nghiệm lâu đời nay đă thành người thiên cổ..

Hiện nay, hơn 70 đầu tranh Đông Hồ của họ Nguyễn Đăng đă được "phục sinh" rực rỡ từ bản mẫu gốc, vốn được cụ Khiêm "lo xa", mỗi lần đưa vào bảo tàng đều giữ lại cho gia đ́nh một bản. Tổng cộng hơn 200 tranh gốc loại này đang ở trong tay Khoa.

Tranh của Khoa và gia đ́nh hiện đang gửi bán tại một số Gallery để giữ những khách mua khó tính. Hằng năm, gia đ́nh thường phải bù lỗ cho việc làm tranh, một khoản không quá lớn đối với thu nhập mức ngang viên chức nhà nước, đủ để không khiến họ phải nản ḷng.

Khoa tâm sự: Việc đầu tiên tôi phải vào núi Thiên Thai, ngọn núi nổi tiếng trong thơ Hoàng Cầm mua gỗ thị làm ván khắc. Ba cây thị cổ thụ vừa người ôm, bạt thân vỏ, c̣n lại chừng khối rưỡi gỗ, đủ cho ngh́n bản khắc đủ kích cỡ. Loại bản khắc này để tới trăm năm không mối mọt. Ngoài ra, gia đ́nh tôi thừa hưởng từ đời các cụ khoảng vài trăm bản khắc như thế, đến nay vẫn c̣n nguyên vẹn có thể khai thác ngon lành. Mục tiêu là ǵn giữ nguyên vẹn "gia tài" cho đời sau. Có những ván đă khắc xong phải nghiến răng chẻ làm củi v́ chưa lên được tinh thần của người xưa".

T́nh trạng "đi cày nuôi tranh" theo Khoa chỉ có thể kéo dài nhiều nhất dăm năm. Sau đó, tranh Đông Hồ họ Nguyễn Đăng phải trở thành một thương hiệu thực sự bằng sự phục sinh mà ngoại trừ một vài gia đ́nh nghệ nhân làng Hồ có thể "ra tay" tương tự, không một thương nhân giàu tưởng tượng hay họa sĩ biết kinh doanh nào làm nổi.

Khoa nói: Chẳng có ǵ ngăn cản tôi nghĩ tới một ngày... Ngày đó tranh Đông Hồ lại rực rỡ trên những bức tường sơn của mọi gia đ́nh đón Tết, trong tay các em bé, như một món quà thông dụng và rẻ tiền bằng chính sức thu hút của ḿnh, vẻ đẹp chất phác, tươi nguyên, huy hoàng của truyền thống. Biết đâu lúc đó tôi lại có thể ngồi vẽ những bức tranh Đông Hồ hiện đại với đủ mầu vẻ của cuộc sống này như ông tôi hay cụ Chế, cụ Sần xưa, từng vẽ cảnh cầm cờ đỏ sao vàng đi cướp chính quyền những năm đầu cách mạng? C̣n hiện tại, chỉ dốc sức vào khôi phục hoàn hảo bộ tranh gốc của gia đ́nh, đưa nó vào vị trí không thay thế nổi của thị trường cũng đủ là một sự nghiệp".

Theo GĐ&XH